【#1】Amino Axit Tính Chất Hoá Học, Công Thức Cấu Tạo Và Bài Tập Về Amino Axit

– Amino axit là là những hợp chất hữu cơ tạp chức trong phân tử có chứa đồng thời 2 nhóm chức: nhóm amino (NH 2) và nhóm cacboxyl (COOH).

⇒ Amino axit đơn giản nhất là: H2N-COOH

2. Công thức cấu tạo của Amino axit

– Trong phân tử amino axit, nhóm NH 2 và nhóm COOH tương tác với nhau tạo ion lưỡng cực. Vì vậy amino axit kết tinh tồn tại ở dạng ion lưỡng cực

– Trong dung dịch, dạng ion lưỡng cực chuyển một phần nhỏ thành dạng phân tử

3. Cách gọi tên amino axit – danh pháp

a) Tên thay thế:

Ví dụ: H 2N-CH 2-COOH: axit aminoetanoic ; HOOC- 3NH 2, mẫu thử mà quỳ tím không màu là H 2NCH 2 COOH

Bài 3 trang 48 SGK hóa 12: Amino axit X có phần trăm khối lượng các nguyên tố C, H, N là 40,45%; 7,86%; 15,73%, còn lại là oxi, và công thức phân tử trùng với công thức đơn giản nhất. Xác định công thức cấu tạo và gọi tên của X.

⇔ x : y : z : t = 3 : 7 : 2 : 1

⇒ Công thức cấu tạo CH 3-CH(NH 2)-COOH Axit α-aminopropinoic (alanin)

Bài 4 trang 48 SGK hóa 12: Viết phương trình hóa học của các phản ứng giữa axit 2-aminopropanoic với NaOH, H 2SO 4; CH 3 OH khi có mặt khí HCl bão hòa.

Bài 5 trang 48 SGK hóa 12: Viết phương trình hóa học phản ứng trùng ngưng các amino axit sau:

a) Axit 7 – aminoheptanoic

b) Axit 10- aminođecanoic

– Axit 7-aminoheptanoic

– Axit 10-aminođecanoic

Bài 6 trang 48 SGK hóa 12: Este A được điều chế từ amino axit B (chỉ chứa C, H, N, O) và ancol metylic. Tỉ khối hơi của A so với H 2 là 44,5. Đốt cháy hoàn toàn 8,9 gam este A thu được 13,2 gam CO 2, 6,3 gam H 2O và 1,12 lít N 2(đo ở đktc). Xác định công thức phân tử và công thức cấu tạo của A và B.

– Cũng theo bài ra, ta có có:

– Mặt khác, ta có M = 89.n = 89 ⇒ n = 1

⇒ Công thức cấu tạo của B là H 2N-CH 2-COOH

【#2】Hoá Học 12 Bài 12 Luyện Tập Cấu Tạo Và Tính Chất Của Amin, Amino Axit Và Protein

Bài tập minh họa

Các nhận định sau đây Đúng hay Sai:

(1) Có thể tạo được tối đa 2 đipeptit từ phản ứng trùng ngưng hỗn hợp Alanin và Glyxin.

(2) Khác với axit axetic, axit aminoaxit có thể phản ứng với axit HCl và tham gia phản ứng trùng ngưng.

(3) Giống với axit axetic, aminoaxit có thể tác dụng với bazo tạo ra muối và nước.

(4) Axit axetic và axit α-amino glutaric có thể làm đổi màu quỳ tím thành đỏ.

(5) Thủy phân không hoàn toàn peptit: Gly-Phe-Tyr-Gly-Lys-Gly-Phe-Tyr có thể thu được 6 tripeptit có chứa Gly.

(6) Cho HNO 3 đặc vào ống nghiệm chứa anbumin thấy tạo dung dịch màu tím.

Các nhận xét đúng: (2); (3); (4)

(1) Sai vì có thể tạo ra tối đa 4 dipeptit

(5) Sai vì chỉ tạo 5 tripeptit (Gly-Phe-Tyr trùng nhau)

(6) Sai vì HNO 3 + anbumin → kết tủa màu vàng

Cho các dung dịch: axit glutamic, valin, lysin, alanin, etylamin, anilin. Dung dịch làm quỳ tím chuyển sang màu hồng, chuyển sang màu xanh, không đổi màu lần lượt là:

Màu hồng: axit glutamic

Màu xanh: Lysin; etylamin

Màu tím: Valin; alanin; anilin

Cho các phát biểu sau:

(1) Liên kết của nhóm CO với nhóm NH giữa 2 đơn vị (alpha)-amino axit được gọi là liên kết peptit.

(2) Anilin có tính bazo và làm xanh quì tím.

(3) Anilin có phản ứng với nước Brom dư tạo p-Bromanilin.

(4) Tất cả các amin đơn chức đều chứa 1 số lẻ nguyên tử H trong phân tử.

(5) Các amin khí có mùi tương tự amoniac, độc.

(6) Nhờ tính bazo, anilin tác dụng với dung dịch brom.

(7) Hợp chất H 2NCOOH là amino axit đơn giản nhất.

(8) Thêm vài giọt phenolphtalein vào dung dịch dimetylamin thấy xuất hiện màu xanh.

Các phát biểu sai là:

Anilin không có khả năng làm xanh quỳ tím

Anilin phản ứng với Brom dư tạo 2,4,6-tribrom anilin

Anilin tác dụng với Brom vì tính chất của vòng thơm

Axit amin đơn giản nhất là H 2NCH 2COOH

Thêm phenolphtalein vào dung dịch dimetylamin xuất hiện màu hồng vì dimetylamin có tính bazo mạnh

Cho 9,3 gam anilin tác dụng với brom dư thì thu được m gam kết tủa. Giá trị của ma là:

Bài 5:

X là một α – aminoaxit no chỉ chứa một nhóm – NH 2 và 1 nhóm – COOH. Cho 28,48 gam X tác dụng với dung dịch HCl dư thu được 40,16 gam muối. Tên gọi của X là:

Áp dụng Bảo toàn khối lượng hay Tăng giảm khối lượng đều được.

({m_{HCl}} + {m_{amin }} = {m_{muoi}} Rightarrow {n_{HCl}} = 0,32mol Rightarrow {M_X} = 28,48:0,32 = 89)

Bài 1:

Cho 20 gam hỗn hợp gồm 3 amin no, đơn chức, là đồng đẳng liên tiếp của nhau (được trộn theo tỉ lệ mol 1 : 10 : 5 và thứ tự phân tử khối tăng dần) tác dụng vừa đủ với dung dịch HCl, thu được 31,68 gam hỗn hợp muối. Công thức phân tử của ba amin là

Bảo toàn khối lượng :

Gọi X là chất có khối lượng phân tử nhỏ nhất trong 3 amin

⇒n HCl = 0,32 mol ⇒ n X = 0,02 mol ; n y = 0,2 mol ; n Z = 0,1 mol

Bài 2:

Cho 0,3 mol hỗn hợp X gồm H 2NC 3H 5(COOH) 2 (axit glutamic) và (H 2N) 2C 5H 9 COOH (lysin) và 400ml dung dịch HCl 0,1 M, thu được dung dịch Y. Biết Y phản ứng với vừa hết 800ml dung dịch NaOH 1M. Số mol lysin trong hỗn hợp X là:

X gồm: a mol axit glutamic: HOOC-(CH 2) 2-CH(NH 2)-COOH

(Rightarrow a + b = 0,3,mo{l^{{rm{ }}left( 1 right)}})

Xét cả quá trình:

({n_{ – COOH}} + {n_{HCl}} = {n_{NaOH}})

(Rightarrow {n_{COOH}} = 2a + b = 0,8 – 0,4 = 0,4mol{{rm{ }}^{(2)}})

Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình :

(left{ begin{array}{l} a + b = 0,3\ 2{rm{a + }}b = 0,4 end{array} right. Leftrightarrow left{ begin{array}{l} a = 0,1\ b = 0,2 end{array} right.)

Bài 3:

Đun nóng m gam hỗn hợp gồm a mol tetrapeptit mạch hở X và 2a mol tripeptit mạch hở Y với 600 ml dung dịch KOH 1M (vừa đủ). Sau khi các phản ứng kết thúc, cô cạn dung dịch thu được 72,48 gam muối khan của các amino axit đều có một nhóm -COOH và một nhóm -NH 2 trong phân tử. Giá trị của m là

Ta có a mol tetrapeptit mạch hở X và 2a mol tripeptit mạch hở Y

Có n OH = 0,6 mol ⇒ 0,6 = 4a + 3 × 2a = 10a ⇒ a = 0,06 mol

⇒ Khi phản ứng với OH thì tạo số mol nước bằng số mol X và Y (do mỗi chất chỉ còn 1 nhóm COOH)

⇒ n nước = a + 2a = 0,18 mol

⇒ Theo ĐLBTKL: m + m KOH = m muối + m(tiny H_2O)

⇒ m = 42,12 g

【#3】Men Vi Sinh Optibac Probiotics Xanh Anh 30 Gói Đặc Trị Táo Bón

Ngày cập nhật: 21/12/2020

Táo bón là một căn bệnh phổ biến có thể gặp ở cả người lớn và trẻ em. Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này là do đồ ăn của bé có quá nhiều chất đạm. Do lá gan của trẻ còn nhỏ, thành ruột lại non nớt nên nếu như bị dị ứng sữa hoặc rối loạn tiêu hóa sẽ gây ra hiện tượng này. Từ đó khiến cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng trở nên khó khăn, đồng thời cản trở đến khả năng điều tiết của hệ tiêu hóa. Nhất là ở những bé ít vận động mà ăn nhiều đồ ăn nhanh. Mặc dù táo bón không quá nguy hiểm nhưng nếu không điều trị nhanh và dứt điểm sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng:

– Khiến trẻ dễ gặp các bệnh về tiêu hóa như rối loạn đại tràng

– Gây ra tình trạng nứt hậu môn: Khi tình trạng này xảy ra thì trẻ sẽ bị đau khi đi vệ sinh. Vì lẽ đó mà trẻ cố nhịn cho đến khi có thể. Và điều này làm cho tình trạng bệnh ngày một nghiêm trọng hơn

– Gây rối loạn thần kinh: Tình trạng táo bón kéo dài làm bé trở nên cau có và mệt mỏi thậm chí chán ăn, không tập trung, …

– Trẻ dễ bị trĩ và sa trực tràng do phân ở quá lâu trong cơ thể gây ra cản trở của tuần hoàn máu. Nguy hiểm hơn là nó có thể dẫn tới ung thư trực tràng.

Để điều trị táo bón cho bé có thể dùng nhiều cách. Ví dụ như cho bé ăn nhiều rau xanh uống nhiều nước. Tuy nhiên, cách làm này vẫn chưa cải thiện được táo bón ở trẻ. Các mẹ cần bổ sung cho bé thêm những chất xơ hòa tan để chống táo bón hiệu quả hơn. Cách chữa trị táo bón cho trẻ được các bác sĩ tiêu hóa khuyên dùng nhiều nhất hiện nay là sử dụng sản phẩm ven vi sinh OptiBac Probiotics đặc trị táo bón.

– OptiBac Probiotics có chứa tới 5 tỷ vi khuẩn sống có lợi và các sợi Fructozo. OptiBac Probiotics đặc biệt chỉ chứa chủng men duy nhất là B. lactis BB-12 – Bifidobacteria có tác dụng hỗ trợ điều trị táo bón rất hiệu quả.

– Sản phẩm được làm từ thảo dược thiên nhiên nên rất giàu chất xơ (bổ sung tới 4g chất xơ/ngày) giúp nhuận tràng và đi ngoài ổn định.

– OptiBac Probiotics an toàn, dễ bổ sung cho trẻ.

– Thích hợp dùng cho những trẻ từ 1 tuổi trở lên, kể cả người già hay phụ nữ mang thai cũng dùng được.

Thành phần của men OptiBac Probiotics xanh lá trị táo bón là gì?

– Men trị táo bón Optibac Probiotics có chứa 5 tỷ vi khuẩn sống có lợi và sợi Fructozo.

– Trong các loại men vi sinh khác có nhiều chủng men, loại thì 5, có loại thì 7. Tuy nhiên Optibac này hoàn toàn khác biệt, chỉ có 1 chủng men duy nhất là B. lactis BB-12 – Bifidobacteria nên nó mới đem lại hiệu quả vượt trội.

– Sản phẩm giàu chất xơ, an toàn dễ uống, không xảy ra hiện tượng nhờn thuốc.

– Không có các chất bảo quản, chất phụ gia hay chất tạo mầu hoặc nấm men nào

Men vi sinh trị táo bón Optibac nhận được nhiều phản hồi tốt do hiệu quả mà nó đem lại

– Bạn nên dùng men trị táo bón OptiBac Probiotics vào lúc trước khi ăn bữa sáng. Bởi vì axit trong dạ dày lúc này ở mức 4-5 độ pH. Khi đó các vi khuẩn có lợi Probiotics hoàn toàn có thể sống tốt và kích hoạt enzim trong dạ dày; nhờ đó mà tiêu hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn, kích thích trẻ ăn ngon miệng hơn. Các enzim được kích hoạt từ men tiêu hóa Optibac có tác dụng cắt các mảng thực phẩm lớn thành các mảnh nhỏ, từ đó dần dần chuyển hóa thành các phần tử dinh dưỡng ví dụ như đường đơn, axit amin hay axit béo để cơ thể hấp thu được dễ dàng. Men tiêu hóa được ví như một công cụ giúp cơ thể lấy lại sức lực trong lúc yếu ớt hay chưa đủ sức để tiêu hóa thức ăn.

Hướng dẫn sử dụng men vi sinh OptiBac Probiotics đúng cách

– Sử dụng 1 đến 4 gói tuỳ mức độ nặng hay nhẹ. Nên bắt đầu dùng 1 gói và tăng dần khi cần thiết.

– Dùng tốt nhất là vào bữa sáng

– Khi uống uống cùng với nhiều nước đun sôi để nguội, không nên uống OptiBac Probiotics cùng nước ngọt hay nước ngọt có ga. Cũng không được uống cùng nước có nhiệt độ cao.

– Có thể sử dụng men vi sinh Optibac hàng ngày mà không lo gây phụ thuộc. Tuyệt đối không dùng men khi đang dùng kháng sinh.

– Trong trường hợp đi phân sống, bị tiêu chảy hay đi đại tiện có máu, nôn ra máu thì không được sử dụng men si vinh OptiBac Probiotics

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì men vi sinh (hay còn gọi là Probiotic) là các chế phẩm tổng hợp có tác dụng bổ sung các vi khuẩn có lợi nhằm tạo nên sự cân bằng của các vi khuẩn trong hệ tiêu hó, đồng thời ức chế các vi khuẩn có hại gây bệnh và tiết độc tố. Người ta thường dùng men tiêu hóa trong trường hợp bị rối loạn tiêu hóa do loạn khuẩn đường ruột với biểu hiện là các triệu chứng biếng ăn, bị tiêu chảy, nôn trớ hay đầy hơi, phân sống hoặc táo bón…

OptiBac Probiotics là sản phẩm men vi sinh được tin dùng nhất tại Anh hiện nay

OptiBac Probiotics tồn tại kể từ năm 2004 tại Anh và do công ty Wren Laboratories Ltd sản xuất. Người sáng lập ra công ty này chính là 1 dược sĩ với 35 năm kinh nghiệm. Tại Anh, Optibac là thương hiệu số 1 về men vi sinh và đã nhận được nhiều giải thưởng do các hiệp hội hay nhà nước bình chọn.

Một số lưu ý khi sử dụng men vi sinh OptiBac Probiotics

– Không sử dụng sản phẩm khi đang dùng kháng sinh

– Không dùng trong các trường hợp bị tiêu chảy, trường hợp đi đại tiện có máu hay nôn ra máu, …

– Lưu ý kết quả có thể da dạng tùy theo cơ địa của mỗi trẻ.

Trẻ nhỏ hệ tiêu hóa còn non yếu, dễ gặp phải các vấn đề. Vì thế mỗi gia đình nên có sẵn men vi sinh đặc trị tiêu hóa OptiBac Probiotics để cho con sử dụng.

Nếu muốn mua OptiBac Probiotics, bạn nên tìm đến các địa chỉ tin cậy. Chúng tôi cam kết cung cấp các sản phẩm men vi sinh OptiBac Probiotics cho bé chính hãng 100%. Sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo. Để mua hàng bạn có thể đặt online hoặc qua trực tiếp địa chỉ:

Bạn nên mua men vi sinh OptiBac Probiotics tại các địa chỉ uy tín và đảm bảo chất lượng

– HN: 3 ngõ 9 đường 800A, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội

Chi tiết xin liên hệ Hotline: 0964243223

【#4】Tìm Hiểu Công Dụng Của Quả Câu Kỷ Tử Với Sức Khỏe

Câu kỷ tử có tác dụng giúp giảm cân, phục hồi hệ tiêu hóa, dùng quả câu kỷ tử để kiềm chế lão hóa da và giảm nếp nhăn da mặt cực kỳ hiệu quả Đăng ngày 1152 lượt xem.

Quả Câu kỷ tử hay còn gọi là Goji là trái có hình dạng tròn dài, trái bé, màu cam tươi, có tính lành, vị ngọt chua.

Người theo đạo Taoiste thường gọi quả Câu kỷ tử là “quả trường sinh” bởi nhiều công hiệu hữu hiệu của nó. Thực tế là quả cây Câu kỷ tử từ lúc xưa đã được sử dụng trong Đông Y như là một thuốc chữa bệnh bởi nó có rất nhiều dưỡng chất, khoáng chất, vitamin C và các axít amin.

Đặc biệt quả Câu kỷ tử có rất nhiều chất carotenoide, polysaccharides ngăn lão hóa da công hiệu.

Công dụng của quả Câu kỷ tử

1. Quả câu kỷ tử có công dụng giúp phục hồi hệ tiêu hóa khỏe mạnh

Quả Goji được biết đến là một loại quả mọng có chứa rất nhiều khoáng chất và hơn 20 loại axit amin. Theo nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số axit amin có trong trái Goji có tác dụng phục hồi hệ tiêu hóa, giúp hiệu tiêu hóa được hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn.

2. Quả câu kỷ tử có tác dụng giúp giảm cân hiệu quả

Quả Câu kỷ tử giúp kiểm soát chế độ thèm ăn, hạ đường huyết, chứa nhiều khoáng chất giúp điều hòa lượng đường huyết, bảo toàn khối lượng cơ bắp trên cơ thể.

Trong quả kỷ tử có chứa hàm lượng Caroten, Vitamin B1, B6, C cao nên giúp chuyển hóa mỡ thừa và giải phóng năng lượng là công thức giúp giảm cân hiệu quả và an toàn.

3. Quả câu kỷ tử có công dụng làm đẹp và chống lão hóa da

Chiết xuất từ quả Câu kỷ tử mang đến 20 loại axit amin, vitamin C, E, và B giúp nuôi dưỡng tái tạo các tế bào da, chống lão hóa da hiệu quả.

Đồng thời chiết xuất từ câu kỷ tử còn có tác dụng thúc đẩy quá trình sản xuất collagen và elastin giúp phục hồi cấu trúc nền của da, loại bỏ và ngăn ngừa sự xuất hiện của nếp nhăn.

Để chăm sóc làn da của bạn hiệu quả bạn có thể tham khảo sản phẩm kem Goji với thành phần chính là quả câu kỷ tử kết hợp với các thành phần chiết xuất từ tinh dầu hạt nho, tinh dầu jojoba… giúp phục hổi làn da lão hóa hiệu quả.

Đăng ký tư vấn sử dụng Goji Cream

nhanh đạt hiệu quả cao

Cám ơn Quý khách đã tín nhiệm Chuẩn Rồi!

Chuyên gia Goji Cream sẽ gọi tư vấn miễn phí

【#5】4 Cách Ủ, Gội Đầu Bằng Giấm Táo Ngăn Ngừa Tóc Rụng Hiệu Quả

Gội đầu bằng giấm táo được xem là phương pháp dân gian giúp giảm tình trạng rụng tóc, cung cấp lượng lớn dưỡng chất cần thiết nuôi khỏe da đầu, sợi tóc. Từ đó, bạn sẽ sớm sở hữu mái tóc bồng bềnh, óng mượt và dày dặn. Nếu bạn chưa biết cách chăm sóc tóc bằng giấm táo như thế nào, đừng bỏ qua nội dung bài viết sau đây!

I/ Gội đầu bằng giấm táo có tác dụng chữa rụng tóc không?

Gội đầu bằng giấm táo được review trên Webtretho là có công dụng chữa bệnh rụng tóc khá hiệu quả tại nhà, tiết kiệm chi phí.

Trong giấm táo có thành phần axit axetic có khả năng loại bỏ dần các cặn chất tích tụ của các sản phẩm tạo kiểu tóc.

Từ đó, da đầu của bạn sẽ được nuôi khỏe giúp chân nang tóc thông thoáng, kích thích sự phát triển ngày một nhiều hơn.

Phương pháp gội đầu bằng giấm táo đã được ứng dụng trong Đông y cổ truyền với những hiệu quả nhất định đối với trường hợp mới rụng tóc, tóc gãy, sợi yếu cấp độ nhẹ.

II/ Hướng dẫn cách gội đầu bằng dấm táo

  • Bước 1: Thực hiện gội đầu bằng dầu gội thông thường để loại bỏ sạch các cặn chất, bã nhờn trên da đầu.
  • Bước 2: Pha 2 thìa nước giấm táo nguyên chất vào 1 bát nước, hòa đều để nước và giấm lẫn với nhau.
  • Bước 3: Xả tóc với nước giấm táo, dùng tay massage nhẹ nhàng để các chất nhanh đi sâu vào nang tóc, kích thích nuôi khỏe chúng.
  • Bước 4: Sau khi massage khoang 5 phút, bạn tiếp tục gội sạch bằng nước mát rồi lau khô.

Bạn có thể áp dụng công thức gội đầu với giấm táo hàng tuần để sớm cải thiện độ dày của mái tóc, giúp da đầu khỏe mạnh hơn.

GỘI ĐẦU BẰNG GIẤM TÁO KHÔNG CẢI THIỆN ĐƯỢC TÌNH HÌNH?

Gửi hình ảnh của bạn để chuyên gia cung cấp giải pháp TỐT HƠN!!

III/ Các công thức mặt nạ dưỡng tóc bằng dấm táo

Bên cạnh phương pháp gội đầu bằng giấm táo, bạn có thể kích thích tóc mọc nhiều, mọc nhanh bằng cách ủ mặt nạ dưỡng tự chế tại nhà.

1- Dưỡng tóc bằng giấm táo với mật ong

Mật ong ngoài tác dụng tốt cho làn da, đây còn là nguyên liệu được nhiều chị em đặc biệt yêu thích.

Thành phần chính của mật ong là các axit amin, chất béo hữu cơ, nhóm Vitamin B, C và hàng loạt các khoáng chất có tác dụng kích thích sự phát triển của nang tóc.

Đồng thời, sử dụng mật ong kết hợp với giấm táo còn giúp bạn có hỗn hợp dưỡng da đầu cực tốt, kháng khuẩn, ngừa vảy gàu, ngứa,..

  • Chuẩn bị 1 chén sạch sau đó trộn nước giấm táo nguyên chất cùng mật ong với tỷ lệ bằng nhau.
  • Sau khi gội đầu bằng giấm táo, bạn bôi hỗn hợp trên lên da đầu và toàn bộ đuôi tóc.
  • Chờ mặt nạ phát huy tác dụng trong 15 phút thì xả sạch lại với nước.

2- Cải thiện độ dày mái tóc bằng mặt nạ ủ giấm táo và sữa ong chúa

Cũng giống như mật ong, sữa ong chúa là chất tạo ngọt tự nhiên có thành phần quý tốt cho sự phát triển chắc khỏe của mái tóc.

Thành phần Biotin trong sữa ong chúa có khả năng kích thích nang tóc phát triển mạnh, từ đó giảm dần khả năng rụng tóc của bạn.

Bên cạnh đó, nhóm Vitamin B2, B6, protein, khoáng chất cũng góp phần giữ mái tóc suôn mượt, mềm mại hơn.

  • Làm ẩm tóc bằng nước ấm rồi bôi hỗn hợp giấm táo kết hợp sữa ong chúa lên trên.
  • Ủ hợp chất trong vòng 10 phút thì bạn vệ sinh lại cho sạch sẽ.

Quá trình ủ tóc bằng giấm táo, bạn vẫn có thể sử dụng dầu gội thông thường hoặc bằng giấm táo để làm sạch tóc.

3- Ủ tóc bằng giấm táo trị chấy và ngừa rụng tóc

Bên cạnh công dụng ngăn chặn tóc gãy rụng, giấm táo còn là mẹo chữa chấy được áp dụng trong dân gian.

Axit có trong giấm có thể giúp phân hủy chất kết dính khiến trứng chấy bám chắc trên sợi tóc.

Khi đó, ủ tóc bằng giấm táo sẽ vừa giúp bạn tiêu diệt mầm mống của chấy và làm tóc suôn mượt, chắc khỏe hơn.

  • Sau khi gội đầu, bạn dùng khăn thấm bớt nước đi.
  • Pha chế hỗn hợp ủ tóc bao gồm: giấm táo, dầu oliu, 1 cốc nước ấm, khuấy đều cho các chất hòa lẫn với nhau.
  • Dội trực tiếp hỗn hợp lên da đầu, xoa nhẹ nhàng 2 phút để các chất ngấm đều hơn.
  • Đội mũ chụp đầu lên, ủ tóc trong 10 phút.
  • Xả sạch lại tóc sau khi ủ tóc xong.

Trong quá trình ủ xong bạn hãy dùng lược chải chấy có răng khít để loại bỏ trứng chấy ra khỏi sợi tóc.

4- Làm đẹp tóc với giấm táo và tinh dầu trà

Gội đầu vằng giấm táo và sử dụng thêm tinh dầu tràm trà sẽ giúp bạn sớm cải thiện tình trạng tóc rụng nhiều, tóc mỏng cấp độ nhẹ.

Nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, hợp chất chống oxy hóa của tinh dầu tràm trà sẽ giúp bạn nuôi khỏe nang tóc, da đầu. Từ đó mái tóc của bạn sẽ dày hơn, óng mượt, khỏe đẹp.

  • Pha loãng tinh dầu tràm trà cùng giấm táo nguyên chất cho vào chén sạch.
  • Bạn làm ướt tóc sau đó bôi hợp chất trên lên da đầu.
  • Thoa nhẹ nhàng bằng đầu ngón tay cho đến khi dưỡng chất thẩm thấu sâu.
  • Dùng nước xả nhẹ nhàng để làm sạch tóc 1 lần nữa.

TÓC VẪN RỤNG NHIỀU KỂ CẢ SỬ DỤNG GIẤM TÁO Ủ THƯỜNG XUYÊN?

IV/ Lưu ý khi gội đầu bằng giấm táo tại nhà đúng cách

Chăm sóc tóc bằng giấm táo tuy đơn giản nhưng bạn cần có phương pháp sử dụng hợp lý để sớm đạt được kết quả như mong muốn.

Không chỉ giấm táo mà bất cứ nguyên liệu tự nhiên nào bạn cũng cần có cách dùng đúng, hạn chế lạm dụng để tránh ảnh hưởng tới sức khỏe da đầu và nang tóc.

  • Sử dụng giấm táo gội đầu thường xuyên, không đứt quãng cho đến khi nhận thấy kết quả thay đổi.
  • Không quá lạm dụng gội đầu bằng giấm táo.
  • Trường hợp da đầu có mụn mủ, vết thương hở thì bạn nên tạm ngừng sử dụng giấm táo.
  • Giấm táo có thành phần axit có thể gây kích ứng cho 1 số da đầu nhạy cảm, bạn nên cẩn thận trước khi lựa chọn sử dụng phương pháp này để chữa rụng tóc.
  • Bệnh nhân bị nấm đầu hoặc 1 số bệnh da liễu khác cũng không nên sử dụng giấm táo trị rụng tóc.
  • Lưu ý cần xả sạch tóc và da đầu sau khi bôi giấm táo để hạn chế các tác dụng phụ không mong muốn có thể xảy ra.
  • Trong quá trình sử dụng nếu nhận thấy có dấu hiệu bất thường trên da đầu, bạn hãy tạm ngưng sử dụng và tới cơ sở da liễu thăm khám cụ thể.

Ngoài ra, việc gội đầu hoặc dưỡng tóc bằng giấm táo chỉ có hiệu quả với trường hợp tóc rụng ít, không phải là bệnh lý.

Nếu bạn sử dụng giấm táo không nhận thấy kết quả thay đổi tích cực trên mái tóc của mình sau 2 tháng, hãy chuyển sang phương pháp khác để cải thiện tình trạng của mình.

Bạn cũng có thể thay thế giấm táo bằng giấm gạo ăn hàng ngày. Tuy nhiên kết quả ngăn ngừa rụng tóc bằng giấm ăn không thể tốt bằng giấm táo.

V/ Tóc rụng nhiều có thể khắc phục bằng giấm táo không?

Có thể nói, cơ chế của phương pháp gội đầu bằng giấm táo là bổ sung 1 lượng dưỡng chất cho da đầu để nhằm cải thiện phần nào tình trạng tóc gãy rụng cấp độ nhẹ.

Các chuyên gia của Bệnh viện thẩm mỹ Kangnam khẳng định. Chữa rụng tóc bằng giấm táo là phương pháp dân gian, không mang lại hiệu quả cao và không phải ai cũng phù hợp với phương pháp này.

Hiện nay, trên Thế giới hiện đã nghiên cứu và phát triển thành công công nghệ sinh học kích thích phát triển nang tóc 1 cách tự nhiên, ngăn ngừa rụng lại.

Bệnh viện thẩm mỹ Kangnam hiện cũng là đơn vị đi đầu áp dụng công nghệ này cho khách hàng nhằm mang tới hiệu quả thẩm mỹ cao nhất sau khi sử dụng dịch vụ.

ƯU ĐIỂM CHỮA RỤNG TÓC TẠI KANGNAM

  • Chữa rụng tóc bằng phương pháp cấy tóc bằng công nghệ của khách hàng nên đảm bảo độ tương thích với cơ thể lên đến 99%.
  • Quy trình thực hiện an toàn theo quy định của Bộ y tế.
  • Đảm bảo cải thiện được toàn diện tình trạng tóc rụng nhiều, chân tóc yếu, tóc mọc ít.
  • Không đau, khó chịu, kiêng khem trong quá trình điều trị.

Đặt lịch khám tổng quát cùng chuyên gia hàng đầu để có giải pháp TỐT NHẤT cho mình!!!

【#6】Nêu Đặc Điểm Khác Nhau Về Cấu Tạo Giữa Adn Và Arn

Câu 1:

+ Bộ NST của mỗi loài đặc trưng vởi hình dạng và số lượng

+ Cấu trúc của 1 NST điển hình

Câu 2:

+ Trong cấu trúc dân số tỉ lệ nam/nữ xấp xỉ 1 : 1 vì:

Sơ đồ lai

P: XX x XY

Gp: X x (X : Y)

F1: 1XX : 1XY

+ Nói người mẹ quyết định giới tính của con là sai vì: người mẹ khi giảm phân chỉ cho 1 giao tử X, sẽ kết hợp với giao tử X hoặc Y mà người bố tạo ra trong quá trình giảm phân.

Giới tính được quyết đinh bằng khi giao tử ở mẹ kết hợp với giao tử nào của bố

+ Nếu kết hợp với giao tử X: sinh con có KG XX con gái

+ Nếu kết hợp với giao tử Y: sinh con có KG XY con trai

Câu 3: Điểm khác nhau giữa ADN và ARN

– Đều là các axit Nucleic có cấu trúc đa phân, đơn phân là các Nucleotit

– Đều được cấu tạo từ các nguyên tố hóa học : C, H, O, N, P

– Đều có bốn loại Nucleotit trong đó có ba loại Nu giống nhau là A, G, X

– Giữa các đơn phân đều có liên kết hóa học nối lại thành mạch

– Đều có chức năng trong quá trình tổng hợp protein đề truyền đạt thông tin di truyền

* Khác nhau

– ADN

+ Có hai mạch xoắn đều quanh một trục

+ Phân tử ADN có khối lượng và kích thước lớn hơn phân tử ARN

+ Nu ADN có 4 loại A, T, G, X

– ARN

+ Có cấu trúc gồm một mạch đơn

+ Có khối lượng và kích thước nhỏ hơn ADN

+ Nu ARN có 4 loại A, U, G, X

Câu 4: a. Em xem trong SGK có nha!

b. ARN: – T – A – X – G – A – X – G – A – X – A –

Bổ sung: – A – U – G – X – U – G – X – U – G – U –

Câu 5:

a. Chức năng của ARN

ARN thông tin: truyền đạt thông tin di truyền từ ADN tới protein

ARN vận chuyển: vận chuyển axit amin tương ứng tới riboxom trong quá trình tổng hợp protein

ARN riboxom: thành phần cấu tạo nên riboxom

b. em viết thiếu câu hỏi nha!

【#7】Chuyên Đề: Cơ Chế Di Truyền Và Biến Dị I. Cấu Trúc Của Chương

CHUYÊN ĐỀ: CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ

I. CẤU TRÚC CỦA CHƯƠNG: gồm 2 phần

1. Cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử: gồm các quá trình:

– Tự nhân đôi AND (tự sao)

– Phiên mã (tổng hợp ARN)

– Dịch mã (sinh T/h Pr)

– Đột biến gen

– Đột biến cấu trúc NST

– Đột biến số lượng NST

II. NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN ĐẠT:

1. Gen, mã di truyền, cơ chế tự x 2 ADN

a. Mức độ biết, thông hiểu:

– Khái niệm về gen, cấu trúc chung của gen?

– Thế nào là mã di truyền, các đặc điểm của mã di truyền, số lượng mã di truyền, số lượng mã di truyền mã hóa aa, số lượng mã di truyền không mã hóa â, là những mã nào?

– Quá trình tự nhân đội AND: + Diễn ra ở đâu trong TB?

+ Các loại enzim tham gia, chức năng của từng loại enzim là gì?

+ Cơ chế tự nhân đôi?

+ Quá trình tự x 2 diễn ra theo nguyên tắc nào?

+ Kết quả?

+ Ý nghĩa?

b. Mức độ vận dụng – vận dụng cao

– Cấu trúc không phân mảnh của gen ở sinh vật nhân sơ, phân mảnh của gen ở sinh vật nhân thực có ý nghĩa gì?

– Tại sao mã di truyền là mã bộ 3?

– Các mã di truyền cùng mã hóa cho 1 loại axitamin (mã thái hóa) có đặc điểm gì (thường gần giống nhau, chỉ khác nhau ở nu thứ 3) ?

– Quá trình tự nhân đôi cần các nu tự do loại nào? tại sao?

– Tai sao trên mỗi chạc chữ Y chỉ có 1 mạch tổng hợp liên tục, còn mạch kia tổng hợp gián đoạn?

– Quá trình tự x2 của virus diễn ra theo nguyên tắc nào?

– Đặc điểm khác biệt giữ nhân đội AND ở Sv nhân sơ và sinh vật nhân thực là gì?

+ Chiều dài, khối lượng

+ Số liên kết hiđro

+ Tổng số nu, số nu từng loại môi trường, nội bài cc

+ Số liên kết photphođieste (lk cộng hóa trị), chú ý:

– Ở phân tử ADN mạch kép, thẳng

– Cấu trúc của từng loại ARN và chức năng?

– Diễn ra ở đâu trong tế bào, cần các nu tự do loại nào?

– Các loại enzim tham gia? chức năng?

– Cơ chế phiên mã? Chiều mả mạch khuôn tổng hợp ARN? chiều tổng hợp ARN?

– Sự khác nhau giữa phiên mã ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực?

– Phiên mã diễn ra theo nguyên tắc nào?

– Kết quả của quá trình phiên mã?

– Phân tử ARN được tổng hợp trong nhân, trước khi ra tế bào chất để thực hiện chức năng cần được biến đổi như thế nào?

b. Mức vận dụng, vận dụng cao

– Phân biệt được sự khác nhau về cấu trúc, về thời gian tồn tại của các loại ARN?

– Tại sao m ARN lại đa dạng nhất trong các loại ARN?

– Điều gì xảy ra nếu gen quy định ARN bị biến đổi vùng điều hòa hoặc vùng kết thúc?

– Chức năng mã enzim ARN polymeraza khác gì so với các enzim tham gia vào quá trình x 2 AND?

+ Tính chiều dài, KL của ARN

+ Tổng số nu và số nu từng loại môi trường nội bào cung cấp.

+ Số liên kết cộng hóa trị mới hình thành

+ Số liên kết hiđro bị phá hủy

3. Dịch mã

a. Mức độ biết, thông hiểu

– Diễn ra ở đâu trong tế bào?

– Kể tên các thành phần tham gia trực tiếp vào quá trình dịch mã?

– Các loại enzim tham gia, chức năng từng loại?

– Cơ chế dịch mã?

– Kết quả?

– Vai trò của polyribôxôm trong dịch mã?

– Quá trình dịch mã diễn ra theo những nguyên tắc nào?

b. Mức độ vận dụng, vận dụng cao

– Xác định được sự khác nhau giữa 2 dạng bài tập:

+ 1 gen có tổng số nu là (N) số mã hóa được bao nhiêu nu (ở SV nhân sơ và n. thực)

+ Chuỗi poly peptit hoàn chỉnh do gen đó mã hóa có bao nhiêu axit amin

– Thế nào là điều hòa hoạt động của gen?

– Xảy ra ở các mức độ nào?

– Thế nào là Operon? Mô hình cấu trúc của Operon lac?

– Giải thích được điều hòa hoạt động gen trong môi trường có Lactozơ (chất cảm ứng) và không có Lactozơ?

b. Mức vận dụng – vận dụng cao.

– Sự giống và khác nhau giữa điều hòa âm tính và dương tính?

– Khái niệm ĐBG, ĐB điểm?

– Đặc điểm của ĐBG?

– Thế nào là tần số ĐBG, tần số ĐBG phụ thuộc vào những yếu tố nào?

– Thế nào là tác nhân ĐB? gồm các loại nào?

– Thể ĐB là gì?

– ĐB nhân tạo có đặc điểm gì khác so với các ĐBG tự nhiên?

– Các dạng ĐB điểm và hậu quả của từng dạng với cấu trúc của mARN và cấu trúc của protein do gen điều khiển tổng hợp?

– Nguyên nhân, cơ chế phát sinh ĐBG?

– Hậu quả mã đột biến gen, đột biến gen có ý nghĩa như thế nào với tiến hóa và chọn giống?

b. Mức vận dụng – vận dụng cao:

– Để gây ĐBG, phải tác động tác nhân ĐB vào pha nào của kỳ trung gian trong chu kỳ tế bào sẽ đạt hiệu quả cao nhất, vì sao?

– Trong các dạng ĐB điểm, dạng nào gây hậu quả lớn nhất, vì sao?

– Tại sao hầu như ĐB thay thế cặp nu thường ít gây hại cho thể ĐB?

– Thay thế cặp nu thứ mấy của mã di truyền sẽ ít ảnh hưởng đến cấu trúc của phân từ Pr nhất, vì sao?

– Loại ĐBG nào chỉ ảnh hưởng đến thành phần 1 bộ 3 mã hóa? ĐB đó xảy ra ở vị trí nào sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình dịch mã?

– Hậu quả của ĐBG phụ thuộc vào những yếu tố nào?

– Với những điều kiện nào thì 1 ĐBG có thể được di truyền qua sinh sản hữu tính?

– Khi gen được chuyển từ vị trí này đến vị trí khác của NST thì có thể xảy ra khả năng: Gen được phiên mã nhiều hơn hoặc không được phiên mã, vì sao?

6. Nhiễm sắc thể và ĐB cấu trúc NST

a. Mức độ biết, thông hiểu

– Các đặc trưng của NST về hình thái, số lượng bộ NST của loài?

– Chứng minh SLNST không phản ánh mức độ tiến hóa của loài?

– Mô tả được cấu trúc siêu hiển vi của NST ở sinh vật nhân thực?

– Tại sao mỗi NST lại xoắn theo nhiều cấp độ khác nhau?

– Sự biến đổi về hình thái NST qua các kỳ của quá trình phân bào?

– Thế nào là ĐB cấu trúc NST? gồm mấy dạng? hậu quả và ý nghĩa của từng dạng?

– Dạng ĐB cấu trúc nào không làm thay đổi hàm lượng AND trên 1 NST?

b. Mức độ vận dụng – vận dụng cao:

– Tại sao AND ở tế bào nhân thực có kích thước lớn nhưng vẫn được xếp gọn trong nhân TB?

– Mỗi NST được xoắn theo nhiều cấp độ khác nhau có ý nghĩa gì?

– Tại sao phần lớn các dạng ĐB cấu trúc NST thường có hại, thậm chí gây chết cho thể ĐB?

– Dạng ĐB nào gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, ít ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, vì sao?

– Loại ĐB cấu trúc NST nào nhanh chóng hình thành loài mới, vì sao?

– Trong trường hợp nào thì đảo đoạn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể ĐB?

– Tại sao ĐB lặp đoạn lại tạo điều kiện cho ĐBG?

– Có mấy dạng ĐBSL NST, là những dạng nào?

– Thế nào là ĐB lệch bội, đa bội?

– Cơ chế phát sinh thể ĐB lệch bội, đa bội chẵn, đa bội lẻ, dị đa bội?

– Hậu quả và ý nghĩa của ĐB lệch bội, đa bội?

– Vai trò của đột biết đa bội trong chọn giống, tiến hóa?

– Vẽ được sơ đồ cơ chế phát sinh các dạng lệch bội là người và hậu quả của từng dạng?

– Phân biệt được thể tự đa bội và dị đa bội?

b. Mức vận dụng – vận dụng cao

– Tại sao lệch bội thường gây hậu quả nặng nề cho thể ĐB hơn là ĐB đa bội?

– Tại sao thể 2 với NST X thường ít gây hậu quả năng nề hơn cho thể ĐB?

– Tại sao thể song nhị bội được coi như 1 loài mới?

– Tại sao thể 4n có độ hữu thụ giảm hẳn so với thể 2n nhưng trong tự nhiên thể 4n vẫn rất phổ biến?

– Làm thế nào để tạo ra thể tự đa bội?

– Làm được các dạng bài tập của chương, như:

+ 1 loài SV lưỡng bội (2n) sẽ có bao nhiêu loại thể lệch, thể lệch kép?

+ Tìm được loại giao tử, tỷ lệ từng loại của thể ĐB: 3n: AAA, AAa, Aaa, aaa

4n: AAAA, AAAa, AAaa, Aaaa, aaaa

+ Xác định được tỷ lệ phân ly kiểu gen, kiểu hình của các phép lai giữa các thể ĐB với nhau?

CHƯƠNG : QUY LUẬT DI TRUYỀN

CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC

    Kiến thức học sinh cần nhận biết và thông hiểu:
    Các khái niệm, quy luật:
    Khái niệm: phép lai 1 hay nhiều cặp tính trạng, nhiều tính trạng, kiểu gen, kiểu hình, thuần chủng, trội, lặn hoàn toàn, không hoàn toàn, đồng trội, liên kết, hoán vị, tương tác gen, NST giới tính, mức phản ứng của kiểu gen…
    Quy luật: phân ly, phân li độc lập, liên kết, hoán vị, tương tác, tương tác cộng gộp, tương tác bổ sung, di truyền giới tính, di truyền liên kết giới tính, di truyền ngoài nhân…
    Đặc điểm của các quy luật, hiện tượng

    Phân biệt bản chất của các quy luật di truyền

    Phân biệt cơ sở tế bào học và điều kiện nghiệm đúng của các quy luật.

    Ý nghĩa của các quy luật di truyền

(Về cơ bản đã được trình bày ở phần tóm tắt nội dung các bài ở phần sau)

    Kiến thức học sinh cần vận dụng:
    Kiến thức học sinh cần vận dụng cao
    Giải các bài tập khó như : xác suất, phép lai nhiều cặp tính trạng trong đó mỗi tính trạng lại di truyền theo 1 quy luật khác nhau.

    Vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế của cuộc sống của sinh giới ở mức cao.

– Bước 2: Lai các dòng thuần chủng khác biệt nhau bởi 1 hoặc nhiều tính trạng rồi phân tích kết quả lai ở đời F1, F2, F3.

– Bước 3: Sử dụng toán xác suất để phân tích kết quả lai, sau đó đưa ra giả thuyết giải thích kết quả.

– Tỷ lệ phân ly ở F2 xấp xỉ 3:1.

– Mỗi tính trạng đều do 1 cặp nhân tố di truyền quy định và trong tế bào các nhân tố di truyền không hoà trộn vào nhau.

– Giao tử chỉ chứa 1 trong 2 thành viên của cặp nhân tố di truyền.

– Khi thụ tinh các giao tử kết hợp với nhau 1 cách ngẫu nhiên

– Mỗi giao tử chỉ chứa 1 trong 2 thành viên của cặp nhân tố di truyền do đó sẽ hình thành 2 loại giao tử và mỗi loại chiếm 50%( 0,5).

– Xác suất đồng trội là 0,5X 0,5=0,25 (1/4)

– Xác suất dị hợp tử là 0,25+ 0,25=0,5 (2/4)

– Xác suất đồng lặn là 0,5X 0,5=0,25 (1/4)

3. Quy luật phân ly:

– Mỗi tính trạng do 1 cặp alen quy định, 1 có nguồn gốc từ bố, 1 có nguồn gốc từ mẹ.

– Các alen của bố và mẹ tồn tại trong tế bào cơ thể con 1 cách riêng rẽ không hoà trộn vào nhau.

– Khi hình thành giao tử các alen phân ly đồng đều về các giao tử cho ra 50% giao tử chứa alen này và 50% giao tử chứa alen kia.

III. Cơ sở tế bào học của quy luật phân ly:

Trong TB sinh dưỡng, các gen và các NST luôn tồn tại thành từng cặp

– Mỗi gen chiếm 1 vị trí xác định trên NST được gọi là locut.

– Khi giảm phân tạo giao tử, các thành viên của 1 cặp alen phân li đồng đều về các giao tử, mỗi NST trong từng cặp NST tương đồng cũng phân li đồng đều về các giao tử.

QUY LUẬT MENĐEN: QUY LUẬT PHÂN LY ĐỘC LẬP

I. Thí nghiệm lai hai tính trạng:

1. Nội dung QL PLĐL của Menden: Các cặp nhân tố di truyền quy định các tính trạng khác nhau phân li độc lập trong quá trình hình thành giao tử.

II. Cơ sở tế bào học:

– Các cặp gen quy định các cặp tính trạng nằm trên các cặp NST tương đồng khác nhau thì khi giảm phân, các gen sẽ phân li độc lập với nhau.

III. Ý nghĩa của các quy luật Menđen

– Dự đoán trước được kết quả lai.

– Là cơ sở khoa học giả thích sự đa dạng phong phú của sinh vật trong tự nhiên.

– Bằng phương pháp lai có thể tạo ra các biến dị tổ hợp mong muốn trong chăn nuôi trồng trọt.

TƯƠNG TÁC GEN VÀ TÁC ĐỘNG ĐA HIỆU CỦA GEN

I. Tương tác gen

– Khái niệm :là sự tác tác động qua lại giữa các gen trong quá trình hình thành một kiểu hình. Bản chất là sự tương tác giữa các sản phẩm của chúng trong quá trình hình thành kiểu hình.

1. Tương tác bổ sung

Khái niệm : Tương tác bổ sung là kiểu tương tác trong đó các gen cùng tác động sẽ hình thành một kiểu hình mới.

Ví dụ : A-B- quy định hoa đỏ ; kiểu : A-bb; aaB- ; aabb quy định hoa trắng.

Ví dụ: Màu da người ít nhất do 3 gen (A,B,C) nằm trên 3 cặp NST tương đồng khác nhau chi phối.

– Phần lớn các tính trạng số lượng (năng suất) là do nhiều gen quy định tương tác theo kiểu cộng gộp quy định.

II. Tác động đa hiệu của gen:

1. Khái niệm: Một gen ảnh hưởng đến sự biểu hiện của nhiều tính trạng khác gọi là gen đa hiệu.

Ví dụ: – HbA hồng cầu bình thường

– HbS hồng cầu lưỡi liềm  gây rối loạn bệnh lý trong cơ thể

Tất cả những trường hợp trên không phủ nhận mà chỉ mở rộng thêm học thuyết Menden.

LIÊN KẾT GEN

1. Liên kết gen

– Mỗi NST gồm một phân tử ADN. Trên một phân tử chứa nhiều gen, mỗi gen chiếm một vị trí xác định trên ADN (lôcut)  các gen trên một NST di truyền cùng nhau  nhóm gen liên kết.

– Các gen trên cùng 1 NST luôn di truyền cùng nhau. Trong tự nhiên nhiều gen khác nhau giúp sinh vật thích nghi với môi trường có thể được tập hợp trên cùng NST giúp duy trì sự ổn định của loài.

– Trong chọn giống có thể gây đột biến chuyển đoạn, chuyển những gen có lợi vào cùng 1 NST tạo ra các giống có các đặc điểm mong muốn.

HOÁN VỊ GEN

1. KN :

Hiện tượng các gen alen đổi chỗ cho nhau trên cặp NST tương đồng gọi là HVG.

2. Cơ sở tế bào học của hiện tượng hoán vị gen:

– Trong giảm phân tạo giao tử xảy ra tiếp hợp và trao đổi chéo đều giữa 2 NST trong cặp tương đồng  hoán vị gen.

– Tần số hoán vị gen (f%) = ∑ tỷ lệ giao tử hoán vị.

– Tần số hoán vị gen (f%) 0%  50% (f%  50%)

– Do hiện tượng hoán vị gen  tạo ra nhiều loại giao tử  hình thành nhiều tổ hợp gen mới tạo nguồn nguyên liệu biến dị di truyền cho quá trình tiến hoá và công tác chọn giống.

– Căn cứ vào tần số hoán vị gen  trình tự các gen trên NST (xây dựng được bản đồ gen).

– Quy ước 1% hoán vị gen =1 cM(centimoocgan).

– Bản đồ di truyền giúp dự đoán tần số tổ hợp gen mới trong các phép lai, có ý nghĩa trong công tác chọn giống và nghiên cứu khoa học: giảm thời gian chọn đôi giao phối

DI TRUYỀN LIÊN KẾT VỚI GIỚI TÍNH VÀ DI TRUYỀN NGOÀI NHÂN

I. Di truyền liên kết với giới tính

1. NST giới tính và cơ chế tế bào học xác định giới tính bằng NST

a. NST giới tính

– Là NST chứa các gen quy định giới tính. Có thể có gen quy định tính trạng thường.

– Cặp NST giới tính có thể tương đồng (ví dụ XX) hoặc không tương đồng (ví dụ XY).

– Trên cặp NST giới tính XY đoạn tương đồng (giống nhau giữa 2 NST) và những đoạn không tương đồng (chứa các gen khác nhau đặc trưng cho NST đó)

b. Một số cơ chế TBH xác định giới tính bằng NST giới tính.

+ Dạng XX và XY

XX, ♂ XY: Người, lớp thú, ruồi giấm…

– ♂ XX, ♀ XY: Chim, bướm…

a. Gen trên NST X

Đặc điểm:

– Kết quả lai thuận và nghịch khác nhau.

– Gen quy định nằm trên NST X không có alen tương ứng trên Y nên con đực (XY) chỉ có 1 gen lặn là được biểu hiện ra kiểu hình.

– Tính trạng xuất hiện ở cả 2 giới nhưng tỷ lệ không đều nhau.

– Có hiện tượng di truyền chéo

b. Gen trên NST Y

Đặc điểm : Gen nằm trên NST Y không có alen trên X.

– Tính trạng chỉ biểu hiện ở một giới (chứa NST Y).

– Có hiện tượng di truyển thẳng (Truyền 100% cho giới dị giao tử)

c. Ý nghĩa của sự di truyền liên kết với giới tính:

– Phát hiện sớm giới tính của vật nuôi nhờ các gen quy định các tính trạng dễ nhận biết lk giới tính giúp chăn nuôi hiệu quả cao.

II. Di truyền ngoài nhân

1.Biểu hiện:

Kết quả lai thuận, nghịch khác nhau.

– Con lai luôn có kiểu hình giống mẹ.

2. Giải thích

– Khi thụ tinh giao tử đực chỉ truyền nhân cho trứng.

– Các gen nằm trong tế bào chất (trong ty thể hoặc lục lạp) chỉ được mẹ truyền cho con qua tế bào chất của trứng.

– Kiểu hình của đời con luôn giống mẹ.

Kết luận: Có 2 hệ thống di truyền là di truyền trong nhân và di truyền ngoài nhân (di truyền theo dòng mẹ)

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LÊN SỰ BIỂU HIỆN CỦA GEN

I. Mối quan hệ giữa gen và tính trạng

Gen (ADN)  mARN  Pôlipeptit  Prôtêin  tính trạng.

II. Sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường:

– Nhiều yếu tố của MT có thể ảnh hưởng đến sự biểu hiện của kiểu gen.

III. Mức phản ứng của kiểu gen

1. Khái niệm

– Tập hợp những kiểu hình khác nhau của cùng 1 kiểu gen tương ứng với các môi trường khác nhau là mức phản ứng của kiểu gen.

2. Đặc điểm

– Hiện tượng 1 kiểu gen có thể thay đổi kiểu hình trước các điều kiện MT khác nhau được gọi là sự mềm dẻo kiểu hình(thường biến).

– Thường biến giúp SV thích nghi trước sự thay đổi ĐK MT.

– Mỗi kiểu gen có mức phản ứng khác nhau trong các môi trường sống khác nhau.

– Tính trạng có hệ số di truyền thấp là tính trạng có mức phản ứng rộng; thường là các tính trạng số lượng (năng suất, sản lượng trứng…)

– Tính trạng có hệ số di truyền cao  tính trạng có mức phản ứng hẹp thường là các tính trạng chất lượng (Tỷ lệ Protein trong sữa hay trong gạo…)

Để giải bài tập thuộc quy luật di truyền nói chung và quy luật hoán vị gen nói riêng, học sinh phải thành thạo kỹ năng nhận dạng bài toán. Một bài toán thuộc quy luật hoán vị gen thường có những dấu hiệu nhận biết sau:

– Do hoán vị gen làm tăng sự xuất hiện các biến dị tổ hợp nên số kiểu hình ở đời con lai bằng số loại kiểu hình của quy luật phân li độc lập (với số gen tương ứng) nhưng tỷ lệ khác quy luật phân li độc lập.

Số kiểu hình = 2n.

Tỷ lệ kiểu hình khác (3:1)n

– Nếu là phép tạp giao 2 cơ thể dị hợp 2 cặp gen (nằm trên 1 cặp nhiễm sắc thể) thì kết quả cho 4 loại kiểu hình và khác tỷ lệ 9:3:3:1.

Thông thường, phương pháp truyền thống để tìm tỷ lệ kiểu hình ở đời con là xác định tần số hoán vị gen và viết sơ đồ lai. Tuy nhiên cách này thường dài và mất thời gian, không phù hợp với các đề thi trắc nghiệm. Có thể giải bằng các cách khác nhanh hơn như sau:

a. Đề bài chưa cho biết tần số hoán vị:

Các phép tạp giao có xảy ra hoán vị một bên hoặc hai bên luôn cho tối đa 4 loại kiểu hình: 1 loại kiểu hình mang hai tính trạng trội, 2 loại kiểu hình mang một tính trội một tính trạng lặn và 1 loại kiểu hình mang hai tính trạng lặn.

    Gọi x là tỷ lệ kiểu hình mang 2 tính trạng trội (Kí hiệu: A‑B-)

    y là tỷ lệ kiểu hình mang tính trạng trội thứ nhất.(aaB-)

    z là tỷ lệ kiểu hình mang tính trạng trội thứ hai.(A-bb)

    t là tỷ lệ kiểu hình mang 2 tính trạng lặn.(aabb)

Mà ta đã chứng minh được: % A-B- + %A-bb = %A-B- + %aaB- = 75%

% A-bb + % aabb = % aaB- + %aabb = 25%

Thông thường học sinh hay gặp bài toán lai F 1 dị hợp hai cặp gen tự thụ hoặc giao phối gần. Vậy trong trường hợp này ta có công thức chung như sau.

– Tỷ lệ kiểu hình mang 2 tính trạng lặn = t.

– Tỷ lệ kiểu hình mang 2 tính trạng trội = 50% +t.

– Tỷ lệ kiểu hình mang 1 tính trạng trội = 25% – t.

Ta xét một số ví dụ :

Ví dụ 1:

Ở một loài thực vật, hai cặp gen Aa và Bb qui định 2 cặp tính trạng tương phản, giá trị thích nghi của các alen đều như nhau, tính trội là trội hoàn toàn. Khi cho các cây P thuần chủng khác nhau giao phấn thu được F 1. Cho F 1 giao phấn, được F 2 có tỉ lệ kiểu hình lặn về cả 2 tính trạng chiếm 4%. Quá trình phát sinh giao tử đực và cái diễn ra như nhau. Theo lí thuyết, tỉ lệ kiểu hình trội về cả 2 tính trạng là:

A. 38%. B. 54%. C.42%. D. 19%.

Giải:

Học sinh có thể áp dụng ngay công thức tính nhanh:

Tỷ lệ kiểu hình trội về cả 2 tính trạng = 50% + 4% = 54%.

Chọn đáp án: B.

(Bài tập này có thể giải bằng cách phân tích tỷ lệ giao tử của cơ thể mang 2 tính trạng lặn, tìm ra kiểu liên kết và tần số hoán vị ở cơ thể bố, mẹ sau đó viết sơ đồ lai, tìm tỉ lệ kiểu hình đề bài yêu cầu. Tuy nhiên cách này mất nhiều thời gian, học sinh dễ bị nhầm, không phù hợp với dạng bài tập trắc nghiệm.)

Ví dụ 2:

Ở một loài thực vật: A – lá quăn trội hoàn toàn so với a – lá thẳng; B- hạt đỏ trội hoàn toàn so với b – hạt trắng. Khi lai hai thứ thuần chủng của loài là lá quăn, hạt trắng với lá thẳng, hạt đỏ với nhau được F1. Cho F1 giao phấn với nhau thu được 20 000 cây, trong đó có 4800 cây lá quăn, hạt trắng. Số lượng cây lá thẳng, hạt trắng là

A. 1250. B. 400. C. 240 D. 200

Giải

– Từ giả thiết, ta tính tỉ lệ cây lá quăn, hạt trắng:

%(A-bb) = 4800/20000 = 0,24= 24%.

Tỉ lệ kiểu hình của cơ thể mang 2 tính trạng lặn (lá thẳng, hạt trắng)

%(aabb) = 25% – 24% = 1%.

Số lượng cây lá thẳng hạt trắng là: 1%20 000 = 200 (cây)

Đáp án D

b. Đề bài cho biết tần số hoán vị:f.

Phương pháp quen thuộc để giải bài tập này là từ tần số hoán vị học sinh viết được sơ đồ lai. Từ sơ đồ lai xác định được tất cả tỷ lệ kiểu hình ở đời con. Tuy nhiên cách làm này sẽ lãng phí thời gian và dễ nhầm lẫn.

Thay vì phải viết sơ đồ lai, học sinh có thể làm theo những bước sau đơn giản hơn rất nhiều.

– Tính tỷ lệ giao tử hoán vị, giao tử liên kết.

Tỷ lệ giao tử hoán vị = f/2.

Tỷ lệ giao tử liên kết = 50% – f/2

– Nhân các tỷ lệ giao tử hình thành nên kiểu gen với nhau.

Ví dụ 1:

Ở một loài thực vật A: quy định thân cao; a: quy định thân thấp. B: quy định hoa đỏ; b: quy định hoa trắng. Hai gen nằm trên một cặp nhiễm sắc thể. Cho cây thân cao hoa đỏ (AB/ab) lai với cây thân cao, hoa đỏ (Ab/aB). Hoán vị gen xảy ra ở cả hai giới với tần số f = 20%. Xác định tỉ lệ kiểu hình ở thế hệ sau.

Giải:

Từ tần số hoán vị ta tính tỉ lệ các giao tử rồi tính tỉ lệ cơ thể mang kiểu hình lặn, sau đó áp dụng cách làm ở mục 1:

– Tỉ lệ giảo tử hoán vị = f/2 = 20%/2 = 10%

– tỉ lệ giao tử liên kết = 50% – f/2 = 50% – 10% = 40%.

– Tỉ lệ cây thân thấp, hoa trắng (ab/ab) ở F1 = 10%.40% = 4%.

– Tỉ lệ cây cao, hoa đỏ = 50% + 4% = 54%.

– Tỉ lệ cây cao hoa trắng = cây thấp, hoa đỏ = 25% – 4% = 21%.

Ví dụ 2:

Ở một loài thực vật, gen A quy định thân cao trội hoàn toàn so với a quy định thân thấp. B quy định hoa tím trội hoàn toàn so với b quy định hoa trắng. D quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so với d quy định hoa vàng. E quy định quả tròn trội hoàn toàn so với e quy định quả dài. Tính theo lí thuyết, phép lai: trong trường hợp giảm phân bình thường, quá trình tạo giao tử đều xảy ra hoán vị gen ở 2 cơ thể bố, mẹ giữa B và b với tần số 20%; E và e với tần số 40% cho F 1 có kiểu hình thân cao, hoa tím, quả đỏ, tròn chiếm tỷ lệ:

Поделитесь с Вашими друзьями:

【#8】Cấu Tạo Của Các Cơ Quan Nội Tạng Của Chó: Mô Tả, Định Nghĩa, Cấu Trúc, Loại, Chức Năng Được Thực Hiện, Ý Nghĩa Và Cấu Trúc

Một con chó khỏe mạnh là một động vật di động và vui vẻ với bộ lông sáng bóng, đôi mắt sạch sẽ, mũi hơi ẩm và lạnh. Khi chó đang ngủ, mũi có thể bị khô hoặc hơi nóng. Một con chó khỏe mạnh nên ăn ngon miệng, đi tiêu đều đặn, đi tiểu nhiều lần trong ngày và thậm chí thở. Màng nhầy của mắt phải có màu hồng nhạt.

Một con chó bị bệnh có thể được xác định bởi một số dấu hiệu:

  1. Con vật bị trầm cảm, cố gắng trốn tránh những con mắt tò mò, không đến khi chủ nhân của nó gọi nó, hoặc nó miễn cưỡng.
  2. Con chó ăn ít và liên tục xin nước.
  3. Con vật không có hoặc gãy ghế. Đôi khi những con chó bị bệnh phát triển máu trong phân của chúng.
  4. Nôn, ngất trên mắt hoặc mũi, đi tiểu quá thường xuyên.
  5. Màu mắt đã chuyển sang màu vàng hoặc hơi xanh.
  6. Len rơi ra hoặc thay đổi đáng kể màu sắc, trở nên xỉn màu.
  7. Xung và nhiệt độ cơ thể khác với định mức.
  8. Suy hô hấp hoặc khó thở nghiêm trọng, xuất hiện mà không cần gắng sức.

Nếu các triệu chứng trên của bệnh được phát hiện bởi những người nuôi thú cưng, việc liên hệ với bác sĩ thú y để được giúp đỡ là điều khẩn cấp.

Để cung cấp viện trợ đầu tiên cho thú cưng của bạn, cần phải nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu và sinh lý của nó.

Cấu trúc cơ thể chó

Mọi chủ sở hữu điều hành một con chó ở nhà nên có kiến ​​thức tối thiểu về cấu trúc cơ thể của động vật này. Điều này sẽ giúp phát hiện kịp thời các triệu chứng của một căn bệnh nguy hiểm ở chó. Đó là từ một người trong hầu hết các trường hợp phụ thuộc vào cuộc sống và sức khỏe của thú cưng của bạn. Ngoài ra, kiến ​​thức về cấu trúc cơ thể của chó sẽ giúp chủ nhân hiểu được nhiều đặc điểm của hành vi của động vật. Điều này đặc biệt quan trọng khi một người muốn nuôi từ một con chó con nhỏ, một trợ lý trong các vấn đề, ví dụ, trong việc săn bắn hoặc để bảo vệ một ngôi nhà. Nó là cần thiết để nuôi một con chó từ những tháng đầu đời.

Mỗi cơ quan bao gồm các mô đảm bảo công việc của nó. Chúng là các tế bào có hình dạng khác nhau, các chất ngoại bào và sợi. Tế bào là cấu trúc nhỏ nhất trong cơ thể của động vật, hình dạng và cấu trúc của chúng phụ thuộc vào mục đích của chúng. Kích thước tế bào thay đổi từ 10 đến 100 micron.

Các loại vải

Trong cơ thể chó có 4 loại mô chính:

  1. Nắp đậy. Chúng tạo thành lớp ngoài của da, và nằm trên bề mặt bên trong của khoang mũi và miệng. Họ cũng bao bọc nhiều cơ quan nội tạng như thực quản, ruột, bàng quang và dạ dày. Các mô che phủ là cần thiết không chỉ để đảm bảo bảo vệ đáng tin cậy của các cơ quan quan trọng. Họ cũng thực hiện quá trình trao đổi chất, sản xuất dịch dạ dày và ruột, nước bọt và nước mắt.
  2. Mô cơ xương. Loại này bao gồm bạch huyết, máu, lớp mỡ, sụn, xương và mô liên kết. Chúng khác nhau đáng kể về cấu trúc và mục đích, nhưng mục đích quan trọng nhất của chúng là tạo ra bộ xương của toàn bộ sinh vật. Họ cũng chịu trách nhiệm kết nối tất cả các cơ quan với nhau. Một trong những loại mô cơ xương thực hiện chức năng bảo vệ, ngăn ngừa tổn thương mạch máu, dây thần kinh và các cơ quan quan trọng khác.
  3. Mô cơ cung cấp các chức năng vận động. Họ cho phép động vật di chuyển và thực hiện công việc của các cơ quan nội tạng.
  4. Các mô thần kinh hình thành hệ thống thần kinh của con chó. Nó kiểm soát công việc của các cơ quan, đồng thời nhận tín hiệu từ môi trường bên ngoài, xử lý chúng và sau đó gửi thông tin đến não.

Tất cả các mô trên là cái gọi là “vật liệu xây dựng” cho các cơ quan. Thông thường sự chiếm ưu thế của một loại mô trong cơ thể quyết định chức năng của nó. Vì vậy, trong não hầu hết các mô thần kinh được phát hiện.

Mỗi cơ quan trong cơ thể của chó thực hiện chức năng chính của nó, nhưng tất cả chúng đều giải quyết các nhiệm vụ nhỏ cũng rất quan trọng đối với hoạt động bình thường của cơ thể.

Chức năng chính của xương của bộ xương là cho phép con chó di chuyển, nhưng ngoài chức năng này, xương cho phép bạn lấp đầy cơ thể bằng các chất dinh dưỡng, cũng như cung cấp lưu lượng máu đến các chi.

Các cơ quan và hệ thống chính

  1. Hệ thống nội tạng của các cơ quan chịu trách nhiệm hô hấp, bài tiết, sinh sản và tiêu hóa.
  2. Hệ thống lưu thông bạch huyết và máu.
  3. Bộ máy chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của cơ thể, bao gồm các cơ, xương và dây chằng.
  4. Hệ thống miễn dịch
  5. Da.
  6. Hệ thống các tuyến nội tiết.
  7. Cơ quan giác quan.
  8. Hệ thần kinh

Xương chó

Cấu trúc cơ thể chó

Nhiều người nuôi chó quan tâm đến câu hỏi: địa hình của các cơ quan nội tạng ở chó là gì? Một con chó là một động vật có vú. Bộ xương của họ có cấu trúc điển hình và các phòng ban giống nhau.

Động vật có vú có 7 đốt sống cổ. Hươu cao cổ có cổ và cá voi rất dài, hoàn toàn không có cổ, có cùng số đốt sống như chó.

Các đốt sống ngực (tùy thuộc vào giống chó, số lượng của chúng thay đổi từ 12 đến 15 miếng) cùng với xương sườn và xương ức là một phần của ngực.

Cột sống thắt lưng, chịu trách nhiệm bảo vệ và cố định các cơ quan nội tạng của con chó (ảnh có thể được nhìn thấy trong bài viết này), bao gồm sáu đốt sống di chuyển. Cột sống bao gồm 4 đốt sống nối với xương chậu.

Tùy thuộc vào giống chó, số lượng đốt sống ở phần đuôi của bộ xương có thể thay đổi từ ba đến vài chục. Chiều dài của đuôi phụ thuộc vào số lượng xương.

Bộ xương của các chi trước bao gồm hai lưỡi dao, được kết nối với sự trợ giúp của xương quạ và hai xương đòn.

Hỗ trợ chân sau bao gồm xương chậu, được hình thành từ ba xương xen kẽ. Đáng chú ý là ở nhiều động vật có vú, bao gồm cả chó, các cơ xương chậu và chân tay được phát triển tốt.

Miệng chó

Giải phẫu của những con chó (ảnh trong bài báo xác nhận điều này) được sắp xếp theo cách mà răng và lưỡi của chúng được đặt trong miệng. Thứ hai phục vụ để xác định hương vị của thực phẩm. Bề mặt của nó được bao phủ bởi nhú, trên đầu của các dây thần kinh được đặt. Lưỡi có thể di chuyển thức ăn trong miệng để làm ướt nó bằng nước bọt và nhai.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của chó được sắp xếp sao cho răng của chúng có rễ dài được đặt trong các lỗ của hàm. Mỗi chiếc răng có cấu trúc phức tạp và bao gồm ngà răng. Bên ngoài nó được phủ men. Những chiếc răng sắc nhọn nhất (răng cửa) nằm ở phía trước, răng nanh mạnh mẽ nằm ở hai bên miệng. Răng miệng nằm ở phía sau miệng.

Để giữ chặt con mồi và nhai thịt một cách an toàn và nghiền xương, con chó có cơ bắp phát triển rất tốt chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của hàm dưới.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của chó được sắp xếp theo cách mà những con chó con của loài động vật này lần đầu tiên mọc răng sữa, rụng ra sau vài tháng. Sau đó, chúng được thay thế bởi những cái vĩnh viễn.

Tất cả các răng chó là cần thiết cho các nhiệm vụ nhất định. Vì vậy, rễ dùng để bẻ những miếng thịt lớn.

Các răng hàm, được đặt trên các cạnh, có đầu cùn. Họ giúp xay các loại thực phẩm rau cứng. Dao cắt được thiết kế để tách thịt ra khỏi xương.

Nội tạng

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được thiết kế theo cách mà dạ dày của chúng bao gồm một buồng để chế biến thức ăn. Ruột bao gồm ba loại ruột: thẳng, dày và mỏng. Khi vào ruột, thức ăn sẽ tan ra dưới tác động của sự tiết ra các tuyến tiêu hóa, cũng như nước ép đến từ tuyến tụy và gan.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được sắp xếp sao cho khoang ngực của con chó được tách ra khỏi bụng bằng vách ngăn cơ bắp. Với việc giảm các cơ liên sườn, sự gia tăng ở ngực xảy ra. Các xương sườn di chuyển về phía trước khi không khí được rút ra. Cơ hoành trở nên phẳng. Khi thở ra xảy ra, xương sườn được hạ xuống. Ngực bị hẹp, do không khí này bị đẩy ra khỏi phổi của con chó. Thở ra.

Cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của một con chó sao cho chúng, bất kể giống chó nào, có một trái tim bốn buồng. Nó bao gồm hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Máu di chuyển qua vòng tròn lớn và nhỏ lưu thông máu.

Do cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của chó, nước tiểu của chúng được bài tiết khi thận hoạt động. Cơ quan ghép đôi này nằm ở hai bên so với đốt sống thắt lưng. Nước tiểu phát triển đi vào bàng quang, và từ đó thông qua kênh được định kỳ hiển thị bên ngoài trong các phần nhỏ.

Sự sắp xếp thành công các cơ quan nội tạng của chó cho phép chuyển hóa nhanh chóng. Nhiệt độ cơ thể ở những con chó khỏe mạnh nên giống nhau. Ở chó con, nó là khoảng 38,5 độ. Ở chó trưởng thành, nhiệt độ cơ thể khoảng 37,5 độ.

Bộ não cũng được bao gồm trong cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của con chó. Nó nằm bên trong hộp sọ và bao gồm hai bán cầu. Các bán cầu não có một lớp tế bào thần kinh hình thành vỏ não của nó. Nó được mở rộng, có con quay trong đó. Càng nhiều, hoạt động não của động vật càng tốt. Bộ phận này quản lý các chuyển động cơ thể phức tạp.

Cấu trúc của các cơ quan nội tạng của con chó (ảnh có chữ khắc của tất cả các cơ quan bạn có thể thấy trong bài viết) cho phép những con vật này cảm nhận được năm giác quan:

Do đặc thù của các cơ quan nội tạng của chó, chúng có khứu giác phát triển tốt, giúp chúng tìm kiếm con mồi hoặc người thân ngay cả ở khoảng cách xa. Phiên điều trần của hầu hết các con chó cũng được phát triển tốt. Các hạt bắt được cả những âm thanh yên tĩnh nhất.

Những sợi lông dài (rung) mọc gần mũi và mắt là nguyên nhân gây ra cảm ứng.

Khi tiếp xúc với bất kỳ vật thể hoặc con mồi nào, con chó sử dụng ba giác quan của mình cùng một lúc: chạm, nhìn và ngửi. Họ cần liên tục liên lạc với thế giới bên ngoài. Họ nhớ những kinh nghiệm có được và trau dồi kỹ năng của họ.

Những thay đổi trong tự nhiên góp phần thay đổi hành vi ở động vật, chúng phát triển các phản xạ mới. Khả năng này cho phép loài động vật có vú này thích nghi với các điều kiện khác nhau, giúp chúng sống sót ở thế giới bên ngoài.

Các trò chơi của chó khi còn nhỏ (theo đuổi, chạy và chiến đấu) đóng vai trò là một khóa huấn luyện tuyệt vời để rèn luyện các kỹ năng phòng thủ và tấn công cá nhân.

Cách đo nhiệt độ chó

Trước khi lấy nhiệt độ cơ thể của thú cưng, hãy lắc nhiệt kế, sau đó chải đầu bằng kem trẻ em hoặc vaseline. Sau đó, nó cần được đưa vào trực tràng 2 cm, sau khi nâng đuôi của con vật.

Nhiệt kế phải được giữ và không được phép ngồi xuống. Nhiệt kế có thể được kéo ra sau 5 phút. Sau mỗi lần đo nên được khử trùng thiết bị đo y tế.

Đo hơi thở

Tốc độ hô hấp có thể được thiết lập, nếu bạn tính toán chính xác số lần thở và thở ra của động vật trong vòng một phút. Để tính toán chính xác, đặt bàn tay của bạn lên ngực con chó hoặc theo chuyển động của cánh mũi của nó. Một con chó khỏe mạnh mất mười đến hai mươi hơi thở và thở ra trong một phút khi nghỉ ngơi.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được sắp xếp theo cách mà hơi thở trở nên nhanh hơn nếu con vật đang chạy. Ngoài ra số lần thở tăng lên nếu con chó sợ hãi hoặc bị kích thích bởi một cái gì đó. Tốc độ hô hấp có thể thay đổi tùy thuộc vào thời gian trong ngày và thay đổi thời tiết. Do bản chất của các cơ quan nội tạng của con chó trong cái nóng, hơi thở của cô tăng lên rất nhiều.

Chó con khi còn nhỏ thở thường xuyên hơn nhiều so với người lớn.

Số xung

Cấu trúc giải phẫu của cấu trúc của những con chó được sắp xếp theo cách mà tần số nhịp tim của chúng dễ tính toán nhất, nếu bạn gắn lòng bàn tay vào ngực của con vật.

Xung có thể được cảm nhận bằng cách đặt ngón tay của bạn lên động mạch đùi. Nó nằm ở mặt trong của đùi. Một trái tim trong một động vật khỏe mạnh được nghỉ ngơi trong nửa giờ nên được giảm với tần số 60 đến 120 nhịp mỗi phút.

Trái tim hoạt động nhanh hơn nhiều nếu con chó tiếp xúc với thể chất, phấn khích, cảm thấy đau đớn. Ngoài ra, cơ tim co lại thường xuyên hơn nếu con vật bị sốt.

Chó con có trái tim nhanh hơn chó trưởng thành.

Thuốc

Để sơ cứu trong việc xác định các triệu chứng tổn thương nội tạng ở chó, mỗi chủ sở hữu phải có bộ dụng cụ sơ cứu thú y tại nhà. Đừng quên kiểm tra ngày hết hạn của thuốc trong đó. Các sản phẩm đã hết hạn phải được thay thế bằng những sản phẩm mới một cách kịp thời. Trước hết trong một bộ dụng cụ sơ cứu như vậy phải là:

Sử dụng thuốc

Mỗi chủ sở hữu chó cần biết làm thế nào để cung cấp cho thú cưng của mình đúng loại thuốc cần thiết để điều trị bệnh. Một số người nuôi chó phải đối mặt với những khó khăn khi con chó của họ không muốn uống thuốc. Theo quy định, việc bổ sung thuốc vào thực phẩm không cho kết quả. Thú cưng nhanh chóng học cách chọn các mẩu tin, để lại những viên thuốc không bị ngấy. Để tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình uống thuốc và hỗn hợp vào cơ thể động vật, bạn nên sử dụng một số kỹ thuật khó:

  1. Sử dụng ống tiêm. Đồng thời, cần phải đổ thuốc vào miệng cùng lúc với chủ sẽ bóp hàm của con chó. Điều này sẽ không cho phép động vật đóng hàm của nó.
  2. Sau khi viên thuốc hoặc bột nằm trên đầu lưỡi, con chó phải giữ chặt miệng bằng tay để thuốc không rơi lại. Con vật bị bệnh phải được giữ theo cách này trong vài phút cho đến khi tác nhân vào thực quản.
  3. Các chất bột nên được đổ vào lưỡi của con chó, và sau một thời gian, hãy cho nó uống nước tinh khiết.
  4. Để làm cho con chó uống thuốc, bạn nên ném đầu con vật lên trên, và sau đó cố gắng đổ chất lỏng bằng hàm. Bây giờ vẫn còn chờ cho thú cưng nuốt phương thuốc theo phản xạ.
  5. Áp dụng tiền bên ngoài trực tiếp vào cơ thể của con chó không gây ra nhiều rắc rối. Tuy nhiên, sau khi bôi kem hoặc gel, bạn phải đeo vòng bảo vệ trên con vật. Một thiết bị như vậy sẽ không cho phép con chó liếm thuốc từ cơ thể.
  6. Thuốc trực tràng và âm đạo được thực hiện bằng cách sử dụng nến và thụ tinh đặc biệt cho động vật. Sau khi nhập thuốc thành công vào đại tràng, cần phải ấn đuôi vào hậu môn một thời gian.
  7. Thấm thuốc vào mắt là một thủ tục phức tạp. Điều mong muốn là làm điều đó cùng nhau: một người giữ khuôn mặt của con chó, và người thứ hai phải bôi thuốc, trong khi giữ cho mí mắt của con chó mở bằng một tay.
  8. Nếu cần phải chèn một ống tiêm với thuốc dưới da của động vật, bạn cần mua một ống tiêm có kim mỏng và ngắn trong hiệu thuốc. Để thuốc hoạt động, cần phải lắp một nếp gấp gần hai ngón tay, sau đó đưa kim vào độ sâu 2 cm. Sau đó, bạn cần tiêm chất lỏng bằng cách ấn từ từ pít tông ống tiêm.
  9. Đôi khi chủ vật nuôi phải tự tiêm vật nuôi của họ. Đối với thủ tục này, cần phải tìm thấy ở chó một tĩnh mạch nhỏ trên chân. Phía trên vị trí đâm thủng cần phải áp dụng một bộ ba vòng, kéo mạnh chân ra. Chỉ sau đó, tĩnh mạch có thể được đâm bằng kim. Sau đó, bạn có thể nhập thuốc. Điều rất quan trọng là giữ chân của một con vật trong một thủ tục như vậy, nếu không nó có thể bị thương.

Все остальные процедуры, например установка капельниц, внутриполостные инъекции, ввод препарата в сердечную мышцу, переливание крови, УЗИ внутренних органов у собак должен делать только квалифицированный ветеринарный врач.

Скелет или костная система

Скелет – это остов, удерживающий все внутренние органы, а также мышцы собаки. Строение скелета собаки на схеме легко представить в виде двух линий:

  • осевой, в состав которой входит 109 костей (череп и позвоночник с ребрами),
  • ngoại vi, bao gồm 180 chi xương.

Trong cuộc sống của động vật, thành phần của mô xương thay đổi. Do đó, ở chó con và chó tuổi teen, xương đàn hồi và nhẹ hơn, với tuổi già có khả năng cao làm tăng nguy cơ dễ vỡ và mất sức. Vì xương và răng được đánh giá dựa trên sức khỏe chung của chó.

Cấu trúc của hộp sọ

Các bộ phận trên khuôn mặt và não của hộp sọ được phân biệt, cả xương ghép và xương không ghép đôi là một phần của hộp sọ. Tổng cộng, hộp sọ bao gồm 27 xương được nối với nhau bằng mô sụn. Với tuổi tác, sụn cứng lại và khả năng di chuyển chỉ được duy trì ở khu vực hàm dưới, để chó có thể nhai thức ăn.

Hình vẽ cho thấy cả xương và cặp xương của cặp sọ.

Cấu trúc răng

Răng không chỉ là một phần quan trọng bên ngoài của chó. Trước hết, răng là cần thiết để cắn và nghiền thức ăn, để bảo vệ chủ sở hữu và, nếu cần thiết, để tấn công kẻ thù.

Chó con được sinh ra không có răng. Ở tuổi hai hoặc ba tuần, răng sữa đầu tiên được cắt qua nướu. Gần 4-5 tháng, chúng bắt đầu rơi ra để nhường chỗ cho vĩnh viễn. Để thay thế sữa thứ 28 bằng một năm rưỡi trong hàm phải là 42 răng vĩnh viễn. Sự sai lệch so với lịch trình thường là do dinh dưỡng không cân bằng hoặc một giống cụ thể.

Công thức nha khoa của một con chó trưởng thành bao gồm 42 răng, với 20 nằm ở phía trên và 22 ở phía dưới.

Một bộ răng vĩnh viễn cho một con chó trưởng thành bao gồm:

  • Răng cửa – 6 trên mỗi hàm.
  • Fangs – 2 trên và dưới. Chúng là vũ khí nguy hiểm trong lao động.
  • 4 răng hàm trên cả hai hàm.
  • Hai răng hàm trên mỗi nhánh của hàm trên, cũng như ba răng dưới, với tổng số 10 mảnh.

Chó arcade

Một chiếc răng bao gồm vương miện, cổ và chân răng. Mão nhô ra đáng kể phía trên nướu, đối với mỗi loại răng nó có hình dạng riêng. Ngà răng là mô răng chính, trong khu vực của thân răng được phủ men răng, và trong vùng chân răng, ngà răng được phủ bằng xi măng. Bên trong răng có một khoang được chia thành không gian vành và chính ống chân răng.

Số lượng răng, tình trạng của chúng và vết cắn (hoặc tắc) ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con chó. Phân bổ các kiểu chữ sau đây của vết cắn:

Loại phổ biến nhất là loại cắn đầu tiên.

Cấu trúc của cột sống

Cột sống là trục của bộ xương. Một bên là hộp sọ được gắn vào nó, và nó kết thúc ở một cái đuôi. Ngoài ra ở hai bên được gắn xương sườn và chân tay với sự trợ giúp của mô sụn.

Cấu trúc của cột sống có thể được trình bày như sau:

  • Vùng cổ tử cung – bao gồm 7 đốt sống, hai trong số đó đầu tiên (atlas và epistrophies) đặc biệt di động. Họ chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của người đứng đầu.
  • Vùng ngực bao gồm 13 đốt sống. Để chúng được gắn các xương sườn tạo thành ngực. Chó có 9 cặp thật và 4 cặp cạnh giả.
  • Vùng thắt lưng cũng bao gồm 7 đốt sống.
  • Vùng sacral là xương xương cùng phát triển từ 3 đốt sống.

Cơ cấu nợ

Cực đoan của chó khác nhau về sự phức tạp của một cấu trúc. Chân trước là một sự tiếp nối của scapula, được gắn vào cột sống với cơ vai phát triển. Scapula đi vào humerus, sau đó đi đến khớp cẳng tay và khớp cổ tay. Cẳng tay bao gồm bán kính và xương ulna, và xương bao gồm 5 xương. Chân sau được hình thành bởi khớp hông, khớp gối, ống chân, chân sau, chân và chân.

Cấu trúc của bàn chân có thể được biểu diễn theo cách này:

  • Đệm thực hiện chức năng của giảm xóc. Chúng làm giảm gánh nặng cho xương và khớp, cũng như giúp duy trì sự cân bằng. Các miếng đệm bao gồm một lớp mô mỡ ấn tượng, vì vậy những con chó không bị đóng băng trong mùa lạnh và nhiệt được bảo quản tốt trong bàn chân của chúng.
  • Ngón tay của vật nuôi có số lượng phalang khác nhau. 4 ngón tay – ba phalanxes, và một – chỉ hai. Một con vật không thể di chuyển chúng theo cùng một cách với một người đàn ông do không gian liên kỹ thuật hạn chế. Thông thường, chó có 5 ngón chân trên bàn chân trước và 4 ngón chân trên bàn chân sau. Ngoài ra còn có những ngón chân thô sơ – vết lõm, nằm trên bàn chân sau ngay phía trên bàn chân. Chúng không mang bất kỳ tải trọng chức năng nào, nhưng trong một số trường hợp có thể là dấu hiệu cho thấy chất lượng cao của đại diện của giống chó. Điều này đúng với Briards, Beauceron hoặc Pyrenean Mastiffs.
  • Móng vuốt của con chó, không giống như con mèo, không rút vào trong miếng đệm và bao gồm mô keratinous cứng và tủy – những khu vực có số lượng đáng kể các mạch máu và đầu dây thần kinh. Điều quan trọng là khi cắt móng vuốt phải rất cẩn thận để không làm cho con chó bị tổn thương và đau đớn. Cũng cần phải theo dõi tình trạng và chiều dài của móng vuốt, vì có một mối liên hệ trực tiếp giữa chúng và hệ thống cơ xương. Móng vuốt dài không cho phép thú cưng bốn chân đi lại bình thường, vì chúng bộ xương thậm chí có thể bắt đầu biến dạng.

Cơ quan cảm giác

Các cơ quan cảm giác của chó tương tự như con người, nhưng có sự khác biệt trong việc phân phối tải trọng lên chúng. Vì vậy, quan trọng nhất là khứu giác và thính giác. Bộ não kiểm soát tất cả các giác quan, xử lý tất cả các tín hiệu đến diễn ra ở đó và câu trả lời được hình thành – mệnh lệnh hành động.

Điểm đặc biệt của những chú chó nằm ở chỗ, ngay cả khi khứu giác, thị giác và thính giác của cô ấy đã bị tắt, thì chúng sẽ có các cơ quan cảm ứng phát triển tốt.

Cấu trúc mũi

Mùi có tác dụng mạnh mẽ đối với trạng thái và sinh lý. Ký ức về mùi nghe thấy vẫn tồn tại trong suốt cuộc đời của con vật và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong hành vi của nó. Chất lượng độc đáo này là do đặc thù của cấu trúc mũi của họ. Do đó, mũi của một con chó cỡ trung bình có khoảng 125 triệu thụ thể mùi, mũi của con người có khoảng 5 triệu. Con chó nhận được thông tin không chỉ trong quá trình hít vào mà còn trong quá trình thở ra không khí.

Mũi của động vật bao gồm phần bên ngoài và khoang mũi. Chất nhầy bao phủ bề mặt bên trong của mũi vượt ra ngoài nó, do đó, thông thường, mũi của vật nuôi nên ướt. Chất nhầy này là một loại phân tích bộ lọc của mùi của thế giới xung quanh.

Khoang mũi được chia thành các đoạn trên, giữa và dưới. Ở phần trên của nó là các thụ thể khứu giác, và ở phần dưới của không khí đi đến vòm họng. Các khe hở bên trên lỗ mũi đóng một vai trò lớn trong việc nhận biết mùi, gần một nửa không khí hít vào đi qua chúng.

Một sự thật thú vị! Mũi của con chó, cụ thể là phần sắc tố bên ngoài, có hoa văn độc đáo, không lặp lại trong tự nhiên, vì vậy bạn có thể dễ dàng phân biệt vật nuôi bốn chân.

Cấu trúc tai

Cấu trúc của tai chó tương tự như con người, nó có các bộ phận như vậy: tai ngoài, tai giữa và tai trong. Tai ngoài được hình thành bởi auricle và ống tai. Cực quang là thiết bị định vị cá nhân của mỗi con chó, thông qua đó các tín hiệu âm thanh được cảm nhận. Tùy thuộc vào giống, kích thước và hình dạng của auricle có thể khác nhau đáng kể.

Tai giữa bao gồm các thành phần sau:

  • Các khoang nhĩ và màng.
  • Ống thính giác.
  • Các malleus, khuấy và đe là xương thính giác.

Trong tai trong có các thụ thể của thính giác và cơ quan cân bằng.

Bí mật của thính giác tuyệt vời của chó được giải thích bởi một kênh thính giác kéo dài và khoang nhĩ lớn ấn tượng. Tai của thú cưng bốn chân thu tín hiệu với tần số lên tới 45.000 Hz, trong khi con người chỉ có thể lên tới 25.000 Hz.

Tuy nhiên, các đặc điểm cấu trúc này có nhược điểm của chúng. Kênh thính giác được đặt theo cách mà khi chất lỏng xâm nhập vào nó, không thể chảy ra ngoài. Điều này có nghĩa là nguy cơ phát triển các bệnh về tai tăng lên và việc điều trị của họ trở nên phức tạp hơn.

Cấu trúc mắt

Mắt của chó rất giống mắt người, do đó, nhận thức về thông tin thị giác cũng không khác gì các động vật có vú khác. Ở phía trước, chúng được bao phủ bởi mí mắt trên và dưới. Mí mắt được bảo vệ bởi lông dày ở bên ngoài, và lông mi mọc dọc theo các cạnh của chúng.

Mắt là một nhãn cầu kết nối dây thần kinh thị giác với não. Các cơ quan của thị giác bao gồm một số vỏ: bên ngoài, giữa và bên trong.

Ở chó, các yếu tố như hình que và hình nón chịu trách nhiệm cho nhận thức hình ảnh. Sự khác biệt so với tầm nhìn của con người là chó không có điểm vàng trong đó các yếu tố này, nhận biết ánh sáng, được tập trung. Do đó, tầm nhìn của động vật kém hơn về độ rõ và độ sắc nét. Chó nhìn thấy khoảng một phần ba những gì một người nhìn thấy, nhưng chúng có thể nhận biết thông tin thị giác trong các điều kiện ánh sáng khác nhau, thậm chí là tồi tệ nhất. Thú cưng cũng vượt trội hơn mọi người về tầm nhìn toàn cảnh.

Bộ phận cơ thể

Để định hướng dễ dàng hơn trên cơ thể của con chó, nó được chia thành bốn phần chính (Hình 1).

1. Đầu. Nó phân biệt các bộ phận não (hộp sọ) và mặt (mõm). Chúng bao gồm trán, mũi, tai, răng.

2. Cổ. Ở đây phân biệt phần trên và khu vực dưới.

3. Cơ thể. Được trình bày bởi các héo (nó được hình thành bởi 5 đốt sống ngực đầu tiên và các cạnh trên của scapula, ở cùng cấp độ với chúng), lưng, thăn, vùng ngực, vùng ngực, vùng bẹn, vùng bụng, tuyến vú và vùng hậu môn, vùng hậu môn.

4. Tay chân. Thoracic (trước): vai, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay, metacarpus và xương chậu (sau): đùi, đầu gối, ống chân, gót chân, metatarsus.

Sự xuất hiện của con chó, vóc dáng và đặc điểm của các bộ phận riêng lẻ trên cơ thể của nó, đặc trưng của giống và sàn nhà, được gọi là ngoại thất Bề ngoài chung bao gồm các đặc điểm chính của hiến pháp, cấu trúc của các bộ phận riêng lẻ của cơ thể, các sai lệch và khiếm khuyết đặc trưng nhất, người ta xem xét đặc thù của sự hình thành các giống riêng lẻ, các dấu hiệu điển hình và không điển hình cho chúng.

Hiến pháp

Hiến pháp của chó thường được đánh giá bởi bề ngoài và hành vi hoặc tính khí. Thông thường có năm loại hiến pháp chính: thô, mạnh, khô, lỏng và mềm.

Loài vật này được đặc trưng bởi một bộ xương đồ sộ phát triển mạnh mẽ, cơ bắp khỏe mạnh, bóng mượt, da dày, căng cứng, lông thô. Đầu thường nặng, đồ sộ, ngực rộng và sâu, tứ chi không dài. Những con chó này được đặc trưng bởi hành vi cân bằng, sức khỏe tốt và sức chịu đựng. Bởi bản chất – bình tĩnh, nhưng hoài nghi, thường ủ rũ. Dễ dàng thích nghi với môi trường mới. Điều này bao gồm người chăn cừu da trắng và Trung Á.

Gần với cái trước. Những động vật như vậy có bộ xương khỏe mạnh, phát triển tốt, cơ bắp chắc khỏe. Đầu có trọng lực vừa phải, cổ đồ sộ, ngực hình bầu dục, sâu, tứ chi dài vừa phải với đôi chân dài. Chủ yếu nó là một loại di động cân bằng. Phản xạ có điều kiện được sản xuất nhanh chóng. Chó là người di động, khỏe mạnh trong công việc. Loại này bao gồm chó săn, một số loại trấu và hang.

Ở động vật thuộc loại này, xương bền nhưng tinh tế, cơ bắp chắc khỏe, đàn hồi, mỏng, da căng, lông mỏng. Đầu thon dài, cổ dài, vú hình bầu dục, dạ dày được căng lên mạnh mẽ. Con chó gầy. Tay chân dài. Chó mất cân bằng, không mệt mỏi và đánh bạc trong công việc. Đại diện của loại này là chó săn thỏ.

LOẠI THẤP (RAW)

Động vật thuộc loại này được đặc trưng bởi xương thô, cơ bắp cồng kềnh, nhưng lỏng lẻo, da gấp, có xu hướng béo phì. Đầu ngắn, môi rủ xuống, mắt sâu thẳm, cổ ngắn, ngực rộng, bụng thấp và tay chân ngắn. Bản thân các loài động vật ít vận động, thờ ơ. Phản xạ có điều kiện chúng phát triển chậm. Chúng bao gồm Thánh Bernard và Chow Chow.

Động vật thuộc loại này có xương mỏng, cơ bắp phát triển kém, da mỏng.

Đầu thường hẹp, dài hoặc tròn, cổ yếu, cao, thân hẹp, bụng bị nhô lên.

Tay chân dài và ngắn, vẹo. Len rất mỏng, mượt. Chó thuộc loại này dễ bị kích động, dễ bị căng thẳng.

Đặc trưng bởi khả năng tồn tại giảm. Loại này được phát âm tốt trong IGs, Chihuahua và một số giống chó trang trí khác.

Ở dạng nguyên chất, các loại hợp pháp hóa là rất hiếm. Thường xuyên hơn có nhiều lựa chọn và sự kết hợp của chúng.

Bộ máy chuyển động hoặc hệ thống đầu máy

Bộ máy chuyển động được đại diện bởi bộ xương, dây chằng và cơ bắp, không giống như các hệ thống khác, tạo thành vóc dáng của một con chó, bề ngoài của nó. Để trình bày ý nghĩa của nó, đủ để biết rằng ở trẻ sơ sinh, bộ máy vận động chiếm khoảng 70-78% toàn bộ khối lượng của động vật và ở người trưởng thành – lên tới 60-68%. Trong phylogenesis, các phần quan trọng khác nhau được hình thành: bộ xương như một cấu trúc hỗ trợ, dây chằng cung cấp sự kết nối của xương và các cơ xương tạo ra các đòn bẩy xương chuyển động.

Chủ của con chó thường gặp phải sự xáo trộn trong bộ xương của thú cưng, sự kém phát triển, giảm sức mạnh, thiếu hoặc thừa độ bão hòa khoáng chất (mềm hoặc dễ gãy của xương), vi phạm cấu trúc bên trong của nó, dẫn đến không chỉ các bệnh về xương, mà còn dẫn đến bệnh chung của cơ thể. Do đó, thành phần khoáng chất của xương bị ảnh hưởng không chỉ bởi trạng thái của phần hữu cơ (xương) mà còn do ăn kết hợp với hoạt động thể chất. Sự vắng mặt của thứ hai dẫn đến việc loại bỏ nhanh chóng muối canxi ra khỏi cơ thể, điều này phải được xem xét trong quá trình mang thai của động vật.

Xương của bộ xương (Hình 2) được chia thành bốn loại cơ bản ở dạng: phẳng ngắn (xương bả vai, xương sườn, xương chậu, xương sọ), hỗn hợp (đốt sống), xương ống dài (xương chi). Họ có một tủy xương đỏ – cơ quan tạo máu.

Bộ xương của chó (Hình 3) bao gồm hai phần: trục và ngoại vi.

Bộ xương trục

Bộ xương trục được đại diện bởi hộp sọ, cột sống và ngực.

Hộp sọ Chó dễ tính, duyên dáng. Hình dạng của nó rất đa dạng tùy thuộc vào giống. Có hộp sọ dài – dolichocephalic (collie, Doberman và những người khác) và ngắn – brachycephalic (pug, Bắc Kinh và những người khác).

Крышу черепной коробки образуют теменная, межтеменная и лобная кость. Теменная кость парная и граничит с затылочной. У молодых животных на месте швов образуется затылочный родничок, в котором закладывается парный очажок окостенения. Из него впоследствии формируется непарная межтеменная кость. Phòng xông hơi xương trán, gồm ba tấm. Sines (khoang chứa đầy không khí và lót màng nhầy) được hình thành giữa các mảng của xương trán, rất nhỏ ở chó. Các xoang đối xứng không được truyền đạt, nhưng có những vách ngăn không liên tục bên trong chúng. Do đó, có khả năng nhiễm trùng từ xoang này sang xoang khác.

Các thành bên của hộp sọ tạo thành xương thái dương, bao gồm:

* phần có vảy – tấm tạo thành bức tường bên,

* phần đá – trong đó, cụ thể là trong mê cung xương, từ đó các khe hở bên ngoài của ốc tai và ốc tai mở ra bên ngoài là các cơ quan thính giác và cân bằng. Thông qua chúng, khoang của mê cung xương của tai trong giao tiếp với các không gian đầu vào của khoang sọ. Các bệnh về cơ quan thính giác cũng có thể dẫn đến bệnh về màng não – viêm màng não,

* phần trống, nơi đặt bàng quang trống, trong đó tai giữa được đặt. Ống thính giác hoặc ống Eustachian mở thông qua khoang của phần nhĩ, qua đó tai giữa giao tiếp với khoang hầu họng. Đây là con đường lây nhiễm từ hầu họng đến tai giữa.

Nền của hộp sọ (đáy của khoang sọ) tạo thành xương hình nêm và xương chẩm (cơ thể). Xương sphenoid có sự xuất hiện của một con bướm: cơ thể và cánh. Bề mặt bên trong bao gồm hai bước giống với yên châu Á và do đó được gọi là “yên Thổ Nhĩ Kỳ”, nơi đặt tuyến yên (tuyến nội tiết). Dọc theo mép trước của mặt ngoài của cánh là các lỗ thông qua đó các dây thần kinh sọ nối não với các cơ quan của đầu. Ở phía bên ngoài của xương sphenoid, có các quá trình portgoid đóng khung cho chuối rộng. Tại cơ sở của các quá trình này, có một ống dẫn lưu thông qua đó động mạch tối đa và dây thần kinh đi qua.

Một lỗ rách rưới đi qua rìa xương chẩm qua đó các dây thần kinh sọ thoát ra.

Thành sau của hộp sọ được đại diện bởi xương chẩm. Nó bao gồm ba phần hợp nhất:

* vảy – ở chó, một đỉnh chẩm khá rõ của hình tam giác sắc nét, rõ rệt được hình thành trên đó,

* Condylar (các phần bên) xung quanh một lỗ mở lớn (đây là nơi tủy sống nổi lên trong ống sống). Ở hai bên của nó là bao cao su, được bọc bằng sụn khớp,

* cơ thể của xương chẩm (phần chính).

Thành trước của hộp sọ được hình thành bởi xương ethmoid và xương trán. Xương lưới không thể nhìn thấy trên bề mặt của hộp sọ. Nó nằm trên đường viền giữa hộp sọ và khoang mũi. Phần chính của nó là mê cung, nơi đặt cơ quan khứu giác.

Xương mõm, nằm trước hộp sọ, tạo thành hai khoang – mũi và miệng.

Mái nhà khoang mũi tạo thành xương mũi ghép. Trước mắt, nó thu hẹp và kết thúc dưới dạng một hình tam giác tự do. Phía trước lối vào khoang mũi được hình thành phía trên xương mũi, và ở hai bên và dưới cùng của răng cửa, ở cạnh dưới của nó có phế nang cho răng cửa, cũng như một cặp hàm trên. Hàm trên có các tấm mũi (trong đó các khoang đáng kể được hình thành, giao tiếp với một khoảng trống trong khoang mũi) giáp với đỉnh của xương mũi. Xuống các tấm này kết thúc với cạnh phế nang, nơi các lỗ được đặt, trong đó các răng được đặt. Các quá trình vòm miệng của Lamellar, khi kết hợp với nhau, tạo thành đáy của khoang mũi và đồng thời là vòm miệng, đi từ vùng phế nang. Đằng sau chúng được đặt xương khớp nối và bên dưới – hợp tử, tạo thành cạnh trước của quỹ đạo, nơi đặt nhãn cầu.

Thành sau của khoang mũi được biểu thị bằng xương ethmoid, tấm vuông góc đi vào vách ngăn sụn mũi chia hai khoang mũi theo chiều dọc thành hai nửa. Bên dưới xương ethmoid là lối ra từ khoang mũi đến hầu họng, được hình thành bởi xương vòm miệng và xương chậu.

Một dụng cụ mở không ghép nối đi dọc theo đáy của khoang mũi, vào máng mà vách ngăn mũi được đưa vào. Dọc theo bề mặt bên trong đến hàm trên và xương mũi, hai tấm xương mỏng, phía trước, xoắn được gắn vào – vỏ, rất khó để tạo ra ở chó: tách ra, chúng tạo ra những lọn tóc dài dọc theo chiều dài.

Mái nhà khoang miệng tạo thành xương hàm và xương hàm trên, và đáy được hình thành bởi hàm dưới ghép nối – xương duy nhất của khuôn mặt được kết nối di chuyển với hộp sọ bởi khớp trong khu vực của xương thái dương. Đây là một xương nhẹ dưới dạng một cuộn băng hơi tròn. Cô ấy có một cơ thể và các chi nhánh. Trên phần răng cửa và phần răng cưa phân biệt cạnh răng, trong các lỗ của răng là răng. Ở góc ngoài của nhánh ở chó có một quá trình phóng mạnh. Giữa các nhánh trong không gian tối đa có một xương hyoid, trên đó hầu họng, thanh quản và lưỡi bị treo.

Dọc cơ thể của động vật nằm cột sống trong đó có một cột sống được hình thành bởi các thân đốt sống (phần hỗ trợ kết nối dưới dạng một vòng cung động lực làm việc của các chi) và kênh đốt sống, được hình thành bởi các vòng cung của đốt sống bao quanh tủy sống. Tùy thuộc vào tải trọng cơ học được tạo ra bởi khối lượng của cơ thể, và khả năng di chuyển của các đốt sống có hình dạng và kích thước khác nhau.

Trong mỗi đốt sống có một cơ thể và một vòng cung.

Cột sống được phân biệt thành các phần trùng khớp với hướng tác động của lực hấp dẫn bốn chân (Bảng 1).

Cột sống và số lượng đốt sống ở một con chó

Các đốt sống của cột sống cổ được kết nối di chuyển với nhau, với hai đầu tiên được thay đổi đáng kể hình dạng của chúng: atlas và epistrophy. Trên chúng chuyển động của đầu. Các xương sườn được gắn vào các cơ quan của đốt sống ngực. Các đốt sống thắt lưng có các quá trình khớp mạnh mẽ cung cấp một kết nối vững chắc hơn của các vòm của đốt sống, mà các cơ quan tiêu hóa nặng bị đình chỉ. Các đốt sống xương khớp đã phát triển cùng nhau trong xương sacral. Kích thước của đốt sống đuôi giảm dần theo khoảng cách từ xương cùng. Mức độ giảm của các bộ phận phụ thuộc vào chức năng của đuôi. Các đốt sống 5-8 đầu tiên vẫn giữ lại các bộ phận của chúng – cơ thể và vòng cung. Trong các đốt sống tiếp theo, ống đốt sống đã vắng mặt. Cơ sở của đuôi chỉ là “cột” của các đốt sống. Ở chó con mới sinh, đốt sống đuôi có mức độ khoáng hóa thấp, do đó, một số giống chó (ví dụ, Airedale Terrier) cập bến (cắt bao quy đầu) ở độ tuổi sớm của một phần đuôi.

Lồng xương sườn hình thành bởi xương sườn và thịt ức. Các xương sườn được di chuyển gắn bên phải và bên trái đến đốt sống của cột sống ngực. Chúng ít di động ở phần trước của ngực, nơi gắn một cái vảy. Về vấn đề này, thùy trước của phổi thường bị ảnh hưởng bởi bệnh phổi. Những con chó có 13 cặp xương sườn. Chúng được uốn cong vòng cung. Cái râu có dạng que rõ ràng. Chiếc rương có hình nón, hai bên dốc.

Bộ xương ngoại biên hoặc bộ xương chân tay

Ngực chi Trình bày bởi:

* một lưỡi dao gắn vào cơ thể trong khu vực của xương sườn đầu tiên,

* vai, bao gồm các humerus,

* cẳng tay đại diện bởi bán kính và xương ulna,

* một bàn chải bao gồm một cổ tay (7 xương), metacarpus (5 xương) và phalang của các ngón tay. Con chó có 5 ngón tay, đại diện là 3 phalang, đầu tiên của ngón tay được treo và có 2 phalang. Ở cuối các ngón tay có một chiếc lược vuốt. Chân chậu bao gồm:

* xương chậu, mỗi nửa là xương không có vành. Trên cùng là xương chậu, bên dưới xương mu và xương hàm,

* đùi, đại diện bởi xương đùi và xương bánh chè, trượt trên khối xương đùi,

* xương chày, bao gồm xương chày và xương mác,

* bàn chân, đại diện bởi tarsus (7 xương), metatarsus (5 xương) và phalang của các ngón tay (5 ngón tay từ 3 phalang, đầu tiên của ngón tay được treo (có lợi) và có 2 phalang. Có một chiếc lược ở cuối ngón tay.

Trong số các bệnh của các cơ quan của bộ máy vận động, các quá trình bệnh lý ở khớp xương, đặc biệt là khớp tay chân ở động vật, là phổ biến hơn. Có một số loại xương khớp.

Liên tục. Loại khớp này có độ đàn hồi lớn, sức mạnh và khả năng di chuyển rất hạn chế. Tùy thuộc vào cấu trúc của mô nối xương, các loại hợp chất sau đây được phân biệt:

* với sự trợ giúp của mô liên kết – hội chứng, và nếu các sợi đàn hồi chiếm ưu thế trong đó – synelastosis. Một ví dụ về loại kết nối này là các sợi ngắn kết nối chắc chắn giữa xương này với xương khác, ví dụ, xương cẳng tay và chân dưới ở chó,

* với sự trợ giúp của mô sụn – synchondrosis. Loại kết nối này có tính di động thấp, nhưng cung cấp sức mạnh và độ đàn hồi của kết nối (ví dụ: kết nối giữa các thân đốt sống),

* Với sự trợ giúp của mô xương – khớp thần kinh, xảy ra, ví dụ, giữa xương cổ tay và tarsus. Khi động vật già đi, synostosis lây lan trong bộ xương. Nó xảy ra tại vị trí của hội chứng hoặc hội chứng.

Trong bệnh lý, kết nối này có thể xảy ra khi không có mặt bình thường, ví dụ, giữa các xương của khớp sacroiliac do không hoạt động thể chất, đặc biệt là ở động vật già,

* với sự trợ giúp của các mô cơ – khớp thần kinh, một ví dụ trong đó là sự kết hợp của scapula với cơ thể.

Không liên tục (hoạt dịch) khớp hoặc khớp. Nó cung cấp phạm vi tiếp cận lớn hơn và phức tạp hơn. Cấu trúc của các khớp rất đơn giản và phức tạp, theo hướng trục quay – đa trục, hai trục, đơn trục, kết hợp và trượt.

Khớp có một bao khớp bao gồm hai lớp, lớp ngoài (hợp nhất với màng ngoài tim) và bên trong (synovial, phân bổ synovium vào khoang khớp, nhờ đó xương không cọ xát với nhau). Hầu hết các khớp, ngoại trừ viên nang, được cố định bởi một số dây chằng khác nhau. Dây chằng thường đi dọc theo bề mặt của khớp và được cố định ở hai đầu đối diện của xương, nghĩa là chúng không can thiệp vào chuyển động chính trong khớp (ví dụ, khớp khuỷu tay).

Hầu hết các xương của hộp sọ được kết nối bởi một loại kết nối liên tục, nhưng cũng có các khớp – khớp thái dương hàm, atlantocatecular. Các cơ quan của đốt sống, ngoại trừ hai đầu tiên, được liên kết với nhau bằng các đĩa đệm (sụn), nghĩa là khớp thần kinh, cũng như dây chằng dài. Các xương sườn được kết nối bởi fascia intacoracic, bao gồm các mô liên kết đàn hồi, cũng như các cơ liên sườn và dây chằng ngang. Scapula được kết nối với cơ thể với sự trợ giúp của các cơ xương đòn và xương chậu với sự trợ giúp của khớp với xương cùng và với đốt sống đuôi đầu tiên với dây chằng. Các phần chi được gắn với nhau bằng các loại khớp khác nhau, ví dụ, sự kết nối của xương chậu với xương đùi xảy ra thông qua khớp hông đa khớp.

Mô cơ có một tính chất quan trọng để co lại, gây ra chuyển động (hoạt động năng động) và cung cấp âm sắc của cơ bắp, tăng cường các khớp ở một góc kết hợp nhất định với một cơ thể cố định (công việc tĩnh), duy trì một tư thế nhất định. Chỉ có công việc (đào tạo) của các cơ góp phần làm tăng khối lượng của chúng bằng cách tăng đường kính của các sợi cơ (phì đại) và bằng cách tăng số lượng của chúng (tăng sản). Mô cơ có ba loại, tùy thuộc vào loại sắp xếp của sợi cơ:

* mịn (thành tàu),

* vân (cơ xương),

* tim đập (trong tim).

Cơ xương được đại diện bởi một số lượng lớn (hơn 200) cơ bắp. Mỗi cơ có một phần hỗ trợ – stroma mô liên kết và nhu mô cơ hoạt động. Tải trọng tĩnh được thực hiện bởi cơ bắp, stroma càng phát triển. Trong lớp cơ của các cơ, gân liên tục được hình thành ở hai đầu của cơ bụng, hình dạng của nó phụ thuộc vào hình dạng của cơ. Nếu gân giống như dây, nó được gọi đơn giản là gân. Nếu nó bằng phẳng, thì đó là một aponeurosis. Trong một số phần của cơ bắp xâm nhập vào các mạch máu, nguồn cung cấp máu và các dây thần kinh bẩm sinh. Cơ bắp là ánh sáng và bóng tối, tùy thuộc vào chức năng, cấu trúc và cung cấp máu. Mỗi cơ bắp, nhóm cơ và tất cả các cơ của cơ thể được mặc quần áo với lớp vỏ xơ dày đặc biệt – fascia. Để ngăn ngừa ma sát của cơ, gân hoặc dây chằng, làm mềm sự tiếp xúc của chúng với các cơ quan khác, để tạo điều kiện trượt với sự chuyển động lớn, các vết nứt được hình thành giữa các tấm fascia, được lót bởi một lớp vỏ, tiết ra chất nhầy trong khoang kết quả. Những cấu trúc này được gọi là bursa niêm mạc, hoặc hoạt dịch. Các bursas như vậy được đặt, ví dụ, trong các khu vực của khuỷu tay và khớp gối, và sự thất bại của chúng đe dọa khớp.

Cơ bắp có thể được phân loại theo một số tiêu chí.

* lamellar (cơ bắp của đầu và cơ thể),

* dày dài (trên các chi),

* cơ thắt (nằm ở rìa của các lỗ, không có điểm đầu cũng như điểm cuối, ví dụ, cơ thắt hậu môn),

* kết hợp (gấp ra khỏi các chùm riêng lẻ, ví dụ, các cơ của cột sống).

Theo cấu trúc bên trong:

* năng động (các cơ thực hiện tải trọng động, cơ nằm trên cơ thể càng cao thì càng năng động),

* Statodynamic (chức năng tĩnh của cơ trong quá trình hỗ trợ, duy trì các khớp động vật ở dạng mở rộng khi đứng, khi chịu tác động của trọng lượng cơ thể, các khớp của tứ chi có xu hướng uốn cong, cơ loại này mạnh hơn cơ bắp năng động),

* tĩnh (cơ mang tải tĩnh, cơ nằm càng thấp trên cơ thể, chúng càng tĩnh).

* chất bổ sung (hàm khử),

* kẻ bắt cóc (chức năng chì),

* công cụ quay (chức năng quay).

Công việc cơ bắp được kết nối chặt chẽ với cơ thể cân bằng và ở một mức độ lớn với các giác quan khác. Nhờ kết nối này, các cơ cung cấp sự cân bằng của cơ thể, độ chính xác của các động tác, sức mạnh.

Do đó, là kết quả của hành động chung của hệ cơ với bộ xương, một số công việc được thực hiện (ví dụ, động vật di chuyển). Trong quá trình hoạt động, sự tích tụ nhiệt xảy ra.

Do đó, vào mùa ấm áp, với công việc chuyên sâu ở chó, cơ thể quá nóng có thể xảy ra – say nắng.

Trong thời gian lạnh, để tránh hạ thân nhiệt, động vật cần di chuyển nhiều hơn.

Da

Cơ thể của chó được bao phủ bởi da lông và các cơ quan hoặc dẫn xuất của da.

Nó bảo vệ cơ thể khỏi các tác động bên ngoài, thực hiện, thông qua nhiều đầu dây thần kinh, vai trò của một đơn vị thụ thể của máy phân tích da của môi trường bên ngoài (xúc giác, đau và nhạy cảm với nhiệt độ). Thông qua nhiều loại mồ hôi và tuyến bã nhờn, một số sản phẩm trao đổi chất được giải phóng, qua miệng túi tóc, tuyến da, bề mặt da có thể hấp thụ một lượng nhỏ dung dịch. Các mạch máu của da có thể chứa tới 10% máu của một con chó. Giảm và mở rộng các mạch máu là rất cần thiết trong việc điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Da có chứa vitamin. Dưới ảnh hưởng của tia cực tím, vitamin D được sản xuất.

Trong vùng da phủ đầy tóc, các lớp sau được phân biệt (Hình 6).

1. Biểu bì (biểu bì) – lớp ngoài cùng. Lớp này xác định màu của da, và các tế bào bị giác mạc bị tróc ra, do đó loại bỏ bụi bẩn, vi sinh vật, v.v., khỏi bề mặt da. Tóc mọc ở đây: 3 hoặc nhiều hơn (dày và dài) và 6-12 lớp lông ngắn và mềm.

2. Derma (da thích hợp):

* lớp pilyarny, trong đó có tuyến bã nhờn và mồ hôi, chân tóc trong nang lông, cơ bắp – người nâng tóc, nhiều mạch máu và bạch huyết và đầu dây thần kinh,

* lớp lưới bao gồm một đám rối collagen và một lượng nhỏ sợi đàn hồi.

Trong lớp hạ bì là các tuyến thơm, tiết ra mùi đặc trưng cho mỗi giống. Trên các khu vực không có lông (mũi, cằm, bìu ở con đực và chó cái), da hình thành các mẫu riêng biệt cho từng mẫu vật nuôi.

3. Cơ sở dưới da (lớp dưới da), đại diện bởi mô liên kết lỏng lẻo và mô mỡ.

Lớp này được gắn vào các fascia bề ngoài bao phủ cơ thể của con chó.

Nó lưu trữ các chất dinh dưỡng dự phòng dưới dạng chất béo.

DERIVATIVES CỦA DA

Các dẫn xuất của da bao gồm sữa, mồ hôi và tuyến bã nhờn, móng vuốt, vụn, lông và gương mũi của chó.

Tuyến bã nhờn. Các ống dẫn của chúng mở vào miệng của nang lông. Сальные железы выделяют сальный секрет, который, смазывая кожу и волосы, придает им мягкость и эластичность.

Потовые железы. Их выводные протоки открываются на поверхность эпидермиса, через которые выделяется жидкий секрет – пот. Потовых желез у собак немного. Расположены они в основном в области мякишей на лапах и на языке. Собака потеет не всем телом, лишь учащенное дыхание через открытый рот и испарение жидкости из ротовой полости регулируют температуру ее тела.

Молочные железы. Chúng có nhiều và được sắp xếp thành hai hàng ở phần dưới của ngực và thành bụng, 4 – 6 cặp đồi ở mỗi hàng. Trong mỗi ngọn đồi có một vài thùy của tuyến mở thông qua các kênh núm vú ở đầu núm vú. Mỗi núm vú có 6 kênh t2020.

Tóc Đây là những sợi fusiform từ biểu mô sừng nhiều lớp và keratin hóa. Phần tóc mọc phía trên bề mặt da được gọi là phần cuống, phần bên trong da được gọi là phần gốc. Rễ đi vào trong bóng đèn, và bên trong bóng đèn là nhú của tóc.

Theo cấu trúc có bốn loại tóc chính.

1. Bao gồm – dài nhất, dày, đàn hồi và dẻo dai, gần như thẳng hoặc chỉ hơi gợn sóng. Nó phát triển với số lượng lớn trên cổ và dọc theo cột sống, trên hông và nhỏ hơn – ở hai bên. Một tỷ lệ lớn của loại lông này thường là chó lông chó. Ở những con chó lông ngắn, lông che phủ không có hoặc nằm trong một dải hẹp dọc theo lưng.

2. Ostevy (che tóc) – tinh tế và nhẹ nhàng hơn. Nó dài hơn lớp lót, che chặt nó, do đó bảo vệ nó khỏi bị ướt và xóa. Ở những con chó lông dài, nó được uốn ở các mức độ khác nhau, đó là lý do tại sao chúng phân biệt lông thẳng, cong và xoăn.

3. Lớp lông là lông ngắn và mỏng nhất, rất ấm, phù hợp với toàn bộ cơ thể của chó và giúp giảm nhiệt cơ thể trong mùa lạnh. Nó đặc biệt phát triển ở những con chó nuôi bên ngoài trong mùa lạnh. Thay đổi áo lót (molt) xảy ra hai lần một năm.

4. Rung động – tóc nhạy cảm. Kiểu tóc này nằm trên da ở môi, lỗ mũi, cằm và mí mắt.

Có một số lượng lớn các phân loại áo về chất lượng tóc.

Bởi sự hiện diện của lớp lót:

* chó không có lông,

* chó có lớp lông lót.

Theo bản sắc của bộ lông của chúng, những con chó là:

* lông mượt (bull terrier, Doberman, Dalmatian và những người khác),

* tóc thẳng (beagle, rottweiler, labrador và những người khác),

* tóc ngắn có tóc (St. Bernard, nhiều người Tây Ban Nha và những người khác),

* tóc xù (terrier, schnauzers và những người khác),

* tóc trung bình (collie, pomeranian, Bắc Kinh và những người khác),

* tóc dài (Yorkshire Terrier, Shih Tzu, Afghanistan Hound và những người khác),

* tóc dài với tóc dây (poodle, chỉ huy và những người khác),

* lông xù dài (Kerry Blue Terrier, Bichon Frize và những người khác).

Màu tóc được xác định bởi hai sắc tố: vàng (đỏ và nâu) và đen. Sự hiện diện của sắc tố ở dạng nguyên chất của nó mang lại một màu hoàn toàn đơn sắc. Nếu các sắc tố được trộn lẫn, sau đó có các màu khác.

Hầu hết những con chó rụng hai lần một năm: vào mùa xuân và mùa thu. Hiện tượng này được gọi là lột xác sinh lý. Mùa xuân thường dài hơn và rõ rệt hơn. Rụng là một sự bảo vệ tự nhiên của con chó khỏi cái nóng mùa hè và thay thế lông cũ bằng cái mới. Đối với mùa hè, những con chó chủ yếu có một bộ lông bảo vệ, và lớp lông rơi ra. Vào mùa đông, trái lại, một lớp lông dày và ấm phát triển. Khi nuôi chó ở nhà, thời gian lột xác dài hơn so với những người sống trên đường phố.

Myakishi Đây là khu vực hỗ trợ của các chi. Ngoài chức năng hỗ trợ, chúng là cơ quan cảm ứng. Các mảnh vụn tạo thành lớp da dưới da. Một con chó có 6 mảnh vụn ở mỗi chi ngực và 5 trên mỗi xương chậu.

Hệ thần kinh

Hệ thống thần kinh là một tập hợp các cấu trúc trong cơ thể động vật kết hợp các hoạt động của tất cả các cơ quan và hệ thống và đảm bảo sự hoạt động của toàn bộ sinh vật trong sự tương tác liên tục của nó với môi trường bên ngoài. Đơn vị cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh là tế bào thần kinh – tế bào thần kinh – cùng với các tế bào thần kinh đệm. Loại thứ hai mặc các tế bào thần kinh và cung cấp cho chúng các chức năng hỗ trợ và chiến đấu. Các tế bào thần kinh có một số quá trình – sợi nhánh nhạy cảm, phân nhánh cây, dẫn đến cơ thể của một tế bào thần kinh nhạy cảm, sự kích thích xảy ra ở đầu dây thần kinh nhạy cảm của chúng, nằm trong các cơ quan và một sợi trục động cơ, qua đó xung thần kinh được truyền từ tế bào thần kinh đến cơ quan làm việc. Các nơ-ron tiếp xúc với nhau với sự trợ giúp của các quá trình, tạo thành chuỗi phản xạ mà qua đó các xung thần kinh được truyền đi.

Quá trình của các tế bào thần kinh kết hợp với các tế bào thần kinh hình thành sợi thần kinh. Những sợi này trong não và tủy sống chiếm phần lớn chất trắng. Từ các quá trình của các tế bào thần kinh được hình thành các bó, trong đó được mặc như một nhóm vỏ phổ biến được hình thành dây thần kinh ở dạng cấu trúc chuỗi. Thần kinh có chiều dài và độ dày khác nhau. Các sợi thần kinh được chia thành nhạy cảm – nhạy cảm, truyền các xung thần kinh từ thụ thể đến hệ thần kinh trung ương, và tác động, dẫn các xung từ hệ thống thần kinh trung ương đến cơ quan bẩm sinh: myelin (bẩm sinh các cơ của cơ thể và các cơ quan nội tạng), không phải myelin (bẩm sinh cơ quan nội tạng).

hạch thần kinh – các nhóm tế bào thần kinh của phần trung tâm của hệ thần kinh, được phân bổ cho ngoại vi. Chúng đóng vai trò của một máy biến áp bước xuống, cũng như một máy gia tốc dẫn truyền xung thần kinh trong hạch nhạy cảm và gây ức chế các cơ quan nội tạng trong các nút tác nhân. Các hạch thần kinh là một khu vực nhân lên, trong đó từ một sợi có thể lan truyền đến một số lượng lớn tế bào thần kinh.

Thần kinh – những nơi có sự trao đổi giữa các dây thần kinh, bó hoặc sợi dành cho việc phân phối lại các sợi thần kinh trong các hợp chất phức tạp trong các phân đoạn khác nhau của tủy sống và não.

Về mặt giải phẫu, hệ thống thần kinh được chia thành trung tâm, bao gồm não và tủy sống với hạch thần kinh cột sống, ngoại biên, bao gồm các dây thần kinh sọ và cột sống nối hệ thống thần kinh trung ương với các thụ thể và các thiết bị của các cơ quan khác nhau. Điều này bao gồm các dây thần kinh của cơ xương và da – phần soma của hệ thống thần kinh và mạch máu – giao cảm. Hai phần sau này được hợp nhất bởi khái niệm hệ thống thần kinh tự trị hoặc thực vật.

Não

Đây là phần đầu của phần trung tâm của hệ thần kinh, nằm trong khoang sọ. Có hai bán cầu, cách nhau bởi một luống và có con quay. Chúng được bao phủ bằng chất vỏ não hoặc vỏ cây.

Các phần sau đây được phân biệt trong não:

* não cuối (não khứu giác và áo mưa),

* diencephalon (cusps thị giác (thalamus), nadormsorye (epithalamus), hypothalamus (hypothalamus), peri-cuspidus (metatalamus),

* midbrain (chân của bộ não lớn và bốn má),

* não sau (tiểu não và cầu),

Não được mặc ba vỏ: rắn, màng nhện và mềm. Giữa màng rắn và màng nhện có một không gian dưới màng cứng chứa đầy dịch não tủy (dòng chảy của nó có thể vào hệ thống tĩnh mạch và vào các cơ quan lưu thông bạch huyết), và giữa không gian màng nhện và mềm – màng nhện.

Tủy sống

Tủy sống là một phần của phần trung tâm của hệ thần kinh, là một dây của các mô não với tàn dư của khoang não. Nằm trong ống sống và bắt đầu từ hành tủy và kết thúc ở khu vực của đốt sống thắt lưng thứ 7. Tủy sống được phân chia có điều kiện mà không có ranh giới có thể nhìn thấy vào các vùng cổ tử cung, ngực và thắt lưng, bao gồm các chất xám và trắng não. Trong chất xám có một số trung tâm thần kinh soma thực hiện các phản xạ vô điều kiện khác nhau, ví dụ, ở cấp độ của các đoạn thắt lưng, có các trung tâm nằm ở các chi chậu và thành bụng. Tủy trắng bao gồm các sợi myelin và nằm xung quanh màu xám dưới dạng ba cặp can (bó), trong đó các đường dẫn của cả hai thiết bị phản xạ của tủy sống và các đường đi lên tới não (cảm giác) và đi xuống từ nó (vận động).

Tủy sống được bao phủ bởi ba lớp vỏ: rắn, màng nhện và mềm, giữa đó có các vết nứt chứa đầy chất lỏng cột sống. Ở chó, chiều dài của tủy sống trung bình là 78 ​​cm với khối lượng 33 g.

Hệ thần kinh ngoại biên

Phần ngoại vi của hệ thần kinh là một phần tách biệt về mặt địa lý của hệ thần kinh đơn, nằm bên ngoài não và tủy sống. Nó bao gồm các dây thần kinh sọ và cột sống với rễ, đám rối, hạch và các đầu không đều được nhúng trong các cơ quan và mô. Do đó, 31 cặp dây thần kinh ngoại biên đang di chuyển ra khỏi tủy sống và 12 cặp từ não.

Trong hệ thống thần kinh ngoại biên, người ta thường phân biệt ba phần – somatic (trung tâm kết nối với cơ xương), giao cảm (liên kết với các cơ trơn của các mạch của cơ thể và các cơ quan nội tạng), giao cảm (liên kết với các cơ trơn và các tuyến của các cơ quan nội tạng) và mô liên kết (bẩm sinh).

Hệ thống thần kinh thực vật (tự trị)

Hệ thống thần kinh tự trị có các trung tâm đặc biệt trong tủy sống và não, cũng như một số hạch nằm bên ngoài tủy sống và não. Phần này của hệ thống thần kinh được chia thành:

* giao cảm (bảo tồn các cơ trơn mạch máu, các cơ quan nội tạng, các tuyến), các trung tâm nằm ở vùng ngực của tủy sống,

* giao cảm (bảo tồn đồng tử, tuyến nước bọt và tuyến lệ, cơ quan hô hấp, cơ quan nằm trong khoang chậu), có trung tâm nằm trong não.

Điểm đặc biệt của hai bộ phận này là bản chất đối kháng trong việc cung cấp các cơ quan nội tạng của chúng, nghĩa là, nơi hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động một cách kích thích, giao cảm – trầm cảm. Ví dụ, trái tim được bẩm sinh bởi các dây thần kinh giao cảm và lang thang. Dây thần kinh phế vị kéo dài từ trung tâm giao cảm làm chậm nhịp tim, làm giảm kích thước của cơn co thắt, làm giảm sự hưng phấn của cơ tim và giảm tốc độ của sóng kích thích qua cơ tim. Các dây thần kinh giao cảm hành động theo hướng ngược lại.

Hệ thống thần kinh trung ương và vỏ não điều chỉnh tất cả các hoạt động thần kinh cao hơn thông qua các phản xạ. Có những phản ứng cố định về mặt di truyền của hệ thần kinh trung ương đối với các kích thích bên ngoài và bên trong – thực phẩm, tình dục, phòng thủ, định hướng, sự xuất hiện của nước bọt khi nhìn thấy thức ăn. Những phản ứng này được gọi là phản xạ bẩm sinh hoặc vô điều kiện. Chúng được cung cấp bởi não, thân của tủy sống, hệ thống thần kinh tự trị. Phản xạ có điều kiện có được các phản ứng thích nghi riêng lẻ của động vật phát sinh trên cơ sở hình thành mối liên hệ tạm thời giữa tác nhân gây khó chịu và phản xạ không điều kiện. Một ví dụ về phản xạ như vậy – việc thực hiện các nhu cầu tự nhiên cho một cuộc đi bộ. Trung tâm của sự hình thành loại phản xạ này cũng là vỏ não của bán cầu não.

PHÂN TÍCH THỰC TẾ

Nó bao gồm cơ quan thị giác – mắt, bao quanh thụ thể thị giác, dây dẫn – dây thần kinh thị giác và não và các trung tâm não dưới vỏ não và vỏ não.

Mắt Bao gồm nhãn cầu, được kết nối thông qua dây thần kinh thị giác đến não và các cơ quan phụ của nó.

Hầu hết các nhãn cầu có hình dạng hình cầu và nằm trong khoang xương – hốc mắt hoặc quỹ đạo hình thành bởi xương của hộp sọ. Cực trước là lồi, và cực sau có phần dẹt. Nhãn cầu bao gồm các vỏ sau đây.

* albumen (sclera) – rắn chắc, đeo 4/5 nhãn cầu, ngoại trừ cực trước, nó đóng vai trò là bộ xương mạnh mẽ của thành mắt, các gân cơ mắt được gắn vào nó,

* giác mạc trong suốt, dày đặc và khá dày, nó chứa nhiều dây thần kinh, nhưng không có mạch máu, tham gia dẫn ánh sáng đến võng mạc, nhận thấy đau và áp lực, nơi giác mạc đi vào màng cứng được gọi là chi (cạnh).

* cầu vồng là phần sắc tố và phần trước của lớp vỏ giữa, ở phần trung tâm của nó có một lỗ – đồng tử (nó tròn ở chó), mô cơ trơn tạo thành hai cơ ở mống mắt – cơ vòng (vòng) và phần giãn của đồng tử (xuyên tâm) mở rộng hoặc thuôn, đồng tử điều chỉnh sự xâm nhập của các tia sáng vào nhãn cầu,

* cơ thể mật – một phần dày của vỏ giữa. Nằm ở dạng một vòng rộng tới 10 mm xung quanh ngoại vi của bề mặt sau của mống mắt giữa nó và màng đệm, phần chính là cơ bắp, mà dây chằng (ống kính) hỗ trợ cho ống kính được gắn vào, ống kính trở nên lồi lõm dưới ống kính này. .

* màng đệm thích hợp là mặt sau của lớp lót giữa của nhãn cầu, nó được đặc trưng bởi sự phong phú của các mạch máu và nằm giữa màng cứng và võng mạc, nuôi dưỡng phần sau,

Nội bộ, hoặc võng mạc:

* mặt sau là hình ảnh, nằm dọc hầu hết thành của nhãn cầu, nơi nhận thức ánh sáng được nhận biết và chuyển thành tín hiệu thần kinh, nó bao gồm một thần kinh (bên trong, cảm quang, cơ thể thủy tinh) và sắc tố (bên ngoài, liền kề với màng đệm) . Trong lớp dây thần kinh có các tế bào thần kinh tế bào cảm quang gồm hai loại, các que (có nhiều hơn) và hình nón, tương ứng mang lại cảm giác ánh sáng và màu sắc. Nơi chuyển của võng mạc sang dây thần kinh thị giác được gọi là điểm mù. Không có tế bào cảm quang trong đó. Ở trung tâm của võng mạc, một điểm màu vàng với hình tròn với một lỗ ở giữa nổi bật. Đây là một âm mưu của nhận thức màu sắc tốt. Trong cuộc sống, võng mạc mềm mại, màu hồng, trong suốt và sau khi chết, nó trở nên nhiều mây,

* phần trước – mù, che phủ bên trong cơ thể và mống mắt, cùng với nó phát triển, bao gồm các tế bào sắc tố và không có lớp cảm quang.

Phần trước của nhãn cầu đến giác mạc và bề mặt bên trong của mí mắt được bao phủ bởi màng nhầy – kết mạc. Khoang của nhãn cầu chứa đầy môi trường khúc xạ ánh sáng: thấu kính và nội dung của các khoang trước, sau và thủy tinh thể của mắt. Khoang trước của mắt là khoảng trống giữa giác mạc và mống mắt, khoang sau của mắt là khoảng trống giữa mống mắt và thấu kính. Chất lỏng trong buồng nuôi dưỡng các mô của mắt, loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất, dẫn các tia sáng từ giác mạc đến ống kính. Ống kính là một cơ thể trong suốt dày đặc, có dạng thấu kính hai mặt (thay đổi bề mặt của nó) và nằm giữa mống mắt và cơ thể thủy tinh thể. Đây là cơ quan lưu trú. Với tuổi tác, ống kính trở nên kém đàn hồi. Khoang thủy tinh là khoảng trống giữa thấu kính và võng mạc, chứa đầy cơ thể thủy tinh (khối trong suốt, dạng gelatin bao gồm 98% nước). Chức năng của nó là duy trì hình dạng và tông màu của nhãn cầu, giữ ánh sáng và tham gia vào quá trình chuyển hóa nội nhãn.

Các cơ quan thứ cấp của mắt là mí mắt, bộ máy lệ, cơ mắt, quỹ đạo, quỹ đạo trước và fascia. Веки – это кожно-слизисто-мышечные складки. Они расположены впереди от глазного яблока и предохраняют глаза от механических повреждений. Во внутреннем углу глаза у собак есть небольшое утолщение конъюнктивы – слезный бугорок со слезным канальцем в центре, вокруг которого имеется небольшое углубление – слезное озеро. Третье веко – это мигательная перепонка, которая представляет собой полулунную складку конъюнктивы, расположенную на глазном яблоке во внутреннем углу век. Слезный аппарат – это слезные железы, канальцы, слезный мешок и носослезный проток.Các ống bài tiết của các tuyến lệ với số lượng 6-8 lớn và một số nhỏ mở ra trong kết mạc của thế kỷ. Bí mật bao gồm chủ yếu là nước, chứa enzyme lysozyme, có tác dụng diệt khuẩn. Khi mí mắt di chuyển, chất lỏng trong nước sẽ giữ ẩm và làm sạch kết mạc và tích tụ trong hồ nước. Từ đây, bí mật đi vào ống lệ, mở ra ở góc trong của mắt. Trên người họ một giọt nước mắt rơi vào túi lệ, từ đó ống mũi bắt đầu.

Các cơ mắt là bảy nằm bên trong periorbita. Chúng cung cấp sự chuyển động của nhãn cầu theo các hướng khác nhau trong quỹ đạo. Vị trí của nhãn cầu được gọi là quỹ đạo, và quỹ đạo là khu vực đặt mặt sau của nhãn cầu, dây thần kinh thị giác, cơ bắp, fascia, mạch và dây thần kinh.

Tầm nhìn của chó có những đặc điểm riêng. Con chó không thể nhìn thấy vật thể cùng một lúc bằng hai mắt, vì mỗi mắt có một góc nhìn riêng. Chó thiếu nhận thức màu sắc về thế giới, nhưng nó phân biệt rõ giữa các vật thể có hình dạng khác nhau.

Người bạn bốn chân của bạn có thể nhìn thấy chuyển động của các vật thể ở khoảng cách 250-300 m và hơn thế nữa.

Khiếm thính cân bằng hoặc máy phân tích âm tĩnh

Máy phân tích này bao gồm các thụ thể – cơ quan ốc tai trước cửa, các con đường và trung tâm não. Cơ quan ốc tai, hay tai, là một tập hợp các cấu trúc phức tạp, đảm bảo nhận thức về âm thanh, tín hiệu rung và lực hấp dẫn. Receptor nhận biết các tín hiệu này nằm trong tiền đình màng và ốc tai màng, xác định tên của cơ quan.

Tai (Hình.9) bao gồm tai ngoài, giữa và trong.

Tai ngoài – Đây là phần hấp thụ âm thanh của cơ quan bao gồm auricle, cơ bắp của nó và kênh thính giác bên ngoài. Các auricle là một nếp gấp da di động có hình phễu với tóc, cơ sở được hình thành bởi sụn đàn hồi. Ở chó, kích thước và hình dạng của vỏ có đặc điểm phả hệ đáng kể. Ở mép sau của vỏ với bề mặt bên trong của nó có một túi da. Cơ bắp rất nhiều và phát triển tốt. Họ thực hiện chuyển động của cực quang, biến nó thành nguồn âm thanh. Kênh thính giác bên ngoài phục vụ cho việc rung động âm thanh đến màng nhĩ và là một ống hẹp có độ dài khác nhau. Cơ sở của nó là sụn đàn hồi và một ống xương. Ở chó, kênh thính giác bên ngoài ngắn, góp phần vào sự chuyển đổi nhanh chóng của hệ vi sinh vật gây bệnh sang tai giữa.

Tai giữa – nó là một cơ quan âm thanh và biến đổi âm thanh của cơ quan tiền ốc tai, được đại diện bởi một khoang nhĩ với một chuỗi các thính giác trong đó. Khoang trống nằm ở phần nhĩ của xương đá. Trên bức tường phía sau của khoang này có hai lỗ mở hoặc cửa sổ: cửa sổ tiền đình, được đóng bởi một cánh khuấy và cửa sổ ốc tai, được đóng bởi một lớp màng bên trong. Trên bức tường phía trước có một lỗ dẫn vào lỗ thính giác trong cổ họng. Khoang trống của chó tương đối lớn. Màng nhĩ là một màng có thể co giãn yếu, dày khoảng 0,1 mm ngăn cách tai giữa với tai ngoài. Các hạt thính giác của tai giữa là malleus, incus, xương dạng thấu kính và cánh khuấy. Với sự trợ giúp của dây chằng và khớp, chúng được hợp nhất thành một chuỗi, với một đầu tựa vào màng nhĩ và đầu kia – chống lại cửa sổ tiền đình. Thông qua chuỗi các thính giác này, các rung động âm thanh được truyền từ màng nhĩ đến chất lỏng của tai trong, perilymph.

Chó cũng xác định vị trí nguồn âm thanh. Ví dụ, máy phân tích thính giác nhận thấy sóng âm thanh với tần số lên tới 40 nghìn rung động mỗi giây và tiếng sột soạt – ở khoảng cách 24 m. Các tín hiệu âm thanh khác nhau được sử dụng rộng rãi trong huấn luyện chó khi ra lệnh bằng giọng nói, tiếng huýt sáo và các nguồn âm thanh khác.

PHÂN TÍCH KÍCH THƯỚC, HOẶC HOẶC CƠ THỂ

Nó nằm ở độ sâu của khoang mũi, cụ thể là trong đường mũi nói chung, ở phần trên của nó, khu vực được lót bằng biểu mô khứu giác. Các tế bào của biểu mô khứu giác là khởi đầu của các dây thần kinh khứu giác, thông qua đó sự kích thích được truyền đến não. Ở chó, số lượng tế bào khứu giác khoảng 125 triệu. Mùi là khả năng động vật nhận biết một tính chất (mùi) nhất định của các hợp chất hóa học trong môi trường. Các phân tử của các chất có mùi, là tín hiệu về một số vật thể hoặc sự kiện trong môi trường, cùng với không khí đến các tế bào khứu giác khi chúng được hít qua mũi hoặc qua miệng (trong khi ăn qua chuối).

Chó có mức độ mùi cao, nhưng nó phụ thuộc trực tiếp vào tính cách và thể lực của con vật. Ví dụ, chó con sinh ra bị mù và điếc, nhưng với khứu giác tuyệt vời, trong những ngày đầu tiên giúp chúng điều hướng thế giới bên ngoài và chó săn ngửi thấy trò chơi ở khoảng cách 1 km. Khứu giác của con chó mạnh hơn 11,5 lần so với con người. Cảm giác về mùi giảm đi khi cơ thể mệt mỏi, với các quá trình viêm và teo trong màng nhầy của mũi và sưng, cũng như sự vi phạm của nó xảy ra khi hệ thống thần kinh trung ương bị ảnh hưởng, nơi các xung động từ các tế bào khứu giác đến. Quá mẫn cảm với mùi là hyperosmia, giảm – giảm âm, mất mùi – anosmia. Với tác dụng kéo dài của cùng các chất gây mùi, cơ quan khứu giác bắt đầu làm mờ cảm giác khứu giác, nhưng nếu bạn nghỉ ngơi, sự nhạy cảm với các chất gây mùi này được phục hồi trở lại.

PHÂN TÍCH HẤP DẪN, HOẶC CƠ THỂ

Hương vị là một phân tích về chất lượng của các chất khác nhau đi vào khoang miệng. Cảm giác vị giác phát sinh là kết quả của việc tiếp xúc với các giải pháp hóa học với các chất hóa học của chồi vị giác của lưỡi và niêm mạc miệng. Trong trường hợp này, có một cảm giác đắng, chua, mặn, ngọt hoặc hỗn hợp. Hương vị của trẻ sơ sinh thức dậy trước tất cả các cảm giác khác.

Các chồi vị giác chứa các củ vị giác với các tế bào thần kinh biểu mô và nằm ở bề mặt trên của lưỡi. Chúng có dạng ba loại – hình nấm, hình con lăn và hình chiếc lá. Thực phẩm khô không thể ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh biểu mô của củ vị giác, đắm mình trong màng nhầy. Thức ăn được làm ẩm khi cây bị nghiền nát bởi độ ẩm, sự tiết ra của tuyến nước bọt, bao gồm cả dịch tiết do tuyến tiết ra trong thành của chồi vị giác. Thông tin về các hóa chất hòa tan kích thích các đầu dây thần kinh của dây thần kinh vận động. Các kích thích thần kinh kết quả dọc theo dây thần kinh vị giác được truyền đến vỏ não của bán cầu não, nơi tạo ra cảm giác của vị giác cơ bản. Cơ quan vị giác được sử dụng thành công trong việc huấn luyện chó (phương pháp kích thích vị giác).

PHÂN TÍCH DA HOẶC HOẶC THỰC HIỆN TỔ CHỨC

Chạm là khả năng của động vật để nhận thức các ảnh hưởng bên ngoài khác nhau. Nó được thực hiện bởi các thụ thể của da, hệ thống cơ xương (cơ, gân, khớp và những người khác), màng nhầy (môi, lưỡi và những người khác). Cảm giác xúc giác có thể rất đa dạng, vì nó phát sinh do nhận thức phức tạp về các tính chất khác nhau của một chất gây kích thích tác động lên da và mô dưới da. Thông qua liên lạc, hình dạng, kích thước, nhiệt độ, tính nhất quán của kích thích, vị trí và chuyển động của cơ thể trong không gian được xác định. Nó dựa trên sự kích thích của các cấu trúc đặc biệt – cơ chế, bộ điều nhiệt, thụ thể đau và sự chuyển đổi trong hệ thống thần kinh trung ương của các tín hiệu đến thành một loại nhạy cảm thích hợp. Ví dụ, cảm giác xúc giác được gây ra bởi sự kích thích của các chất cơ học nằm trong da ở một khoảng cách nào đó với nhau. Độ nhạy cao nhất được quan sát thấy ở động vật ở khu vực đầu và khu vực của các mảnh vụn của ngón tay. Vibrissae nhận thấy những rung động không khí nhỏ nhất. Cơn đau báo hiệu một mối nguy hiểm mới nổi và gây ra các phản ứng phòng thủ để đáp ứng với việc loại bỏ các chất kích thích sắc nhọn. Nhiều quá trình bệnh lý đi kèm với một phản ứng đau đớn, do đó, các phương pháp ngăn chặn các xung đau đã được phát triển trong y học thú y.

Máy phân tích da được sử dụng để huấn luyện chó.

Hệ tiêu hóa

Hệ thống tiêu hóa trao đổi các chất giữa cơ thể và môi trường. Thông qua các cơ quan tiêu hóa, tất cả các chất cần thiết được cung cấp cho cơ thể – protein, chất béo, carbohydrate, muối khoáng, vitamin và các chất khác – và một phần của các sản phẩm trao đổi chất và thức ăn khó tiêu được thải ra môi trường bên ngoài.

Đường tiêu hóa là một ống rỗng bắt đầu trong miệng và kết thúc ở hậu môn. Trong suốt chiều dài của nó, nó có các bộ phận chuyên biệt được thiết kế để di chuyển và đồng hóa thức ăn nuốt.

Bề mặt bên trong của đường tiêu hóa được lót bằng một màng nhầy bao gồm các tế bào biểu mô và cốc, nhà sản xuất của chất tiết nhầy. Trong suốt quá trình tiêu hóa, cấu trúc chính của thành của nó không đổi, nhưng tùy thuộc vào vị trí, các thay đổi trong màng nhầy được quan sát, được thiết kế để thực hiện các chức năng cụ thể. Bên dưới nó là một lớp mô dưới niêm mạc, được cung cấp dồi dào các mạch máu và dây thần kinh. Nó được bao quanh bởi các mô cơ trơn, bao gồm các vòng xoắn ốc bên trong và các sợi dọc bên ngoài. Trên toàn bộ đường tiêu hóa bao phủ màng huyết thanh. Ở một số nơi, các sợi cơ tròn dày lên và hình thành cơ vòng, đóng vai trò là cửa kiểm soát sự di chuyển của các cục thức ăn dọc theo đường tiêu hóa.

Các sợi cơ có thể tạo ra hai loại co thắt khác nhau: phân đoạn và nhu động (Hình 10).

Nhu động là để giảm các sợi cơ phía sau cục thức ăn và thư giãn chúng trước mặt anh ta. Kiểu co thắt này là cần thiết để di chuyển bolus thức ăn từ một phần của đường tiêu hóa sang phần khác.

Nuốt là một quá trình phức tạp chi phối bởi một số dây thần kinh sọ. Các vấn đề với việc nuốt là rất hiếm và thường được quy cho sự suy yếu trong bảo tồn dẫn đến quá trình nuốt không phối hợp. Đồng thời, con vật giảm cân do suy dinh dưỡng, và hít phải thức ăn không tiêu thụ có thể dẫn đến viêm phổi do hít phải.

Đường tiêu hóa bao gồm khoang miệng, hầu họng, thực quản, dạ dày, ruột nhỏ và lớn, trực tràng và hậu môn (hậu môn) (Hình 11). Thức ăn đi qua đường tiêu hóa với tốc độ 7,7 cm mỗi giờ, tức là 1,8 m mỗi ngày. Dư lượng chưa tiêu hóa được phân bổ trong 1,5 – 4 ngày. Thông thường, 100-300 g phân có độ đặc cao, màu nâu sẫm được giải phóng mỗi ngày.

CÁCH MOUTH

Nó bao gồm môi trên và dưới, má, lưỡi, răng, nướu, vòm miệng cứng và mềm, tuyến nước bọt, amidan, hầu họng.

Ngoại trừ thân răng, toàn bộ bề mặt bên trong của nó được bao phủ bởi một lớp màng nhầy.

Môi trên hợp nhất với mũi. Thông thường nó ẩm ướt và mát mẻ. Ở nhiệt độ cao, nó trở nên khô và ấm.

Môi và má được thiết kế để giữ thức ăn trong miệng và phục vụ như một ngưỡng của khoang miệng.

Lưỡi là một cơ quan di động cơ bắp nằm ở đáy khoang miệng và có một số chức năng: nếm thức ăn, tham gia vào quá trình nuốt, tạo thành một mứt mít khi uống. Từ trên nó được bao phủ bởi các quá trình filiform với vị giác.

Răng của chó được dùng để cắn và xé thức ăn nhiều hơn là để nhai, và cũng là vũ khí phòng thủ và tấn công. Thức ăn được nuốt trong các khối đã được đồng nhất hóa trong dạ dày.

Răng được chia thành răng cửa, răng nanh, răng hàm và răng hàm (Hình 12). Ngoại trưởng thứ tư và ngoại vi thứ nhất thấp hơn được dự định để cắn miếng thịt. Ở chó con, một vài tuần sau khi sinh, răng sữa mọc ra, ở độ tuổi 3-6 tháng được thay thế bằng những cái vĩnh viễn. Tất cả các răng đều đi qua giai đoạn sữa ngoại trừ răng hàm, là vĩnh viễn ngay từ đầu (Bảng 2).

Răng xác định tuổi của chó, có giá trị chẩn đoán (Hình 13).

Để xác định tuổi của chó có thể ở trong răng (Bảng 3).

Ở chó, sự thay đổi phả hệ của vết cắn của răng cửa được ghi nhận (vị trí của các cung răng và sự đóng cửa của chúng). Ở động vật có chiều dài đầu trung bình, răng cửa trên và dưới đối lập nhau (ghim, một số con chó), ở đầu dài (chó cừu, chó săn thỏ), răng cửa trên tiến về phía trước một chút so với răng cửa dưới và răng cửa ngắn (pugs, boxer) ở phía trước của răng cửa trên và răng nanh.

Chó công thức răng Xác định tuổi của chó trong răng

Nướu là nếp gấp của màng nhầy, che phủ hàm và củng cố vị trí của răng trong các tế bào xương. Vòm miệng cứng là vòm của khoang miệng và tách nó ra khỏi mũi, và vòm miệng mềm là sự tiếp nối của màng nhầy của vòm miệng cứng, nó nằm tự do trên biên của khoang miệng và hầu họng, ngăn cách chúng. Nướu, lưỡi và vòm miệng có thể bị nám không đều.

Một số tuyến nước bọt được ghép nối mở trực tiếp vào khoang miệng, tên của chúng tương ứng với nội địa hóa của chúng: parotid, mandibular, ngậm dưới lưỡi và zygomatic. Bí mật của các tuyến là kiềm, nó rất giàu bicarbonat, nhưng không chứa enzyme. Vai trò chính của nó là bôi trơn các cục thức ăn. Thiếu nước bọt dẫn đến khó nuốt: thức ăn có thể bị mắc kẹt trong cổ họng hoặc thực quản. Amidan là cơ quan của hệ bạch huyết và thực hiện chức năng bảo vệ trong cơ thể. Lối vào cổ họng được gọi là hầu họng.

Quá trình nuốt bắt đầu trong miệng với sự hình thành một cục thức ăn, nổi lên vòm miệng cứng bằng lưỡi và di chuyển về phía hầu họng.

Cổ họng là một khoang hình phễu, là một cấu trúc phức tạp. Nó kết nối khoang miệng với thực quản và khoang mũi với phổi. Ở chó, ranh giới của nó đạt đến cấp độ của đốt sống cổ thứ hai. Cổ họng, vòm họng, hai ống Eustachian, khí quản và thực quản mở trong hầu họng. Cổ họng được lót bằng màng nhầy và có cơ bắp mạnh mẽ.

Các cục thức ăn trong cổ họng được phát hiện bởi các thụ thể cảm giác nằm trong phần này. Рефлекторно происходит закрытие носоглотки путем поднятия мягкого неба, при этом евстахиевы трубы и гортань закрываются надгортанником. Глоточные мышцы сокращаются, при этом сфинктер пищевода расслабляется, и пищевой комок попадает в пищевод.

Пищевод представляет собой мышечную трубку, через которую пища транспортируется из глотки в желудок. Его почти полностью образуют скелетные мышцы. Кольцевидноглоточный сфинктер, находящийся на краниальном (ближе к голове) конце пищевода, отвечает за пропуск пищи из глотки. Ở đầu xa của thực quản (xa phần trên) không có cơ thắt mỗi se, nhưng lỗ tim của dạ dày có khả năng tạo ra khá nhiều áp lực, giúp làm giảm trào ngược của nội dung dạ dày. Thực quản trống là một ống thu nhỏ với các nếp gấp dọc. Màng nhầy chứa nhiều tế bào cốc tiết ra một lượng lớn chất nhầy giúp bôi trơn thức ăn trong quá trình nuốt.

Sau khi co thắt cơ họng, cơ thắt hầu họng thư giãn và khối thức ăn đi vào thực quản. Điều này dẫn đến sự di chuyển nhu động chính của khối u xuống thực quản vào dạ dày. Sóng nhu động thứ hai thường được quan sát thấy trong một thực quản hoàn toàn trống rỗng.

Thực quản của chó có thể đưa thức ăn từ dạ dày vào miệng (nôn). Việc mở cơ quan này trong dạ dày tương đối dễ mở.

Dạ dày là sự tiếp tục trực tiếp của thực quản. Nó nằm ở phía trước khoang bụng (nhiều hơn ở vùng hạ vị bên trái) và tiếp giáp với cơ hoành và gan. Dạ dày đóng vai trò là một kho chứa thức ăn bị nuốt. Nó bắt đầu quá trình tiêu hóa. Trong dạ dày có thể được chia thành nhiều khu vực: lỗ tim – phần nhỏ nhất mà thực quản mở ra, đáy dạ dày – hồ chứa thức ăn cổng hangmôn vị– một loại máy nghiền nghiền thức ăn nuốt vào chyme (nội dung của ruột non). Các nội dung của dạ dày trong một số phần nhất định đi qua môn vị vào tá tràng. Khi dạ dày trống rỗng, màng nhầy tập hợp thành các nếp gấp dưới tác động của các sợi cơ đàn hồi. Các nếp gấp được làm thẳng khi chứa đầy thức ăn. Màng nhầy của dạ dày bao gồm các tế bào biểu mô và ống hình trụ, được cập nhật tại các trung tâm đặc biệt nằm trong các hố dạ dày. Các tế bào thành phần nằm ở trung tâm của hố dạ dày tiết ra axit hydrochloric và các tế bào chính nằm ở đáy hố tạo ra enzyme pepsinogen.

Hàng rào niêm mạc dạ dày được thiết kế để bảo vệ dạ dày khỏi các chất kích thích nuốt, axit hydrochloric và pepsin. Rào chắn này bao gồm một lớp chất nhầy bao phủ biểu mô, bản thân các tế bào biểu mô và một mô dưới niêm mạc giàu mạch máu. Ngoài hàng rào bảo vệ vật lý, chất nhầy còn chứa phospholipid có đặc tính kỵ nước bổ sung cho hoạt động của chất ức chế pepsin và đóng vai trò đệm axit hydrochloric. Vi phạm hàng rào bảo vệ dẫn đến viêm (viêm dạ dày) và loét niêm mạc dạ dày (loét) sau đó. Quá trình tiêu hóa trở nên đau đớn.

Con vật có thể bắt đầu nôn sau khi ăn, thú cưng cũng có thể từ chối ăn do thiếu thèm ăn, sau đó sẽ dẫn đến giảm cân.

Sự xuất hiện, mùi và vị của thức ăn cùng với sự hiện diện của nó trong dạ dày kích thích giải phóng axit hydrochloric và pepsinogen. Với sự hiện diện của axit hydrochloric, pepsinogen được chuyển thành pepsin hoạt động, nhanh chóng bị bất hoạt bằng cách giảm độ pH. Điều này xảy ra một cách tự nhiên, khi nội dung dạ dày đi vào tá tràng, nơi bicarbonat tụy trung hòa axit dạ dày. Axit clohydric và pepsin bắt đầu quá trình tiêu hóa thức ăn bằng cách thủy phân protein và tinh bột, và lipase – chất béo. Nhiệt độ cơ thể cao ức chế sự giải phóng các enzyme. Do đó, vào mùa hè, chó ăn chủ yếu vào thời gian mát mẻ trong ngày. Hoạt động cao nhất của enzyme – cho bánh mì, sữa và thịt.

Có một máy tạo nhịp tim trong dạ dày tạo ra năm sóng chậm mỗi phút. Ba loại chuyển động dạ dày đã được xác định:

* tiêu hóa – nó đến sau khi nuốt thức ăn Đây là những lần giảm chậm liên tiếp ở sàn dạ dày, đẩy thức ăn đến môn vị, nơi thức ăn được nghiền và tiết ra chất lỏng qua môn vị,

* trung cấp – nó xảy ra sau khi tiêu hóa thức ăn trong dạ dày, sau một thời gian chuyển tiếp của các cơn co thắt dạ dày giảm,

* không tiêu hóa – đây là những cơn co thắt nhu động rỗng của toàn bộ dạ dày trống rỗng, được thiết kế để di chuyển các nội dung còn lại vào tá tràng.

Thức ăn đặc, được nghiền thành chyme, được gửi đến tá tràng theo một thứ tự nhất định: đầu tiên, chất lỏng, sau đó là protein và carbohydrate, sau đó – chất béo. Chất không tiêu hóa vẫn còn trong dạ dày. Thực phẩm giàu calo làm giảm tốc độ làm rỗng dạ dày, và ngược lại, thực phẩm ít calo được tiêu hóa và loại bỏ khỏi dạ dày nhanh hơn. Thức ăn vào dạ dày của chó sau khi lấy thức ăn trong nửa giờ và ở đó 6-8 giờ.

Chiều dài ruột tuyệt đối của chó là 2,3-7,3 mét. Tỷ lệ chiều dài cơ thể với chiều dài của nó là 1: 5.

Có ruột mỏng và dày.

Ruột non

Nó bắt đầu ở mức độ môn vị của dạ dày và được chia thành ba phần chính: loét tá tràng (phần đầu tiên và ngắn nhất của ruột non, trong đó ống dẫn mật và ống tụy đi vào, chiều dài của phần này của ruột non ở chó là 29 cm) ) và hồi tràng. Tuyến tụy (nặng 10 – 100 g) có hình dạng giống như dải ruy băng nằm ở vùng dưới cùng bên phải và tiết ra vài lít dịch tụy mỗi ngày vào tá tràng, chứa các enzyme phá vỡ protein, carbohydrate, chất béo và cả insulin nội tiết tố, điều chỉnh lượng đường trong máu. Gan với túi mật ở chó nằm ở vùng dưới cùng bên phải và bên trái, và máu chảy qua tĩnh mạch cửa từ dạ dày, lá lách và ruột đi qua và được lọc qua nó. Gan sản xuất mật, giúp chuyển đổi chất béo để hấp thụ vào các mạch máu của thành ruột.

Niêm mạc ruột là chuyên biệt hơn cho việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn. Các tế bào biểu mô lót bề mặt bên trong của ruột non được gọi là tế bào ruột. Màng nhầy được tập hợp thành các nếp gấp, được gọi là nhung mao. Mỗi biệt thự được cung cấp tốt các mạch máu và có một mạch bạch huyết chết. Những mạch này vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thụ từ ruột non đến gan và các bộ phận khác của cơ thể. Tá tràng có cấu trúc tương đối xốp và có thể giải phóng một khối lượng lớn chất lỏng vào trong lòng. Mức độ thẩm thấu giảm tương ứng trong jejunum và hồi tràng và ruột già, nơi chỉ có sự tái hấp thu của chất lỏng. Vì vậy, có một sự bảo quản chất lỏng trong cơ thể và phòng ngừa tiêu chảy.

Phần chính của protein được tiêu hóa ở ruột non thành axit amin dưới tác dụng của các enzyme tuyến tụy. Chúng được hấp thụ trong tế bào ruột bằng các chất mang cụ thể, và sau đó được vận chuyển đến gan qua tĩnh mạch cửa. Carbonhydrate (chó lấy lượng carbohydrate chính dưới dạng tinh bột) bị phân hủy trong ruột non thành glucose và các monosacarit khác dưới tác dụng của các enzyme tuyến tụy. Trong tế bào ruột, glucose được giải phóng nhanh chóng vào máu và được vận chuyển đến gan thông qua tĩnh mạch cửa. Chất béo trong chế độ ăn uống chủ yếu bao gồm triglyceride, có thể dễ dàng bị phá vỡ do tác dụng của muối mật với glycerol và axit béo và được hấp thụ, và cholesterol và phospholipid có thể được tiêu hóa bởi chó, nhưng không hiệu quả. Nó xảy ra dưới ảnh hưởng của mật bài tiết qua gan và được lưu trữ trong túi mật. Do thành tế bào của enterocytes bao gồm lipid, quá trình hấp thụ xảy ra một cách thụ động và thường đi kèm với sự hấp thụ vitamin hòa tan trong chất béo. Bên trong tế bào ruột, các axit béo được chuyển đổi thành triglyceride và được gắn vào lipoprotein, tạo thành chylomicron, được bài tiết trong ống dẫn sữa để vận chuyển đến hệ tuần hoàn chính và theo đó, đến gan và các mô khác.

Do đó, bất kỳ trục trặc nào của ruột non (ví dụ, nhiễm rotavirus) đều có thể gây ra tiêu chảy và chán ăn (mất hoặc không thèm ăn) do đánh bại đỉnh của nhung mao do virus enterocyte). Thực phẩm tiêu hóa tốt là cần thiết để giảm chi phí enzyme và tăng diện tích hấp thụ, đồng thời đạt được mức độ hấp thụ chất dinh dưỡng tốt. Ăn một lượng nhỏ thức ăn không làm quá tải khả năng suy giảm và hấp thụ của ruột và giảm nguy cơ tiêu chảy.

Ruột già

Phần ruột này bao gồm mù (chiều dài của nó là 6-12 cm, nằm dưới đốt sống thắt lưng 2-4 và được truyền thông rộng rãi với đại tràng), đại tràng (nằm ở vùng thắt lưng và tạo thành hình vòng cung) và thẳng (nằm ở mức 4 – Xương đốt sống thứ 5, có cấu trúc cơ bắp mạnh mẽ) ruột. Không có nhung mao trên màng nhầy của ruột già. Có các loại tinh bột – trầm cảm, nơi đặt các tuyến ruột nói chung, nhưng có rất ít tế bào trong đó tiết ra các enzyme. Trong biểu mô trụ của màng nhầy có nhiều tế bào cốc tiết ra chất nhầy. Trong ruột lớn khối phân được hình thành.

Trong ruột già, sự thủy phân cuối cùng của các chất dinh dưỡng xảy ra với sự trợ giúp của các enzyme đường ruột và enzyme vi sinh vật. Hoạt động tích cực nhất của hệ vi sinh đường ruột được ghi nhận ở đại tràng: sự hấp thụ nước và chất điện giải, cần thiết cho sự hình thành khối phân và ngăn ngừa mất nước của cơ thể, quá trình lên men của thực phẩm với lượng vi khuẩn dồi dào (từ dư lượng thức ăn giàu nitơ, vi khuẩn tạo ra lượng ammoniac tĩnh mạch cửa đi vào gan, nơi nó được xử lý thành urê, được đào thải qua thận). Do các cơn co thắt nhu động mạnh, các thành phần còn lại của ruột già qua đại tràng giảm dần đi vào đường thẳng, nơi xảy ra sự tích tụ phân. Sự bài tiết phân ra môi trường xảy ra qua ống hậu môn (hậu môn). Hậu môn có hai cơ vòng: một cơ sâu từ các sợi cơ trơn và một cơ ngoài – từ cơ vân. Những con chó ở hai bên của nó có hai vết lõm – xoang phải và trái, trong đó các tuyến paranal mở ra, phát ra một bí mật dày, phát ra một mùi đặc biệt.

Vì vậy, một khi trong miệng, thức ăn được nghiền và cắt nhỏ, thay vì nhai. Sau đó, nó được làm ẩm bằng nước bọt và qua hầu họng và thực quản vào dạ dày, nơi quá trình phân hủy của nó thành các chất đơn giản hơn bắt đầu. Hấp thụ chất dinh dưỡng trong ruột, và các mảnh vụn thức ăn chưa tiêu hóa, chủ yếu là cellulose, bị tống ra ngoài qua trực tràng.

Hệ hô hấp

Hệ thống này cung cấp oxy cho cơ thể và loại bỏ carbon dioxide, nghĩa là trao đổi khí giữa không khí và máu trong khí quyển. Ở động vật nuôi, trao đổi khí xảy ra trong phổi, nằm trong ngực. Sự co thắt xen kẽ của ống hít và cơ hô hấp dẫn đến sự giãn nở và co bóp của ngực, và với nó là phổi. Điều này đảm bảo rằng không khí được hút vào qua đường thở đến phổi và được đẩy ra ngoài. Các cơn co thắt cơ hô hấp được kiểm soát bởi hệ thống thần kinh.

Trong quá trình đi qua đường thở, không khí hít vào được làm ẩm, làm ấm, làm sạch bụi và cũng được kiểm tra mùi bằng cách sử dụng khứu giác. Với không khí thở ra từ cơ thể sẽ loại bỏ một phần nước (dưới dạng hơi nước), nhiệt dư, một số khí. Trong đường dẫn khí (thanh quản) âm thanh được tái tạo.

Cơ quan hô hấp được đại diện bởi mũi và khoang mũi, thanh quản, khí quản và phổi.

NĂNG LƯỢNG VÀ NẮM

Mũi và miệng ở động vật tạo nên phần phía trước của đầu – mõm. Mũi chứa các khoang mũi được ghép nối, đó là phần ban đầu của đường thở. Trong khoang mũi, không khí hít vào được kiểm tra mùi, được làm nóng, làm ẩm và làm sạch các tạp chất. Khoang mũi giao tiếp với môi trường bên ngoài thông qua lỗ mũi, với hầu họng thông qua choans, với túi kết mạc thông qua ống mũi-mũi và cũng với xoang cạnh mũi. Trên mũi có một phần trên, lưng, phần bên và gốc. Trên cùng có hai lỗ – lỗ mũi. Khoang mũi được chia bởi vách ngăn mũi thành các phần bên phải và bên trái. Cơ sở của phân vùng này là sụn hyaline.

Các xoang cạnh mũi giao tiếp với khoang mũi. Các xoang cạnh mũi là các khoang chứa đầy không khí và niêm mạc giữa các tấm bên ngoài và bên trong của một số xương phẳng của hộp sọ (ví dụ, xương phía trước). Do thông điệp này, các quá trình viêm từ niêm mạc mũi có thể dễ dàng lan đến xoang, làm phức tạp quá trình bệnh.

Thanh quản là một phần của ống hô hấp, nằm giữa hầu họng và khí quản. Con chó ngắn và rộng. Cấu trúc đặc biệt của thanh quản cho phép nó thực hiện, ngoài việc mang không khí và các chức năng khác. Nó cô lập đường thở khi nuốt thức ăn, hỗ trợ khí quản, hầu họng và bắt đầu thực quản, phục vụ như một cơ quan phát âm. Bộ xương của thanh quản được hình thành bởi năm sụn được kết nối với nhau một cách di chuyển, trên đó các cơ của thanh quản và hầu họng được gắn vào. Đây là một sụn hình vòng, phía trước và bên dưới là sụn tuyến giáp, phía trước và trên cùng là hai sụn hình sẹo, và bên dưới sụn chêm. Khoang thanh quản được lót bằng màng nhầy. Giữa quá trình giọng nói của sụn giống như sẹo và cơ thể của sụn tuyến giáp, một nếp gấp ngang đi qua bên phải và bên trái – cái gọi là môi thanh âm, chia khoang thanh quản thành hai phần. Nó chứa dây thanh âm và cơ thanh âm. Khoảng trống giữa môi phải và trái được gọi là glottis. Đôi môi căng thẳng trong khi thở ra được tạo ra và âm thanh quy định. Ở chó, môi phát âm rất lớn, cho phép thú cưng bốn chân của bạn tạo ra những âm thanh khác nhau.

Khí quản phục vụ để đưa không khí vào phổi và trở lại. Đó là một ống có một ống thông liên tục, được đảm bảo bởi các vòng sụn hyaline được mở từ trên cao trên tường của nó. Bên trong khí quản được lót bằng màng nhầy. Nó kéo dài từ thanh quản đến đáy tim, nơi nó được chia thành hai phế quản, tạo thành nền của rễ phổi. Nơi này, xảy ra ở cấp độ của xương sườn thứ 4, được gọi là phân nhánh khí quản.

Chiều dài của khí quản phụ thuộc vào chiều dài của cổ, và do đó số lượng sụn ở chó thay đổi từ 42 đến 46.

Đây là những cơ quan chính của hô hấp, trực tiếp trong đó trao đổi khí xảy ra giữa không khí hít vào và máu qua bức tường mỏng ngăn cách chúng. Để đảm bảo trao đổi khí đòi hỏi một khu vực tiếp xúc lớn giữa khí nén và máu. Theo đó, đường dẫn khí của phổi – phế quản – giống như một cái cây liên tục phân nhánh đến các tiểu phế quản (phế quản nhỏ) và kết thúc với nhiều túi phổi nhỏ – alveoli, tạo thành nhu mô phổi (nhu mô là một bộ phận đặc biệt của cơ quan). Các mạch máu phân nhánh song song với phế quản và một mạng lưới mao mạch dày bao bọc phế nang, nơi diễn ra trao đổi khí. Do đó, thành phần chính của phổi là đường thở và mạch máu.

Các mô liên kết kết hợp chúng thành một cơ quan nhỏ gọn ghép nối – phổi phải và phổi trái. Phổi phải lớn hơn một chút so với bên trái, vì tim nằm giữa phổi bị dịch chuyển sang trái (Hình 14). Trọng lượng phổi tương đối – 1,7% so với trọng lượng cơ thể.

Phổi nằm trong khoang ngực, liền kề với thành của nó. Kết quả là, chúng có hình dạng của một hình nón bị cắt cụt, phần nào bị nén từ hai bên. Mỗi phổi với các vết nứt interlobar sâu được chia thành các thùy: một bên trái thành ba, và bên phải thành bốn.

Tần suất chuyển động hô hấp ở chó phụ thuộc vào tải trọng trên cơ thể, tuổi, sức khỏe, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường.

Thông thường, số lần thở và thở (thở) ở một con chó khỏe mạnh rất khác nhau: từ 14 đến 25-30 mỗi phút. Độ rộng phạm vi này phụ thuộc vào một số yếu tố. Vì vậy, chó con thở thường xuyên hơn chó trưởng thành, vì quá trình trao đổi chất của chúng hoạt động mạnh hơn. Ở chó cái, hơi thở phổ biến hơn ở con đực. Chó mang thai hoặc cho con bú thở thường xuyên hơn so với không mang thai. Tần suất thở cũng có thể bị ảnh hưởng bởi giống chó, trạng thái cảm xúc và kích thước của con chó cũng ảnh hưởng đến nó. Những con chó thuộc giống nhỏ thường thở nhiều hơn những con lớn: chó lùn, cằm Nhật Bản thở 20-25 lần mỗi phút và Airedale Terrier – 10-14 lần. Điều này là do tốc độ khác nhau của quá trình trao đổi chất, và do đó, mất nhiệt nhiều hơn.

На процесс дыхания влияют также время дня и время года. Ночью в состоянии покоя собака дышит реже. Летом при жаркой погоде, а также в душных помещениях с повышенной влажностью дыхание учащается. Зимой дыхание у собак в состоянии покоя ровное и незаметное.

Мышечная работа резко учащает дыхание собаки. Определенное значение имеет и фактор возбудимости животного. Появление незнакомого человека, новая обстановка могут послужить причиной учащенного дыхания.

Система органов мочевыделения

Các cơ quan này được thiết kế để bài tiết từ cơ thể (từ máu) ra môi trường bên ngoài của các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất dưới dạng nước tiểu và để kiểm soát cân bằng nước-muối của cơ thể. Ngoài ra, các hormone điều chỉnh sự hình thành máu (hemopoietin) và huyết áp (renin) được hình thành trong thận. Do đó, việc vi phạm các chức năng của cơ quan tiết niệu dẫn đến các bệnh nghiêm trọng và thường dẫn đến cái chết của động vật.

Các cơ quan tiết niệu bao gồm thận và niệu quản ghép nối, bàng quang và niệu đạo không ghép đôi. Trong các cơ quan chính – thận liên tục hình thành nước tiểu, được bài tiết qua niệu quản vào bàng quang và, khi nó được lấp đầy, được bài tiết qua niệu đạo. Vào ban ngày, một con chó trưởng thành của giống nhỏ phát ra 0,04 0,000 lít nước tiểu và một con chó trưởng thành của các giống chó vừa và lớn – từ 0,5 đến 1,5 lít. pH nước tiểu dao động từ 4,8 đến 6,5, tùy thuộc vào việc cho ăn. Ở nam giới, kênh này cũng tiến hành các sản phẩm tình dục và do đó được gọi là urinogenital. Ở nữ giới, niệu đạo mở vào đêm trước của âm đạo.

Thận là cơ quan có mật độ dày đặc màu nâu đỏ, nhẵn, bao phủ từ bên ngoài với ba lớp vỏ: xơ, béo, huyết thanh. Chúng nằm ở vùng thắt lưng dưới 3 đốt sống thắt lưng đầu tiên. Đây là những cơ quan khá lớn, cùng bên phải và trái, có hình dạng hạt đậu, hơi dẹt. Gần giữa lớp bên trong, các mạch và dây thần kinh đi vào thận, và niệu quản đi vào. Nơi này được gọi là cổng thận. Trên vết mổ của từng quả thận, vỏ não, hoặc nước tiểu, não hoặc nước tiểu rút và các khu vực trung gian được phân biệt (Hình 15). Vùng vỏ não tối hơn và nằm trên bề mặt. Vùng não nhẹ hơn, nằm ở trung tâm của thận và giống hình kim tự tháp. Đỉnh của kim tự tháp tạo thành nhú thận, một trong những con chó. Một khu vực trung gian nằm giữa các khu vực này dưới dạng một dải tối, nơi có thể nhìn thấy các động mạch vòng cung, từ đó các động mạch nội bào được phân tách về phía vùng vỏ não. Dọc theo sau là các tiểu thể thận, bao gồm một cầu thận – cầu thận (cầu thận mạch máu), được hình thành bởi các mao mạch của động mạch mang và nang. Cơ thể thận cùng với ống lượn và các mạch của nó tạo thành đơn vị chức năng cấu trúc của thận, nephron. Trong tử cung thận của nephron, chất lỏng – nước tiểu chính – được lọc từ máu của cầu thận mạch máu vào khoang của viên nang. Trong quá trình nước tiểu chính đi qua ống nephron bị co thắt trở lại vào máu, hầu hết (tới 99%) nước và một số chất không thể loại bỏ khỏi cơ thể, như đường, được hấp thụ. Điều này giải thích số lượng lớn nephron và chiều dài của chúng. Sau đó, nước tiểu chính đi vào ống trực tiếp và trực tiếp vào khung thận (chó thiếu cốc thận), nằm ở cửa thận, từ đó nước tiểu thứ cấp đi vào niệu quản.

ĐÔ THỊ

Niệu quản là một cơ quan ghép hình ống điển hình: thành của nó được hình thành bởi ba vỏ. Đường kính của nó là nhỏ. Niệu quản bắt đầu từ khung chậu thận, và được bao phủ bởi phúc mạc, được dẫn vào khoang chậu, nơi nó chảy vào bàng quang. Trong thành bàng quang, anh ta tạo một vòng nhỏ ngăn không cho nước tiểu từ bàng quang trở về niệu quản, mà không cản trở dòng nước tiểu từ thận đến bàng quang.

BUBBL ĐÔ THỊ

Bàng quang là nơi chứa nước tiểu liên tục chảy ra từ thận và được đào thải định kỳ qua niệu đạo. Nó là một túi màng có hình quả lê. Nó phân biệt đỉnh đối diện với khoang bụng, cơ thể và hướng đến cổ chậu. Ở cổ của các cơ bàng quang tạo thành một cơ vòng, ngăn không cho nước tiểu thoát ra ngoài. Bàng quang trống rỗng nằm ở đáy khoang chậu, và trong trạng thái đầy, nó bị treo một phần vào khoang bụng.

KÊNH ĐÔ THỊ, HOẶC ĐÔ THỊ

Cơ quan này phục vụ để loại bỏ nước tiểu từ bàng quang và là một ống của màng nhầy và cơ bắp. Đầu bên trong của niệu đạo bắt đầu từ cổ bàng quang, và lỗ mở bên ngoài mở ra ở nam giới ở đầu dương vật, và ở nữ giới ở biên giới giữa âm đạo và tiền đình. Một phần tốt của niệu đạo dài của nam giới là một phần của dương vật, và do đó, ngoài nước tiểu, nó loại bỏ các sản phẩm tình dục.

Trung tâm tiểu tiện nằm ở vùng thắt lưng của tủy sống và có kết nối với não. Kết nối này cho phép kiểm soát ý chí của việc làm trống bàng quang.

Hệ thống cơ quan sinh sản

Hệ thống các cơ quan sinh sản được kết nối chặt chẽ với tất cả các hệ thống của cơ thể, đặc biệt là các cơ quan bài tiết (hai hệ thống này có một ống cuối cùng và vi trùng chung của một số cơ quan khác). Chức năng chính của nó – sự tiếp tục của hình thức.

Bộ phận sinh dục của con đực (con đực) và con cái (chó cái) là khác nhau, vì vậy chúng tôi xem xét từng hệ thống riêng biệt.

Cơ quan sinh dục của con đực

Cơ quan sinh dục của nam giới được đại diện bởi các cơ quan ghép nối: tinh hoàn (tinh hoàn) với phần phụ, ống hạt và dây sinh tinh, tuyến sinh dục phụ kiện và các cơ quan không ghép đôi: bìu, ống niệu sinh dục, dương vật và chuẩn bị.

Cây giống – cơ quan sinh dục chính của con đực, trong đó sự phát triển và trưởng thành của tinh trùng. Nó cũng là một tuyến nội tiết – nó sản xuất hormone sinh dục nam – tinh trùng. Tinh hoàn có hình trứng, được treo trên dây tinh trùng và nằm trong khoang của phần nhô ra của thành bụng – bìu. Kết nối chặt chẽ với nó là phần phụ của nó, là một phần của ống bài tiết. Trong phần phụ lục, các tế bào tinh trùng trưởng thành có thể được giữ cố định trong một thời gian khá dài, chúng được cung cấp dinh dưỡng trong giai đoạn này và khi động vật giao phối với các cơn co thắt nhu động của cơ ruột thừa, chúng sẽ được phóng thích vào cơ thể. Phần phụ có đầu, thân và đuôi.

Ở nam giới, tinh hoàn tương đối nhỏ và phần phụ được phát triển cao: đầu và đuôi của nó dày như nhau.

Bìu là nơi chứa tinh hoàn và phần phụ của nó, là phần nhô ra của thành bụng. Nhiệt độ của nó thấp hơn trong khoang bụng, tạo điều kiện cho sự phát triển của tinh trùng. Ở nam giới, bìu nằm gần hậu môn. Da của cơ quan này được bao phủ bởi lông mịn, có mồ hôi và tuyến bã nhờn. Màng đàn hồi cơ nằm dưới da và hình thành vách ngăn bìu, do đó khoang nội tạng được chia thành hai phần. Cơ bắp của bìu cung cấp kéo tinh hoàn lên ống bẹn ở nhiệt độ bên ngoài thấp.

Các ống dẫn chậm, hoặc ống dẫn tinh

Ống hạt là sự tiếp nối của ống dẫn tinh dịch dưới dạng một ống hẹp gồm ba vỏ. Nó bắt đầu từ phần đuôi của phần phụ. Là một phần của dây sinh tinh, nó đi qua ống bẹn vào khoang bụng, và từ đó vào xương chậu, nơi nó tạo thành một ống. Đằng sau cổ bàng quang, xuất tinh kết nối với ống dẫn tinh vào ống phóng tinh ngắn, mở ra ở đầu ống niệu sinh dục.

Kênh sinh dục hoặc niệu đạo nam

Phục vụ cho bài tiết nước tiểu và tinh trùng. Nó bắt đầu bằng việc mở niệu đạo từ cổ bàng quang và kết thúc bằng việc mở niệu đạo bên ngoài ở đầu dương vật. Phần ban đầu, rất ngắn của niệu đạo – từ cổ tử cung đến nơi hợp lưu của ống phóng tinh – chỉ có nước tiểu. Thành của niệu đạo nam được hình thành bởi một màng nhầy, một lớp xốp và một lớp cơ. Mucosa được tập hợp trong các nếp gấp. Lớp xốp có một mạng lưới các tĩnh mạch với phần mở rộng – lacunae. Khi lớp xốp chứa đầy máu, niêm mạc niệu đạo sẽ mở ra và tinh trùng chảy ra.

Dương vật hoặc dương vật

Dương vật thực hiện chức năng đưa tinh trùng của chó vào bộ phận sinh dục của chó cái, cũng như bài tiết nước tiểu. Nó bao gồm cơ thể hang của dương vật và phần tình dục (udovoy) của kênh niệu sinh dục.

Trên dương vật phân biệt gốc, thân và đầu. Rễ và cơ thể được bao phủ bằng da từ bên dưới, phần sau kéo dài đến đầu, tạo thành một nếp gấp trong quá trình chuyển đổi sang nó – bao quy đầu hoặc bao quy đầu.

Trong quá trình hưng phấn tình dục, các khoang của dương vật chứa đầy máu, kết quả là dương vật dài ra, dày lên và trở nên dày đặc, nghĩa là nó đến trạng thái cương cứng.

Trong trường hợp không ở trạng thái không cương cứng, dương vật chuẩn bị che kín hoàn toàn đầu của nó, bảo vệ nó khỏi bị hư hại. Nó được kéo qua dương vật của Glans với sự trợ giúp của cơ sọ trước và được kéo bởi máy rút dương vật.

Ở chó, đầu dương vật dài, hình trụ. Niệu đạo mở ra ở cuối đầu. Dưới chân đầu là xương. Chiều dài của nó ở những con chó lớn đạt 8-10 cm.

Lượng tinh trùng do chó tiết ra thay đổi khoảng 15 ml. Trong 1 mm 3 tinh trùng có khoảng 6000 tinh trùng. Bên trong tử cung tinh trùng tồn tại trong 8-12 giờ.

Sau khi chó con được sinh ra, khối lượng tuyệt đối của tinh hoàn tăng lên trong 6 tháng đầu đời khoảng 16-17 lần, khối lượng của các tuyến tình dục phụ kiện tăng lên, đặc biệt là ở tuổi dậy thì.

Sự trưởng thành về tình dục và sinh lý là khả năng của động vật sinh ra con cái. Nó được đặc trưng bởi sự giải phóng tinh trùng ở chó, sự hình thành của hormone giới tính, gây ra sự phát triển của các đặc điểm tình dục thứ cấp. Trưởng thành tình dục và sinh lý xảy ra trong 6-8 tháng.

Cơ quan tình dục

Cơ quan sinh sản của con cái bao gồm các cơ quan được ghép nối: buồng trứng, ống dẫn trứng và không ghép đôi: tử cung, âm đạo, tiền đình của âm đạo và cơ quan sinh dục ngoài (Hình 17).

Buồng trứng là một cơ quan hình bầu dục trong đó các tế bào sinh dục nữ phát triển – trứng, cũng như các hormone giới tính nữ được hình thành. Trên buồng trứng, có hai đầu: ống dẫn trứng và tử cung. Phễu của ống tử cung được gắn vào đầu ống và với ống tử cung – dây chằng riêng của buồng trứng. Hầu hết buồng trứng được bao phủ bởi một biểu mô trước, dưới đó có một khu vực nang trứng, nơi các nang trứng phát triển với trứng được bao bọc trong đó. Thành của nang trứng trưởng thành vỡ ra, và dịch nang, cùng với tế bào trứng, chảy ra. Khoảnh khắc này được gọi là rụng trứng. Thay vì một nang vỡ, một hoàng thể được hình thành, nó tiết ra một loại hormone ức chế sự phát triển của các nang mới. Trong trường hợp không có thai, cũng như sau khi sinh con, hoàng thể được hấp thụ.

Con chó có buồng trứng nhỏ và nằm ngay sau thận trong khu vực của đốt sống thắt lưng thứ 3-4.

Ống dẫn trứng hoặc ống trứng

Ống dẫn trứng là một ống hẹp, cong mạnh nối với sừng tử cung. Nó đóng vai trò là nơi thụ tinh của trứng, dẫn trứng được thụ tinh đến tử cung, được thực hiện cả bằng sự co bóp của lớp cơ của ống dẫn trứng và bởi sự di chuyển của lông mao của biểu mô bị cắt dọc theo ống dẫn trứng. Đầu trước của ống dẫn trứng được mở rộng dưới dạng phễu và mở vào khoang bụng. Các cạnh không đều của phễu được gọi là rìa, nơi trứng trưởng thành có được. Ống tử cung mở cửa tử cung.

Hình. 17. Cơ quan sinh dục của con cái từ bề mặt lưng của chó: 1 – buồng trứng, 2 – ống dẫn trứng, 3 – sừng tử cung, cơ thể 4 – tử cung, 5 – cổ tử cung, 6 – mở ngoài tử cung, 7 – âm đạo, 8 – bao quy đầu âm đạo, 9 – nếp gấp tiền đình-âm đạo, 10 – mở ngoài niệu đạo, 11 – tiền đình tiền đình, 12 – tuyến trước nhỏ, 13 – âm vật, 14 – labia, 15 – bàng quang

Ở chó, chiều dài của ống dẫn trứng là 4-10 cm.

Đây là một cơ quan có màng rỗng trong đó thai nhi phát triển. Trong quá trình chuyển dạ, sau đó được đẩy ra khỏi tử cung qua kênh sinh ra bên ngoài. Trong tử cung, sừng, cơ thể và cổ được phân biệt. Sừng trên đỉnh bắt đầu từ ống dẫn trứng, và bên dưới chúng phát triển cùng nhau trong cơ thể. Tử cung đi vào ống hẹp của cổ tử cung mở vào âm đạo. Cơ thể và cổ của tử cung không mang thai nằm trong khoang chậu, bên cạnh bàng quang và sừng treo trong khoang bụng. Toàn bộ tử cung nằm trong khoang bụng, chủ yếu ở bên phải.

Chó có sừng tử cung dài, thẳng và mỏng, thân ngắn.

Nó là một cơ quan hình ống đóng vai trò là cơ quan giao hợp, và nằm giữa cổ tử cung và lỗ niệu sinh dục. Ở chó, nó dài hơn 2 lần so với ngưỡng.

Bộ phận sinh dục ngoài

Cơ quan sinh dục ngoài được đại diện bởi khu vực gây tranh cãi nữ, âm hộ, và bao gồm cả môi âm hộ, nằm giữa khe hở gây tranh cãi và âm vật.

Âm hộ nằm bên dưới hậu môn và được ngăn cách với nó bởi một đáy quần ngắn.

Đôi môi nhếch nhác bao quanh lối vào tiền đình của âm đạo. Da này gấp lại, đi vào màng nhầy của tiền đình.

Âm vật là một tương tự của dương vật của con đực, nó được xây dựng từ cơ thể hang động, nhưng kém phát triển.

Trưởng thành về tình dục và sinh lý

Đây là khả năng của động vật để sinh con. Ở nữ giới, nó được đặc trưng bởi sự hình thành trứng và biểu hiện của chu kỳ tình dục, sự hình thành của hormone giới tính, gây ra sự phát triển của các đặc điểm tình dục thứ cấp. Trưởng thành tình dục và sinh lý xảy ra trong 6-8 tháng. Thời gian dậy thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là giống, giới tính, khí hậu, cho ăn, điều kiện giam giữ và chăm sóc. Tuổi thọ của các đại diện của loài càng ngắn thì tuổi dậy thì càng sớm. Chó đến tuổi dậy thì sớm hơn so với họ hàng hoang dã của chúng trong tự nhiên – chó sói và chó rừng.

Săn bắn tình dục là một phản ứng tình dục tích cực của phụ nữ với nam giới, xuất phát từ sự kích thích thần kinh bên trong của hệ thống tuyến yên – tuyến yên. Đặc trưng bởi sự biểu hiện của phản xạ tình dục nữ, thể hiện ở hành vi kỳ dị của nó với sự hiện diện của nam giới. Ở chó, nó bắt đầu từ 8-10 tháng.

Sự xuất hiện đầu tiên của động dục không có nghĩa là chó cái đã sẵn sàng để sinh sản con cái. Cô vẫn chưa sẵn sàng cho việc sinh nở xương chậu, tuyến vú kém phát triển. Vào lúc 6-8 tháng, sự tăng trưởng của cơ thể vẫn chưa hoàn thành. Do đó, nên giao phối động vật không sớm hơn 1,5 năm.

Có hai loại thụ tinh: nhân tạo và tự nhiên. Thụ tinh tự nhiên được chia thành tự do (nam và chó cái độc lập sản xuất quá trình giao phối) và thủ công (nam và nữ được giữ trên dây xích). Đan lặp lại sau 1-2 ngày. Nên thực hiện vào buổi sáng, trước khi cho ăn, vào ngày thứ 14 của động dục. Một con chó trước tiên phải làm trống trực tràng.

Một con chó là một động vật một vòng. Chu kỳ tình dục là sự kết hợp của tất cả các thay đổi sinh lý xảy ra trong bộ máy tình dục của nữ từ lúc rụng trứng này sang ngày rụng trứng khác. Chu kỳ tình dục mà không cần thụ tinh bao gồm 4 giai đoạn: proestrum, động dục, metoestrum, aestrum.

Gon (giai đoạn kích thích) thường xảy ra hai lần một năm – vào mùa xuân và mùa thu, nhưng nó xảy ra vào những thời điểm khác trong năm. Từ những ngày đầu tiên của rut trong 8-14 ngày, một con chó cái bắt đầu nóng (proestrum). Nó biểu hiện ở chỗ bộ phận sinh dục bên ngoài đỏ và sưng, chất nhầy có mùi đặc biệt được tiết ra từ khe sinh dục (con đực có thể ngửi thấy nó ở khoảng cách rất xa). Con cái phát triển ham muốn tình dục để đáp ứng với phản ứng của con đực, nhưng nó không cho phép chúng đến với mình. Trong những ngày đầu tiên, chất nhầy có máu, do hết động dục – rõ ràng. Ngay khi dịch tiết ra không màu, giai đoạn 2 của chu kỳ tình dục bắt đầu – động dục, hoặc động dục, kéo dài 5 đến 10 ngày. Nữ có một hưng phấn tình dục mạnh mẽ, và cô ấy sẵn sàng thừa nhận nam. Ở động vật được nuôi dưỡng tốt, thời gian động dục có thể được kéo dài. Khi cô kết thúc, một con chó cái bắt đầu có một cuộc săn lùng tình dục. Điều này thường xảy ra vào ngày 9-21 sau khi động dục và kéo dài từ 1 đến 5 ngày. Nó kết thúc với sự chấm dứt của động dục. Bất kể sự hiện diện hay vắng mặt của quan hệ tình dục, từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 12 kể từ khi bắt đầu động dục, rụng trứng xảy ra cứ sau 3 giờ – mở nang trứng trưởng thành và giải phóng noãn bào, sau vài giờ đi xuống ống dẫn trứng và biến thành trứng trưởng thành.

Trong giai đoạn kích động, huyết áp tăng lên ở chó cái, thành phần của máu thay đổi và đôi khi phản xạ thức ăn bị ức chế hoàn toàn. Chó cái khao khát con đực, bỏ đuôi, không chống lại lồng. Có rất nhiều trứng trong buồng trứng, ở những con chó trẻ – hơn 2000.

Ở tất cả các loài động vật, sự rụng trứng được tăng tốc nhờ hành động giao phối. Sự thụ tinh xảy ra tại thời điểm rụng trứng. Sau khi rụng trứng đến giai đoạn ức chế – metoestrum – kéo dài 30-60 ngày. Kích thích tình dục bị suy yếu, con vật bình tĩnh lại, sự thèm ăn của nó được thiết lập. Bitch trở nên hung dữ với con chó, cố gắng cắn anh ta. Có cái gọi là tiêu cực của phản ứng tình dục (phát hành). Rồi đến giai đoạn nghỉ ngơi: cổ tử cung bị đóng, chó cái thờ ơ với con chó. Anestrum đang đến (90-130 ngày). Trong trường hợp thụ tinh trong cơ thể của phụ nữ có sự tích lũy chất dinh dưỡng. Có một khoảng thời gian shchitnosti (thời kỳ mang thai), kéo dài 58-65 ngày (trung bình 61-63 ngày) và kết thúc bằng việc whelping (sinh con). Trước ngày thứ 57, chó con thường không thể sống được, nhưng vào ngày thứ 70 chúng vẫn có thể bình thường. У собак мелких и карликовых пород рождается 2-4 слепых, глухих и без зубов щенка, собак средних пород – 2-4, а у собак крупных пород – 8-12. Вес щенков приблизительно – 0,2-0,6 кг. В год собаки могут приносить щенков дважды (табл. 4).

Оплодотворение яйцеклетки происходит в верхней трети яйцепровода. Срок жизни спермы в генитальном тракте – до 6 дней. С этого момента оплодотворенное яйцо называют зиготой, которая асинхронно делится и превращается в зародышевый пузырек. Внедрение зародышевого пузырька в слизистую оболочку матки происходит на 21-22-й день. Вследствие развития оплодотворенных яйцеклеток происходит увеличение желтых тел, образовавшихся на месте разорвавшихся фолликулов яичника. Cơ thể màu vàng tiết ra progesterone trong máu, ức chế sự phát triển của các nang noãn mới và thúc đẩy việc đưa choroid Villi vào niêm mạc tử cung. Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển của phôi. Dần dần, mầm biến thành đĩa mầm, trở thành mầm. Sau giai đoạn phôi thai, giai đoạn phát triển sớm bắt đầu. Trong thời kỳ này, có một bộ phận của tất cả các cơ quan và bộ xương, cũng như nhau thai được hình thành (nhau thai, hoặc vị trí của trẻ em). Từ giờ trở đi, một sinh vật như vậy được gọi là bào thai, phát triển tuyến lông và tuyến mồ hôi, hệ thần kinh trung ương, cơ bắp và bộ phận sinh dục.

Một phụ nữ mang thai ngay sau khi thụ tinh thay đổi sự trao đổi chất và sự thèm ăn tốt. Nhu cầu năng lượng tăng gấp 4 lần. Lông trở nên mịn màng và sáng bóng, hình dáng cơ thể có hình dạng tròn. Trong nửa sau của whelp, mặc dù sự thèm ăn được bảo quản, con vật giảm cân, vì nó không có thời gian để đồng hóa một lượng chất dinh dưỡng đủ.

Lịch của chó con và chó con

Sinh con – đó là một quá trình sinh lý trong đó một bào thai trưởng thành, vỏ của nó và nước của thai nhi chứa trong chúng bị tống ra khỏi tử cung. Trong quá trình sinh nở, thai nhi trưởng thành đi từ trong tử cung đến cuộc sống tự lập. Khi bắt đầu sinh con đã báo trước sưng âm hộ, xuất hiện dịch nhầy từ ống cổ tử cung và giảm nhiệt độ cơ thể 1 ° C. Sự ra đời bắt đầu bằng việc mở ống cổ tử cung, kéo dài 6-12 giờ. Đồng thời, bàng quang của thai nhi của con chó con đầu tiên có thể được nhìn thấy từ lòng ống. Người phụ nữ tỏ ra lo lắng, thở dốc, sắp xếp một hang ổ cho mình ở những nơi hẻo lánh và thỉnh thoảng nằm xuống. Ngay khi chú chó con đầu tiên được đẩy vào ống cổ tử cung của người mẹ, cơ bụng được phản xạ bao gồm trong công việc, và việc sinh nở bước vào giai đoạn trục xuất của thai nhi. Thời gian chuyển dạ từ 1-6 giờ đến 1-2 ngày. Chúng được đi kèm với các cơn co thắt cơ bắp (chúng được gọi là các cơn co thắt) và cơ bụng (những chuyển động này được gọi là các nỗ lực). Cần lưu ý rằng ở động vật, áp lực bụng hoạt động mạnh hơn ở tư thế nằm ngửa so với ở tư thế đứng.

Kênh cổ tử cung được tiết lộ do sự đưa màng của thai nhi vào đó dưới dạng nước ối. Đi qua âm đạo, bàng quang mầm thường bị vỡ và các chi sau của thai nhi xuất hiện, vì khoảng 40% số chó con có biểu hiện vùng chậu. Khi vỡ màng bắt đầu, nước màu hơi đục không màu chảy ra và nếu nhau thai bị xáo trộn, nước có màu xanh lục chảy ra, chảy máu bắt đầu từ sự xói mòn hình thành trong thành tử cung. Sau khi con chó con tiếp theo được sinh ra, con cái liếm nó và cắn qua vết thương bằng răng cửa, nghĩa là, loại bỏ lớp lông của thai nhi, đầu tiên là từ đầu và sau đó ra khỏi cơ thể. Khi chó con được giải phóng khỏi màng, con cái độc lập gặm dây rốn và phần còn lại sau khi ăn, điều này là cần thiết cho cô ấy vì có rất nhiều hormone kích thích có trong cô ấy cho lần chuyển dạ tiếp theo. Đôi khi hai chú chó con được sinh ra cùng một lúc, ngay lập tức lần lượt từng con, nhưng chủ yếu là sinh nở xảy ra trong khoảng thời gian khoảng 30 phút. Thông thường, khoảng thời gian này có thể từ vài phút đến vài giờ.

Hệ tim mạch

Hệ thống tim mạch trong cơ thể cung cấp sự trao đổi chất thông qua sự lưu thông liên tục thông qua các mạch máu và bạch huyết, đóng vai trò vận chuyển chất lỏng. Quá trình này được gọi là lưu thông máu-bạch huyết. Với sự trợ giúp của lưu thông máu, nguồn cung cấp tế bào và mô của cơ thể không bị gián đoạn với oxy, chất dinh dưỡng, nước, được hấp thụ vào máu hoặc bạch huyết thông qua các bức tường của bộ máy hô hấp và tiêu hóa, và giải phóng carbon dioxide và các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất có hại cho cơ thể. Hormone, kháng thể và các hoạt chất sinh lý khác được mang trong máu, do đó hệ thống miễn dịch hoạt động và điều hòa nội tiết tố của các quá trình diễn ra trong cơ thể với vai trò hàng đầu của hệ thần kinh. Tuần hoàn máu – yếu tố quan trọng nhất trong sự thích nghi của sinh vật với các điều kiện thay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong – đóng vai trò hàng đầu trong việc duy trì cân bằng nội môi (cấu tạo và thành phần của sinh vật). Rối loạn tuần hoàn chủ yếu dẫn đến rối loạn chuyển hóa và chức năng chức năng của các cơ quan trên toàn cơ thể.

Hệ thống tim mạch được đại diện bởi một mạng lưới kín với một cơ quan trung tâm – tim. Theo bản chất của chất lỏng lưu thông, nó được chia thành máu và bạch huyết.

HỆ THỐNG MÁU

Hệ thống tuần hoàn bao gồm tim – cơ quan trung tâm thúc đẩy lưu lượng máu qua các mạch và mạch máu – các động mạch phân phối máu từ tim đến các cơ quan, tĩnh mạch đưa máu đến tim và mao mạch máu, qua đó cơ thể trao đổi các chất giữa máu và mô. Các tàu của cả ba loại đang giao tiếp với nhau bằng phương pháp anastomoses tồn tại giữa các tàu cùng loại và giữa các loại tàu khác nhau. Có anastomoses động mạch, tĩnh mạch hoặc động mạch. Với chi phí của họ, các mạng được hình thành (đặc biệt là giữa các mao quản), các nhà sưu tập, tài sản thế chấp, các tàu bên đi cùng với quá trình của tàu chính.

Trái tim là cơ quan trung tâm của hệ thống tim mạch, thúc đẩy, giống như một động cơ, máu qua các mạch. Ở chó, đây là một cơ quan cơ bắp rỗng hình tròn mạnh mẽ (Hình 18), nằm ở trung thất của khoang ngực, ở khu vực từ xương sườn thứ 3 đến xương sườn thứ 6, phía trước cơ hoành, trong khoang serous của chính nó. Nó phân biệt cơ sở và hàng đầu. Cơ sở của nó nằm ở độ cao giữa của xương sườn thứ 1, chóp nằm trong khoảng không gian liên sườn thứ 5 gần xương ức, và do đó, đầu mũi là dễ tiếp cận nhất cho nghiên cứu lâm sàng. Vị trí của cơ thể này là cos-dọc.

Trái tim của động vật có vú là bốn buồng, từ bên trong được phân chia hoàn toàn bởi vách liên thất và liên thất thành hai nửa – phải và trái, mỗi buồng gồm hai buồng – tâm nhĩ và tâm thất. Nửa bên trái của bản chất của máu lưu thông là tĩnh mạch, và bên trái – động mạch. Tâm nhĩ và tâm thất giao tiếp với nhau thông qua các lỗ thông liên nhĩ. Phôi thai (thai nhi), có một lỗ thông qua đó tâm nhĩ giao tiếp, và cũng có một ống động mạch (botal) qua đó máu từ thân phổi và động mạch chủ trộn lẫn. Đến khi sinh ra, những lỗ hổng này đã phát triển quá mức. Nếu điều này không xảy ra một cách kịp thời, máu sẽ trộn lẫn, dẫn đến rối loạn nghiêm trọng trong hoạt động của hệ thống tim mạch.

Tâm nhĩ nằm ở đáy tim. Đây là những buồng có thành mỏng nhận máu từ các tĩnh mạch rỗng, chảy vào tâm nhĩ phải và từ các tĩnh mạch phổi mang máu đến tâm nhĩ trái.

Tâm thất chiếm phần lớn trái tim. Từ các buồng này, máu được chưng cất vào động mạch chủ (từ tâm thất trái) và thân phổi (từ bên phải).

Chức năng chính của tim là cung cấp một dòng máu chảy liên tục trong các mạch của vòng tuần hoàn máu. Đồng thời, máu trong tim chỉ di chuyển theo một hướng – từ tâm nhĩ đến tâm thất, và của chúng vào các mạch máu lớn. Điều này được đảm bảo bởi các van đặc biệt và các cơn co thắt nhịp nhàng của cơ tim – đầu tiên là tâm nhĩ, sau đó là tâm thất, sau đó là tạm dừng và mọi thứ lặp lại từ đầu.

Bộ máy van của tim bao gồm van nhĩ thất và bán nguyệt. Đầu tiên là trong khu vực của foramoventricular foramen. Chúng được hình thành bởi các nếp gấp của nội tâm mạc, gân và cơ bắp. Vì vậy, mở nhĩ phải đóng van ba lá và van trái – hai lần, hoặc hai lá ,. Với sự co thắt (tâm thu) của tâm nhĩ do áp lực của máu, sash tăng lên. Các gân và cơ đồng thời ngăn chúng biến thành khoang tâm nhĩ. Điều này đảm bảo rằng máu chỉ chảy theo một hướng. Semilunar hoặc van túi được đặt ở đáy của hai mạch máu lớn nổi lên từ tâm thất – động mạch chủ và thân phổi. Chức năng của chúng là sau khi tâm trương (thư giãn) của tâm thất, máu từ các động mạch sẽ chảy ngược về tim dưới áp lực cao, và các van, chạm vào các cạnh của chúng, đóng lối vào tâm thất.

Thành của trái tim bao gồm ba lớp vỏ (lớp): nội tâm mạc, cơ tim và tầng sinh môn. Nội tâm mạc là lớp lót bên trong của tim, cơ tim là cơ tim (khác với mô cơ xương bởi sự hiện diện của các thanh ngang giữa các sợi riêng lẻ), lớp biểu mô là màng tế bào ngoài của tim. Trái tim được đặt trong túi màng ngoài tim (màng ngoài tim), cách ly nó với các khoang màng phổi, cố định cơ quan ở một vị trí nhất định và tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động. Thành của tâm thất trái dày hơn 2 – 3 lần so với bên phải.

Kích thước của trái tim phụ thuộc vào độ tuổi, động vật, giới tính, độ béo và cường độ làm việc của cơ bắp. Thai nhi có khối lượng tim tương đối so với khối lượng cơ thể nhiều hơn so với trẻ sơ sinh. Điều này là do tải trọng chức năng lớn hơn của cơ thể do dòng máu đi qua các mao mạch (cơ thể và nhau thai) hai lần. Trọng lượng của tim ở nam chiếm ưu thế so với nữ. Với hoạt động thể chất tăng lên, khối lượng tim tăng lên.

Nhịp tim chủ yếu phụ thuộc vào trạng thái của động vật và tuổi của nó, công việc được thực hiện và nhiệt độ môi trường. Dưới ảnh hưởng của các cơn co thắt của tim (do lưu lượng máu), có sự co bóp nhất quán của các mạch và sự thư giãn của chúng. Quá trình này được gọi là xung máu, hoặc mạch. Số lượng nhịp đập mỗi phút tương ứng với số lượng nhịp tim. Máu di chuyển qua các động mạch với tốc độ 0,5 m / s và sóng xung truyền với tốc độ 9 m / s, nhưng vì cơ thể động vật có kích thước nhỏ, chúng tôi kiểm tra tim bằng cách kiểm tra mạch. Xung được xác định bởi động mạch đùi hoặc cánh tay.

Mạch máu

Theo chức năng và cấu trúc của chúng, các mạch máu được chia thành các mạch dẫn và cho ăn. Dẫn điện – động mạch (mang máu từ tim), tĩnh mạch (đưa máu đến tim), và nuôi dưỡng, hoặc trophic, – mao mạch (mạch siêu nhỏ nằm trong các mô của các cơ quan). Chức năng chính của giường mạch là hai mặt – dẫn máu (thông qua các động mạch và tĩnh mạch), cũng như đảm bảo sự trao đổi chất giữa máu và các mô (liên kết của giường vi mạch) và phân phối lại máu. Đi vào cơ quan, các động mạch liên tục phân nhánh thành các tiểu động mạch, tiền chất, đi vào các mao mạch, sau đó vào các tế bào sau và tĩnh mạch. Các tĩnh mạch, là liên kết cuối cùng trên giường vi mô, hợp nhất với nhau và mở rộng, tạo thành các tĩnh mạch mang máu từ cơ quan.

Động mạch tùy thuộc vào tầm cỡ được chia thành lớn, vừa và nhỏ. Chúng nằm sâu hơn trong cơ thể của động vật, dưới các tĩnh mạch. Máu trong chúng đỏ tươi, sáng, vì nó được bão hòa oxy. Các bức tường của các động mạch được tạo thành từ các màng: bên trong (lớp nội mạc – một lớp tế bào lót tất cả các mạch), trung bình (cơ bắp) và bên ngoài (đàn hồi), sau đó cố định các động mạch ở một vị trí nhất định và hạn chế sự kéo dài của chúng.

Mao mạch – các mạch nhỏ nhất nằm giữa các tiểu động mạch và tĩnh mạch là con đường lưu thông máu của các tổ chức. Bức tường của họ bao gồm một lớp tế bào. Một con chó có công suất lên tới 2650 mao mạch trên mm 2. Trong trạng thái nghỉ của các cơ quan, khoảng 10% tổng số loại chức năng tàu này.

Viên – mạch mang máu và bạch huyết đến tim. Máu trong chúng tối màu vì nó bão hòa với các sản phẩm trao đổi chất từ ​​các cơ quan. Các bức tường của các tĩnh mạch được xây dựng giống như các bức tường của các động mạch, nhưng chúng mỏng hơn, chúng có ít mô đàn hồi và cơ bắp, do đó các tĩnh mạch trống rơi xuống. Các tĩnh mạch nằm gần bề mặt của cơ thể.

Tuần hoàn máu xảy ra trong một hệ thống khép kín bao gồm các vòng tròn lớn và nhỏ. Tốc độ của nó ở chó là 13-26 giây.

Vòng tròn lớn, hoặc có hệ thống, bắt đầu từ tâm thất trái của tim. Máu dưới áp suất cao (lên tới 120 mm Hg) được đẩy ra khỏi động mạch chủ (động mạch lớn nhất), qua đó nó di chuyển với tốc độ trung bình 25 m / s. Các động mạch khởi hành từ động mạch chủ, đi vào cơ quan, vỡ ra thành vô số mao mạch tạo thành giường vi mạch của cơ quan, nơi xảy ra quá trình trao đổi chất. Các mao mạch của cơ thể tạo thành các tĩnh mạch, khi các mạch nhỏ hợp nhất, tạo thành hai tĩnh mạch rỗng. Theo anh, máu lại quay trở lại tim, đến tâm nhĩ phải.

Vòng tròn nhỏ bắt đầu từ tâm thất phải, từ đó máu được đưa vào thân phổi. Trên thân cây này, được chia thành các động mạch phổi phải và trái, máu được dẫn vào các vi mạch của phổi. Tại đây, nó được giải phóng từ carbon dioxide và trở lại qua các tĩnh mạch phổi đến tâm nhĩ trái của tim, nơi lưu thông phổi kết thúc. Từ tâm nhĩ trái máu đi vào tâm thất trái, và từ đó vào vòng tròn lớn.

Máu là một mô chất lỏng lưu thông trong hệ thống tuần hoàn. Nó là một loại mô liên kết, cùng với bạch huyết và dịch mô, tạo nên môi trường bên trong cơ thể. Nó mang oxy từ phế nang phổi đến các mô (do sắc tố hô hấp của hemoglobin có trong tế bào hồng cầu) và carbon dioxide từ các mô đến hệ hô hấp (điều này được thực hiện bởi muối hòa tan trong huyết tương). Máu cũng mang các chất dinh dưỡng (glucose, axit amin, axit béo, muối và các chất khác) đến các mô và các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa (urê, axit uric, amoniac, creatine) từ các mô đến các cơ quan bài tiết và cũng vận chuyển các hoạt chất sinh học (hormone, chất trung gian, chất điện giải, sản phẩm chuyển hóa – chất chuyển hóa). Nó không tiếp xúc với các tế bào của cơ thể, các chất dinh dưỡng truyền từ nó đến các tế bào thông qua chất lỏng mô lấp đầy không gian ngoại bào. Máu tham gia vào quá trình điều hòa chuyển hóa muối-nước và cân bằng axit-bazơ trong cơ thể, duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định, đồng thời bảo vệ cơ thể khỏi tác động của vi khuẩn, vi rút, độc tố, protein ngoại lai. Số lượng của nó trong cơ thể của con chó là 1/13 trọng lượng cơ thể (5,6-13,0% trọng lượng cơ thể).

Sơ đồ hệ tuần hoàn máu và bạch huyết

Máu bao gồm hai thành phần quan trọng – tế bào máu và huyết tương. Tỷ lệ các yếu tố đồng nhất chiếm khoảng 30-40%, huyết tương – 70% tổng lượng máu. Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu là một trong những yếu tố.

Hồng cầu, hay hồng cầu, hình thành trong tủy xương đỏ và bị phá hủy trong lá lách. 90% chất đỏ là chất khô là huyết sắc tố. Chức năng chính của chúng là vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan và mô. Chúng gây ra các đặc điểm miễn dịch của máu, do sự kết hợp của các kháng nguyên hồng cầu, đó là nhóm máu. Những con chó có một số lượng lớn.

Bạch cầu, hay bạch cầu, hình thành ở tủy xương đỏ, hạch bạch huyết, lá lách và tuyến ức (chỉ ở những người trẻ tuổi). Tùy thuộc vào cấu trúc, chúng được chia thành dạng hạt (bạch cầu ái toan, basophils và bạch cầu trung tính) và không hạt. Tỷ lệ phần trăm của các dạng bạch cầu riêng lẻ là dạng bạch cầu của máu. Tất cả các loại tế bào bạch cầu đều tham gia vào các phản ứng bảo vệ của cơ thể.

Tiểu cầu, hoặc tiểu cầu, hình thành trong tủy xương đỏ. Khi bị phá hủy, thromboplastin được giải phóng – một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình đông máu, do đó tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu.

Huyết tương – nó là phần lỏng của nó, bao gồm nước (91-92%) và các chất hữu cơ và khoáng chất hòa tan trong đó. Tỷ lệ thể tích tính theo phần trăm của các yếu tố hình thành và huyết tương được gọi là số hematocrit.

Máu được đặc trưng bởi một mức độ không đổi của các yếu tố hình thành (Bảng 5). Các tế bào hồng cầu được cập nhật trong 3-4 tháng, bạch cầu và tiểu cầu – trong một vài ngày, protein huyết tương – trong 2 tuần.

HỆ THỐNG LYMPHATIC

Đây là một phần chuyên biệt của hệ thống tim mạch. Nó bao gồm bạch huyết, mạch bạch huyết và các hạch bạch huyết. Nó thực hiện hai chức năng chính: thoát nước và bảo vệ.

Thành phần máu của chó

Nó là một chất lỏng màu vàng trong suốt. Образуется в результате выхода через стенки капилляров в окружающие ткани части плазмы крови из кровеносного русла. Из тканей она поступает в лимфатические сосуды. Вместе с лимфой, оттекающей от тканей, удаляются продукты обмена веществ, остатки отмирающих клеток, микроорганизмы. В лимфоузлах в лимфу попадают лимфоциты из крови. Она течет, как и венозная кровь, центростремительно, по направлению к сердцу, изливаясь в крупные вены.

Они разделяются на:

* лимфатические капилляры – похожие по строению на кровеносные капилляры, но отличающиеся более широким просветом. Они повсюду сопровождают кровеносные капилляры,

* лимфатические посткапилляры – отличаются от капилляров наличием клапанов. Это более крупные капилляры,

* внутриорганные лимфатические сосуды – бывают поверхностные или подкожные и глубокие,

* внеорганные приносящие (афферентные) и выносящие (эфферентные) лимфатические сосуды лимфатических узлов,

* лимфатические стволы и лимфатические протоки – это крупные лимфатических сосуды. В их стенках имеются артерии и вены.

Các hạch bạch huyết là các cơ quan hình hạt đậu nhỏ gọn bao gồm mô võng mạc (một loại mô liên kết). Vô số hạch bạch huyết, nằm trên đường chảy của bạch huyết, là cơ quan lọc hàng rào quan trọng nhất, trong đó các vi sinh vật, các hạt lạ, các tế bào sụp đổ kéo dài và trải qua quá trình thực bào (tiêu hóa). Vai trò này được thực hiện bởi các tế bào lympho. Do chức năng bảo vệ của các hạch bạch huyết có thể trải qua những thay đổi đáng kể. Ở chó, có tới 60 hạch bạch huyết hình trung bình. Tùy thuộc vào vị trí, họ hời hợt, sâu sắc và nội bộ.

Các yếu tố máu và bạch huyết là ngắn ngủi. Chúng được hình thành trong các cơ quan tạo máu đặc biệt. Chúng bao gồm:

* tủy xương đỏ (tế bào hồng cầu, bạch cầu hạt, tiểu cầu được hình thành trong đó), nằm trong xương ống,

* lá lách (tế bào lympho và bạch cầu hạt được hình thành trong đó, làm chết các tế bào máu, chủ yếu là hồng cầu, bị phá hủy). Cơ quan không ghép đôi này, nằm ở vùng hạ vị bên trái,

* hạch bạch huyết (nơi tế bào lympho được hình thành),

* Tuyến ức, hoặc tuyến ức (nơi tế bào lympho được hình thành).

Nó có một phần cổ tử cung được ghép nối, nằm ở hai bên của khí quản đến thanh quản, và một ngực không ghép đôi, nằm trong khoang ngực trước tim. Ở chó, tuyến ức phát triển kém.

Các tuyến nội tiết

Các tuyến nội tiết bao gồm các cơ quan, mô, nhóm tế bào giải phóng hormone vào máu thông qua thành mao mạch – các chất điều chỉnh sinh học tích cực cao về chuyển hóa, chức năng và sự phát triển của động vật. Trong các tuyến nội tiết không có ống bài tiết.

Ở dạng nội tạng, có các tuyến nội tiết sau: tuyến yên, tuyến tùng (tuyến lệ), tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục (ở nam giới – tinh hoàn).

Tuyến yên nằm ở đáy xương sphenoid. Phân bổ một số loại hormone: thyrotropic – kích thích sự phát triển và hoạt động của tuyến giáp, tuyến thượng thận – tăng cường sự phát triển của các tế bào vỏ thượng thận và sự tiết ra của các tế bào vỏ của cơ quan sinh dục, sự kích thích của các tế bào vỏ của cơ quan sinh dục. quá trình tăng trưởng mô, prolactin – tham gia cho con bú, oxytocin – gây giảm cơ trơn của tử cung, vasopssin – kích thích sự hấp thụ nước ở thận và huyết áp tăng. Sự gián đoạn của tuyến yên gây ra chứng khổng lồ (aclicgaly) hoặc lùn (nanism), khả năng tình dục, kiệt sức, rụng tóc, răng.

Tuyến giáp

Tuyến giáp được chia bởi một eo ở bên phải và thùy trái nằm phía sau khí quản ở cổ. Chó có thể có thêm tuyến giáp. Các hormone thyroxin và triiodothyronine điều chỉnh các quá trình oxy hóa trong cơ thể, ảnh hưởng đến tất cả các loại chuyển hóa, các quá trình enzyme. Chúng chứa iốt. Calcitonin, chống lại hormone tuyến cận giáp, làm giảm canxi trong máu. Tuyến giáp cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển và biệt hóa của các mô (Hình 19).

Các tuyến Parashitovida

Các tuyến này nằm gần thành của tuyến giáp. Hormon tuyến cận giáp do chúng tiết ra sẽ điều chỉnh hàm lượng canxi trong xương, tăng cường hấp thu canxi trong ruột và bài tiết phốt phát ở thận.

Tuyến tụy

Tuyến này có chức năng kép. Là một tuyến nội tiết, nó sản xuất insulin, một loại hormone điều chỉnh lượng đường trong máu. Với bệnh tuyến tụy ở chó, đái tháo đường thường được quan sát nhiều hơn, kèm theo sự gia tăng lượng đường trong máu từ 0,1% đến 0,6-0,8%. Sự gia tăng lượng đường trong máu dẫn đến sự gia tăng hàm lượng của nó trong nước tiểu, vì cơ thể cố gắng giảm lượng đường.

QUẢNG CÁO

Tuyến thượng thận là các cơ quan được ghép nối trong nang mỡ của thận, nặng 0,6 g. Chúng tổng hợp các hormone aldosterone, corticosterone và cortisone, điều chỉnh huyết áp, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa chất béo và carbohydrate, phát triển tình dục và hoạt động của tuyến vú. Adrenaline thu hẹp mạnh mạch máu, tăng cường hoạt động của tim, tăng số lần co bóp. Trong ảnh hưởng đến chuyển hóa carbohydrate, nó ngược lại với insulin.

Làm thế nào để bộ xương bên trong của một con chó

Cột sống trên (cổ). Nó bao gồm bảy xương đốt sống. Đầu tiên được gọi là “Atlas” (dịch từ tiếng Latin “Atlant”). Nó khác với những cái khác ở dạng vòng và cung cấp khả năng di chuyển của đầu theo chiều dọc. Các đốt sống thứ hai được gọi là “Epistrophy” (“Epistrophy”), nó chịu trách nhiệm cho các chuyển động ngang của đầu của động vật.

Xương sườn được gắn vào các quá trình ngang của đốt sống của phần này. Các quá trình gai từ 1 đến 10 đốt sống được hướng vào đuôi, nhưng thứ mười một được gọi là quá trình cơ hoành. Quá trình gai góc của nó được hướng lên trên. Các quá trình tương tự từ 12 đến 13 đốt sống được hướng vào đầu của động vật.

So sánh bộ xương của người và chó

Loin hoặc thắt lưng. Những đốt sống này có hình bầu dục. Các quá trình của họ là các khớp nối ngang dài, phẳng, hình băng được phát triển tuyệt vời.

Các quá trình gai của cột sống thắt lưng ở đốt sống được hướng vào đầu. Độ dài của mỗi (đến thứ năm) tăng dần, và sau đó giảm ngay lập tức.

Sacrum là sự hợp nhất của ba hoặc bốn đốt sống xương thành một xương. Chức năng chính của phần này của cột sống là một liên kết mạnh mẽ của cột sống với các chi sau.

Ở nữ giới, vùng sacral dài hơn và rộng hơn so với nam giới. Kích thước như vậy là do chức năng sinh sản của nữ giới. Trong phần này của cột sống, các quá trình sau được hợp nhất thành một sườn núi cùng tên.

Trong chấn thương tủy sống hoặc bất thường bẩm sinh, thú cưng sẽ trải qua MRI và kê đơn điều trị.

Các dây đeo vai bao gồm scapula và xương đòn thô lỗ. Xương đòn được gắn vào cơ thể của con chó gần cặp xương sườn đầu tiên. Nhờ vành đai này, các chi trước được gắn vào bộ xương.

So sánh xương động vật

Tay chân. Những con chó chỉ có bốn chân.

Vòng ngực bao gồm:

  1. Vai, bao gồm các humerus.
  2. Cẳng tay bao gồm ulna và bán kính.
  3. Bàn chải Nó bao gồm bảy xương ống cổ tay, năm metacarpals và phalang của ngón tay. Con chó có năm ngón tay, bao gồm ba phalang.

Vành đai của các chi chậu bao gồm:

  1. Xương chậu (hồi tràng, xương mu, đau thần kinh tọa).
  2. Hông bao gồm xương đùi và xương bánh chè.
  3. Ống chân bao gồm xương chày và xương chày.
  4. Dừng lại Nó bao gồm bảy xương của vương miện và năm xương đại tràng. Các phalang của ngón tay và cấu trúc của chúng giống với vùng ngực.

Chó xương chậu

Giải phẫu sọ chó

Sọ và răng. Sự kết nối của xương sọ là di động. Nó cung cấp cho thú cưng khả năng nhai, nhấm nháp, v.v.

Công thức của răng bao gồm: răng nanh, răng cửa, răng hàm và răng hàm.

Cắn bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn giống và giống.

Hình dạng cho chó

  • Kéo Ở đây, những cái thấp hơn nằm dưới răng cửa trên, và cũng có một kết nối chặt chẽ với nhau.
  • Kìm – hình thức cắn này xảy ra khi các răng cửa được đóng lại với nhau.
  • Trực tiếp. Các răng cửa đứng trên nhau.
  • Ăn nhẹ. Hàm dưới phình ra phía trước và răng không khớp.

Cấu trúc của hộp sọ

Sọ của con chó mặt dài Bịt kín.

Sọ Pug

Đối với xương không ghép đôi bao gồm “ppetgoid”, “chẩm”, xương hyoid, cũng như “mở”. Ngoài ra, bộ xương bao gồm và không có một cặp xương ethmoid và hình nêm với các hạt.

Hai xương hàm trên, xương gò má, xương hàm, mũi, vòm miệng và hai xương hàm dưới, trán, thân răng và thái dương có thể được quy cho những người được ghép nối.

Đặc điểm cấu trúc

Bộ xương của bất kỳ giống nào thực hiện chức năng quan trọng nhất. Nó không chỉ là nền tảng cho toàn bộ sinh vật, nó là một đòn bẩy cung cấp chuyển động, nó còn thực hiện chức năng hỗ trợ cho tất cả các cơ quan, cơ bắp và hệ thống của động vật.

Mô xương rất bền và nhẹ khi so sánh với các hệ thống khác trong cơ thể thú cưng.

Có bao nhiêu xương

Ở người, tổng cộng có từ 205 đến 207 xương, khoảng hai trăm khớp. Con mèo có cùng số lượng xương khoảng 244 mảnh.

Bộ xương của chó là duy nhất trong thành phần và chức năng của nó. Nhờ có anh, những con vật này di động và hoạt động. Chỉ huy và phối hợp tốt và có thể rất khỏe mạnh.

Buồng trứng ở nữ

Hormone được sản xuất bởi các tuyến nội tiết, có đặc tính có tác động mạnh đến quá trình trao đổi chất và một số quá trình quan trọng quan trọng trong cơ thể động vật. Khi chức năng bài tiết của nhóm tuyến này bị suy giảm, các bệnh cụ thể phát sinh ở chó: rối loạn chuyển hóa, tăng trưởng bất thường và phát triển tình dục, và một số bệnh khác.

Cơ bắp bề ngoài của chó:

【#9】Bài Tiểu Luận Phương Pháp Tạo Cấu Trúc Gel Của Các Protein Trong Các Thực Phẩm Giàu Protein

BỘ CÔNG THƢƠNG

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM

TIỂU LUẬN MÔN HỌC

HÓA HỌC THỰC PHẨM

ĐỀ TÀI:

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC

GEL CỦA CÁC PROTEIN TRONG

CÁC THỰC PHẨM GIÀU PROTEIN

GVHD: LÊ THỊ THÚY HẰNG

Thực hiện: NHÓM: 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 9 NĂM 2021

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

DANH SÁCH NHÓM

STT

Nhóm 5

TÊN THÀNH VIÊN

MSSV

1

LÝ THỊ HƢƠNG

2008130148

2

PHẠM THỊ KIM LIÊN

2008130107

3

NGUYỄN THỊ NHÃ UYÊN

2005140715

4

NGUYỄN THỊ NGỌC HUYỀN

2005140225

2

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

Nhóm 5

3

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

LỜI MỞ ĐẦU

Từ lâu thực phẩm đã là phần không thể thiếu trong đời sống con ngƣời. Cùng

với tính thiết yếu đó ngành công nghiệp thực phẩm đã ra đời và phát triển với mục

đích là tạo nên nhƣng sản phẩm thực phẩm dinh dƣỡng, an toàn để phục vụ con

ngƣời. Sự phát triển của khoa học nói chung và khoa học ứng dụng trong thực

phẩm nói riêng đã cho chúng ta có những hiểu biết sâu sắc về hợp phần, cấu trúc,

biến đổi trong quá trình chế biến và sử dụng thực phẩm. Mà trong đó cấu trúc sản

phẩm là 1 yếu tố trƣớc tiên tác động lên con ngƣời khi tiếp xúc với sản phẩm thực

phẩm. Trong các cấu trúc của thực phẩm, cấu trúc gel là 1 cấu trúc quen thuộc và

có rất nhiều sản phẩm thực phẩm có cấu trúc này nhƣ giò, phomat …Bài tiểu luận

này trình bày về cấu trúc gel và ứng dụng của nó trong thực phẩm.

Nhóm 5

4

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

I. ĐỊNH NGHĨA PROTEIN

Protein là những đại phân tử đƣợc cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà các dơn

phân lá axit amin. Chúng kết hợp với nhau thành một mạch dài nhờ các liên kết

peptide (gọi là chuỗi polypeptide). Các chuỗi này có thể xoắn cuộn hoặc gấp theo

nhiều cách để tạo thành cấu trúc không gian khác nhau của protein.

II. PHÂN BIỆT MỘT SỐ HIỆN TƢỢNG TƢƠNG TỰ VỚI SỰ

TẠO GEL

Ta cũng cần phân biệt sự tạo gel với các hiện tƣợng khác tƣơng tự, trong đó

cũng có sự giảm mức độ phân tán của dung dịch protein nhƣ sự liên hợp, sự tập

hợp, sự trùng hợp, sự kết tủa, sự kết tụ và sự đông tụ.

Các phản ứng liên hợp protein thƣờng có quan hệ với các biến đổi ở mức dƣới

đơn vị hoặc ở mức phân tử trong khi đó các phản ứng trùng hợp hóa hoặc tập hợp

hóa lại tạo ra các phức hợp có kích thƣớc lớn.

Sự kết tủa protein lại bao hàm tất cả các phản ứng tập hợp có thể dẫn đén mất

toàn phần hoặc mất toàn bộ độ hòa tan.

Khi protein không bị biến tính nhuwg do giảm lực tĩnh điện giữa các mạch mà

dẫn đến các phản ứng tập hợp không trật tự thì sẽ gây ra hiện tƣợng kết tụ.

Các phản ứng tập hợp không trật tự xảy ra do biến tính và các phản ứng tập

hợp xảy ra do tƣơng tác protein – protein chiếm ƣu thế so với các tƣơng tác

protein – dung môi sẽ dẫn đến một khối lƣợng lớn và thô, gọi là sự đông tụ.

III. GEL PROTEIN

3.1.Định nghĩa

Khi các phân tử protein bị biến tính tập hợp lại thành một mạng lƣới không

gian có trật tự thì hiện tƣợng đó đƣợc gọi là sự tạo gel.

Biến tính protein là sự thay đổi thuận nghịch hay không thuận nghịch cấu trúc

không gian ban đầu của protein nhƣng không làm biến đổi các liên kết hóa trị

Nhóm 5

5

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

trong phân tử (trừ liên kết disulfide). Khả năng tạo gel của protein là một tính chất

rất quan trọng của nhiều hệ thống protein và đóng vai trò chủ yếu trong việc tạo

cấu trúc hình thái. Do đó, nó cũng là cơ sở để chế tạo ra nhiều sản phẩm thực

phẩm. Phomat, giò, gel gelatin đậu phụ, bột nhào làm bánh mì, các thịt giả từ

protein thực vật (đƣợc kết cấu bằng cách đùn hoặc kéo sợi) là những sản phẩm có

cấu trúc gel.

Khả năng tạo gel của protein đƣợc sử dụng để tạo độ cứng, độ đàn hồi cho một

số thực phẩm để cải biến khả năng hấp thụ nƣớc, tạo độ dầy, tạo lực liên kết (bám

dính) giữa các tiểu phần cũng nhƣ làm bền các nhũ tƣơng và bọt.

3.2.Điều kiện tạo gel

Sự gia nhiệt, trong đa số trƣờng hợp là rất cần thiết cho sự tạo gel.Việc làm

lạnh sau đó cũng cần thiết và đôi khi một sự axit hóa nhẹ nhàng cũng có ích.Thêm

muối (đặc biệt là ion canxi) có thể cũng cần, hoặc tăng tốc độ tạo gel hoặc để tăng

độ cứng cho gel.

Nhiều protein có thể tạo gel không cần gia nhiệt mà chỉ cần một sự thủy phân

enzyme vừa phải, một sự thêm đơn giản các ion canxi, hoặc một sự kiềm hóa kèm

theo trung hòa đƣa pH đến điểm đẳng điện (sản xuất đậu phụ).

Nhóm 5

6

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

Nhiều gel cũng có thể tạo ra từ protein dịch thể (lòng trắng trứng, dịch đậu

tƣơng), từ các protein không tan hoặc ít tan phân tán trong nƣớc hoặc trong muối

(collagen, protein tơ cơ, isolate (dịch đậm đặc đậu tƣơng) tùng phần hoặc toàn bộ

biến tính. Nhƣ vậy độ hòa tan của protein không phải luôn luôn cần thiết cho sự

tạo gel.

3.3.Cơ chế tạo gel

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ rằng cần phải có giai đoạn biến tính và giãn mạch

xảy ra trƣớc giai đoạn trật tự giữa protein – protein và tập hợp phân tử.

Khi protein bị biến tính các cấu trúc bật cao bị phá hủy, liên kết giữa các phân

tử bị đứt, các nhóm bên của axit amin trƣớc ẩn ở phía trong thì bây giờ xuất hiện

ra ngoài.Các mạch polymer bị duỗi ra, gần nhau, tiếp xúc với nhau và liên kết với

nhau thành mạng lƣới không gian ba chiều mà mỗi vị trí tiếp xúc mạch là một nút.

Các phần còn lại hình thành mạng lƣới không gian vô định hình, rắn, trong đó có

chứa đầy pha phân tán là nƣớc.

Khi nồng độ tăng thì khả năng gel hóa tăng vì số những vị trí tiếp xúc để tạo ra

nút mạng lƣới tăng lên. Nồng độ protein càng lớn thì các hạt tiếp xúc trực tiếp

không qua một lớp nào của môi trƣờng phân tán và khối gel càng dề vì ở những vị

trí đặc biệt ở đầu nút.

Nút mạng lƣới có thể tạo ra do tƣơng tác giữa các nhóm ƣa béo. Khi các nhóm

này gần nhau, tƣơng tác với nhau thì hình thành ra các liên kết ƣa béo, lúc này thì

cá phân tử nƣớc bao quanh chúng bị đẩy ra và chúng có khuynh hƣớng nhƣ tụ lại.

Nhóm 5

7

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

Tƣơng tác ƣa béo đƣợc tăng cƣờng khi tăng nhiệt độ, làm các mạch polypeptit xít

lại gần nhau hơn do đó khối gel cứng hơn.

Nút mạng lƣới cũng có thể tạo ra do cá liên kết hydro giữa các peptit với nhau.

Nhiệt đọ càng thấp thì các liên kết hydro càng đƣợc tăng cƣờng và củng cố vì càng

có điều kiện để tạo ra nhiều cầu hydro. Liên kết hydro là liên kết yếu, tạo ra một

độ linh động nào đó giữa các phân tử đối với nhau, do đó làm cho gel có một đọ

dẻo nhất định. Các mắt trong gel gelatin chủ yếu là do các liên kết hydro. Khi gia

nhiệt các liên kết hydro bị đứt và gel sẽ nóng chảy chúng tôi đẻ nguội liên két tái hợp

và gel lại hình thành.

Tham gia tạo ra các nút lƣới trong gel cũng có thể do các liên kết tĩnh điện, liên

kết cầu nối giữa các nhóm tĩnh điện ngƣợc dấu hoặc do liên kết giữa các nhóm

tĩnh điện cùng dấu qua các ion đa hóa trị nhƣ ion canxi chẳng hạn. Còn các mắt

lƣới còn có thể do các liên kết đissulfua tạo nên. Trong trƣờng hợp này sẽ tạo cho

gel có tính bất thuận nghịch bởi nhiệt, rất chắc và bền.

Các protein cũng có thể tạo gel bằng cách cho tƣơng tác với các chất đồng tạo

gel nhƣ các polysacarit, làm thành cầu nối giữa các hạt do đó gel tạo ra có độ cứng

và độ đàn hồi cao hơn. Cũng có thể them các chất alginate hay pectinat tích điện

âm và gelatin tích điên dƣơng để tạo ra tƣơng tác ion không dặc hiệu giữa các

chuỗi peptit do đó sẽ tạo cho gel có nhiệt đọ nóng chảy cao (800C).

Khi đi từ dung dịch protein, các giai đoạn đầu của quá trình tạo gel bằng nhiệt

có thể nhƣ sau:

1/ phân li thuận nghịch cấu trúc bậc bốn thành các đơn vị hoặc monomer.

2/ biến tính không thuận nghịch các cấu trúc bậc hai và ba (sự giãn mạch vẫn

cò là từng phần):

Nhóm 5

8

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

Trong đó -PN: protein tự nhiên

-PD: protein đã bị biến tính

-n: số đã biết

IV. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TẠO GEL

4.1.Kiểu protein:

Protein cơ ở các vị trí khác nhau, khi tạo gel cho cấu trúc khác nhau. Chẳng

hạn, gel từ myosin ở cơ ức gà độ bền cao hơn ở cơ đùi gà. Gel từ myosin cơ thịt đỏ

có cấu trúc tốt hơn cỏ thịt trắng.

4.2.Nồng độ protein: quyết định độ bền và khả năng giữ nƣớc của gel. Nồng

độ protein càng cao, gel càng cứng và bền.nếu nồng độ quá thấp, có khả năng gel

không hình thành

4.3.Nhiệt độ: nhiệt độ thấp → tạo nhiều liên kết hydro ⇒ gel bền hơn.

4.4.Các yếu tố khác

– Axit hóa hoặc kiềm hóa nhẹ → pH ≈ pI ⇒ gel tạo thành chắc hơn.

– Các chất đồng tạo gel nhƣ các polysaccharide làm cầu nối giữa các hạt ⇒ gel

có độ cứng và độ đàn hồi cao hơn.

Nhóm 5

9

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

V. ỨNG DỤNG CẤU TRÚC GEL TRONG SẢN PHẨM THỰC

PHẨM

Có rất nhiều sản phẩm thực phẩm có cấu trúc gel, đƣợc sản xuất từ nhiều loại

nguyên liệu khác nhau nhƣ thịt cá sữa… làm cho các sản phẩm này tăng cao về

khả năng hấp thụ của cơ thể, về tính chất cảm quan,…

5.1.Sản xuất phomat từ nguyên liệu sữa

Sự đông tụ sữa bằng renin là quan trọng nhất, đây là quá trình tạo cấu trúc gel

cho sản phẩm.kết quả của quá trình này là sự đông tụ tạo thành canxi paracaseinat

-dƣới dạng gel.

5.2.Sản xuất giò lụa

Gel protein từ thịt

Khả năng tạo gel bởi

nhiệt

của

các

protein

myofibril (tơ cơ), thêm sự

có mặt của muối trung tính.

Nhóm 5

10

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

5.3.Sản xuất đậu hủ

Gel từ protein đậu nành, tạo cấu trúc gel đặc trƣng nhờ nƣớc chua tự nhiên,

muối MgCl2, CaCl2, CaSO4, axit lactic, axit acetic…

Nhóm 5

11

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

VI. CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

1. Điền vào ô trống:

Khi các protein bị biếntính tập hợp lại thành một mạng lƣới không

gian…………………..thì hiện tƣợng đó đƣợc gọi là sự tạo gel.

A. Hổn độn

B. Có trật tự

C. 3 chiều

D. Không trật tự

2. Nút mạng lƣới đƣợc tạo ra do các liên kết hydro giữa các gốc aa với nhau

giúp cho gel có dặc điểm gì?

A. Khối gel trở nên cứng hơn

C. Gel có một độ dẻo nhất định

B. Gel rất chắc và bền

D. Gel mềm hơn

3. Gel từ myosin cơ thịt đỏ và cơ thịt trắng thì cái nào có cấu trúc tốt hơn?

A. Thịt đỏ

B. Thịt trắng

4. Nồng độ của protein có ảnh hƣởng gì trong quá trình tạo gel?

A. Quyết định đến dộ bền

C. A, B đều đúng

B. Khả năng giữ nƣớc của gel

D. A, B điều sai

5. Đố với gel hình thành nhờ liên kết hydro thì ở nhiệt độ nào gel bền hơn?

A. Thấp

B. Cao

6. Các nút mạng lƣới đƣợc tạo ra do tƣơng tác kỵ nƣớc (ƣa béo) giúp cho các

polypeptide?

A. Cách xa nhau hơn

Nhóm 5

C. Tách rời nhau ra

12

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

B. xít lại gần nhau hơn

D. Tất cả đều sai

7. Các mắt lƣới đƣợc tao ra do các liên kết disulfua giúp cho gel có đặc điểm

gì?

A. Cứng hơn

C. Dẻo hơn

B. Chắc hơn

D. Chắc và bền

8. Việc them muối của các ion đa hóa trị (Ca2+) có tác dụng gì?

Nhóm 5

A. Tăng tốc độ tạo gel

C. Tăng độ dẻo cho gel

B. Tăng độ cứng cho gel

D. cả A, B đều đúng

13

PHƢƠNG PHÁP TẠO CẤU TRÚC GEL

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Ngọc Tú(chủ biên), Bùi Đức Hợi, Lƣu Duẩn, Ngô Hữu Hợp, Dặng Thị

Thu, Nguyễn Trọng Cẩn – Hóa học thực phẩm – nhà xuất bản Khoa học và Kỹ

thuật – Hà Nội – 2013.

2. Lê Ngọc Tú (chủ biên), Lƣu Duẩn, Đặng Thị Thu, Lê Thị Cúc, Lâm Xuân

Thanh, Phạm Thu Thùy – Biến hình sinh học các sản phẩm từ hạt – Nhà xuất bản

Khoa học và Kỹ thuật – Hà Nội – 2000.

3. Lâm Xuân Thanh – Giáo trình công nghệ các sản phẩm sữa – nhà xuất bản

Khoa học và Kỹ thuật – Hà Nội.

4. Lê Văn Hoàng – Cá thịt và chế biến công nghiệp – Nhà xuất bản Khoa học

và Kỹ thuật – Hà Nội – 2004.

Nhóm 5

14

【#10】Nêu Cấu Tạo Phù Hợp Với Chức Năng Của Các Cơ Quan Tiêu Hóa

Qua quá trình tiêu hóa, chất nào sau đây trong thức ăn được biến đổi thành glixêrin và axit béo?

A:

Lipit.

B:

Gluxit.

C:

Vitamin.

D:

Prôtêin.

2

Hệ cơ quan nào sau đây ở người có chức năng đảm bảo sự thích ứng của cơ thể trước những thay đổi của môi trường?

A:

Hệ bài tiết.

B:

Hệ tuần hoàn.

C:

Hệ hô hấp.

D:

Hệ thần kinh.

3

Hình ảnh sau mô tả một loại mô.

Loại mô này là

A:

mô biểu bì.

B:

mô liên kết.

C:

mô thần kinh.

D:

mô cơ.

4

Chất nhày trong dịch vị bao phủ bề mặt niêm mạc dạ dày có tác dụng

A:

ngăn cách các tế bào niêm mạc với pepsin và HCl.

B:

tiết ra chất tiêu diệt virut gây hại.

C:

hoạt hóa enzim làm tăng hiệu quả tiêu hoá thức ăn.

D:

dự trữ nước cho hoạt động co bóp của dạ dày.

5

Cho sơ đồ mối quan hệ của máu, nước mô, bạch huyết trong cơ thể như sau:

Các thành phần tương ứng với các số thứ tự 1, 2, 3, 4 lần lượt là:

A:

mao mạch bạch huyết, tế bào, nước mô, mao mạch máu.

B:

mao mạch bạch huyết, mao mạch máu, nước mô, tế bào.

C:

mao mạch bạch huyết, nước mô, mao mạch máu, tế bào.

D:

mao mạch bạch huyết, tế bào, mao mạch máu, nước mô.

6

Thành phần nào sau đây của máu chỉ là các mảnh chất tế bào?

A:

Hồng cầu.

B:

Tiểu câu.

C:

Bạch cầu mônô.

D:

Bạch cầu limphô.

7

Một loại mô có đặc điểm cấu tạo và chức năng như sau:

(I). Gồm các nơron và các tế bào thần kinh đệm.

(II). Có chức năng tiếp nhận kích thích, xử lí thông tin và điều khiển sự hoạt động các cơ quan trả lời các kích thích của môi trường.

(III). Cấu tạo nơron gồm thân chứa nhân, sợi nhánh, sợi trục.

Loại mô đó là

A:

mô cơ.

B:

mô thần kinh.

C:

mô liên kết.

D:

mô biểu bì.

8

Loại tế bào nào sau đây của máu tạo ra kháng thể?

A:

Bạch cầu trung tính.

B:

Bạch cầu limphô B.

C:

Bạch cầu mônô.

D:

Bạch cầu limphô T.

9

Màng sinh chất đảm nhiệm chức năng nào sau đây?

A:

Bao bọc tế bào, thực hiện quá trình trao đổi chất giữa tế bào và môi trường.

B:

Thu gom, hoàn thiện, đóng gói và phân phối sản phẩm trong tế bào

C:

Điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào, có vai trò quyết định trong di truyền.

D:

Tham gia hoạt động hô hấp giải phóng năng lượng.

10

Để hệ cơ phát triển tốt cần tránh thói quen nào sau đây?

A:

Ăn uống khoa học.

B:

Luyện tập thể dục thể thao hợp lí.

C:

Lao động vừa sức.

D:

Ngồi nhiều.

11

Hình ảnh bên mô tả cấu tạo bộ xương người.

Các loại xương tương ứng với các số (1), (2), (3) lần lượt là:

A:

xương chi, xương đầu, xương thân.

B:

xương đầu, xương thân, xương chi.

C:

xương đầu, xương chi, xương thân.

D:

xương thân, xương đầu, xương chi.

12

Khi nói về hoạt động của hệ cơ, có bao nhiêu phát biểu sau đây đúng?

(I). Nguyên nhân của sự mỏi cơ là do thiếu ôxi nên axit lactic tích tụ đầu độc cơ.

(II). Khi cơ co tạo ra một lực để sinh công.

(III). Sự ôxi hóa các chất dinh dưỡng tạo ra năng lượng cung cấp cho cơ hoạt động.

(IV). Làm việc quá sức và kéo dài dẫn tới sự mỏi cơ.

A:

3

B:

1

C:

2

D:

4

13

Theo thể tích, thành phần máu người gồm

A:

55% các tế bào máu và 45% huyết tương.

B:

65% các tế bào máu và 35% huyết tương.

C:

35% các tế bào máu và 65% huyết tương.

D:

45% các tế bào máu và 55% huyết tương.

14

Từ ngoài vào trong, các lớp cơ của dạ dày sắp xếp theo trật tự nào sau đây?

A:

Cơ vòng – cơ dọc – cơ chéo.

B:

Cơ chéo – cơ vòng – cơ dọc.

C:

Cơ dọc – cơ vòng – cơ chéo.

D:

Cơ dọc – cơ chéo – cơ vòng.

15

Khi nói về enzim amilaza, những phát biểu nào sau đây đúng?

(I). Enzim trong nước bọt hoạt động tốt ở nhiệt độ 37 o C.

(II). Enzim trong nước bọt hoạt động tốt ở pH là 7,2.

(III). Enzim trong nước bọt bị phá hủy ở nhiệt độ 100 o C.

(IV). Enzim trong nước bọt biến đổi tinh bột thành đường.

A:

(I), (III).

B:

(III), (IV).

C:

(I), (II).

D:

(I), (IV).

16

Xương lớn lên về bề ngang nhờ sự phân chia của các..,, xương dài ra nhờ sự phân chia của các …..tăng trưởng.

Các cụm từ thích hợp cần điền vào ô trống trên theo thứ tự là

A:

tế bào lớp sụn và tế bào xương.

B:

tế bào xương và tế bào lớp sụn.

C:

tế bào mô cơ và tế bào lớp sụn.

D:

tế bào xương và tế bào mô liên kết.

17

Trường hợp nào sau đây là miễn dịch nhân tạo?

A:

Người có sức đề kháng tốt thì không bị nhiễm bệnh sởi.

B:

Người không bị bệnh lao vì đã được tiêm phòngvacxin bệnh này.

C:

Người bị bệnh thủy đậu rồi khỏi và không bao giờ bị lại bệnh đó nữa

D:

Người từ khi sinh ra cho tới hết cuộc đời không bị mắc bệnh lở mồm, long móng của trâu bò.

18

Xương cột sống của người gồm có:

A:

5 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 7 đốt sống thắt lưng, 5 đốt xương cùng và xương cụt.

B:

7 đốt sống cổ, 13 đốt sống ngực, 4 đốt sống thắt lưng, 5 đốt xương cùng và xương cụt.

C:

7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống thắt lưng, 5 đốt xương cùng và xương cụt.

D:

7 đốt sống cổ, 11 đốt sống ngực, 6 đốt sống thắt lưng, 5 đốt xương cùng và xương cụt.

19

Ngón nào trên bàn tay của người có nhiều nhóm cơ nhất?

A:

Ngón cái.

B:

Ngón áp út.

C:

Ngón trỏ.

D:

Ngón giữa.

20

Cơ quan nào của đường dẫn khí có tuyến amiđan và tuyến V. A chứa nhiều tế bào limphô?

A:

Khí quản.

B:

Phế quản.

C:

Họng.

D:

Thanh quản.

21

Một học sinh lớp 8 hô hấp sâu 14 nhịp /1 phút, mỗi nhịp hít vào 600 ml không khí. Thành phần khí CO trong không khí khi hít vào và thở ra lần lượt là 0,03 % và 4,10%. Lượng khí CO học sinh đó thải ra môi trường qua hô hấp trong 1 giờ là

A:

20512,80 ml.

B:

20664,00 ml.

C:

15498,00 ml.

D:

15384,60 ml.

22

Khi nói về cấu tạo của một bắp cơ, phát biểu nào sau đây sai?

A:

Bao ngoài bắp cơ là màng liên kết.

B:

Trong bắp cơ có nhiều bó cơ, mỗi bó cơ có nhiều sợi cơ.

C:

Hai đầu bắp cơ có mỡ bám vào các xương.

D:

Phần giữa bắp cơ phình to gọi là bụng cơ.

23

Cho sơ đồ cấu tạo hệ tuần hoàn máu như sau:

Thành phần cấu tạo tương ứng với các số 1, 2, 3, 4 lần lượt là:

A:

tâm thất trái, động mạch chủ, tâm nhĩ phải, động mạch phổi.

B:

tâm thất phải, động mạch phổi, tâm nhĩ trái, động mạch chủ.

C:

tâm nhĩ trái, động mạch chủ, tâm thất phải, động mạch phổi.

D:

tâm nhĩ phải, động mạch phổi, tâm thất trái, động mạch chủ.

24

Cơ quan nào của đường dẫn khí có vai trò quan trọng trong việc phát âm?

A:

Phế quản.

B:

Khí quản.

C:

Thanh quản.

D:

Phổi.

25

Khi kích thích vào cơ quan … (1) … sẽ làm xuất hiện xung thần kinh theo nơron …(2)… về trung ương thần kinh. Trung ương thần kinh phát lệnh dưới dạng xung thần kinh theo nơron … (3) … tới cơ làm cơ co.

Các cụm từ thích hợp cần điền vào các chỗ trống số (1), (2), (3) lần lượt là:

A:

vận động, li tâm, hướng tâm.

B:

vận động, hướng tâm, li tâm.

C:

thụ cảm, li tâm, hướng tâm.

D:

thụ cảm, hướng tâm, li tâm.