【#1】Cấu Tạo Amidan Như Thế Nào, Có Chức Năng Gì?

Thứ Sáu, 01-12-2017

a. Amidan khẩu cái:

+ Đây là tổ chức lympho lớn nhất bao gồm hai khối lớn có vị trí ở hai bên họng, nằm trong hốc amidan. Hốc amidan có lớp vỏ bọc phân cách với các tổ chức khác bên trong họng.

+ Phía trước hốc amidan có trụ trước, phía sau có trụ sau bao phủ. Trong hốc amidan chỉ có phía trong và dưới có thể được nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường của chúng ta, hay còn được gọi là mặt tự do của amidan.

+ Mặt tự do của amidan có các khe lõm sâu vào trong tổ chức amidan, được che phủ bởi các lớp biểu bì. Đây cũng chính là nơi thường diễn ra các hoạt động miễn dịch của amidan. Đồng thời là nơi thường tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus gây nên chứng bệnh viêm amidan.

c. Amidan vòi:

Amidan vòi hay còn được gọi là Gelach. Amidan vòi là tổ chức lympho nhỏ, có vị trí tại hố Rosenmuler quanh lỗ vòi Eustachi.

d. Amidan vòm:

+ Amidan vòm hay còn được gọi là Luschka. Đây là tổ chức lympho có vị trí ở nóc vòm mũi – họng, ở ngay sau cửa mũi.

+ Theo cấu tạo Amidan vòm không có được lớp vỏ bọc như amidan khẩu cái, mặt tự do của chúng có 5 khía sùi dọc.

+ Vị trí của amidan vòm rất nhạy cảm, do đó, đây cũng chính là một trong các vị trí gây sưng amidan, viêm mũi, viêm tai, viêm họng nhất.

2. Chức năng chính của amidan

Amidan là một trong các bộ phận quan trọng trong cơ thể chúng ta. Amidan cũng giống như các cơ quan khác, chúng có chức năng của riêng mình. Trong đó, chức năng chính của amidan chính là nơi sản sinh ra các kháng thể để bảo vệ cơ thể con người.

Amidan là một cấu trúc giống thịt, nhưng trên thực tế là các hạch bạch huyết nằm ở 2 bên thuộc phía sau họng. Amidan chính là hệ thống phòng vệ đầu tiên của hệ miễn dịch trong cơ thể. Chức năng của amidan chính là thanh lọc các vi khuẩn, virut xâm nhập vào cơ thể thông qua hệ hô hấp.

3. Cách phòng ngừa bệnh viêm amidan hiệu quả bạn nên biết

Viêm amidan là một căn bệnh về đường hô hấp rất phổ biến, bệnh có thể gặp phải ở cả người lớn và trẻ em. Viêm amidan do vi khuẩn hoặc virut gây ra với các triệu chứng thường gặp như sốt, đau đầu, đau họng, khó nuốt, chán ăn gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống sinh hoạt của nhiều người. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh viêm amidan tấn công và gây ra những biến chứng nguy hiểm, bạn nên thực hiện tốt những điều cơ bản sau:

Giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm họng, viêm amidan. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh viêm amidan hằng ngày bạn nên súc họng bằng nước muối loãng hoặc nước súc miệng sẽ giúp loại bỏ các vi khuẩn trú ngụ trong vòm họng một cách hiệu quả. Ngòai ra, bạn cũng nên thường xuyên kiểm tra răng miệng định kỳ, sau khi ăn uống nhớ đánh răng, súc miệng để loại bỏ các mảng bám và vi khuẩn trong kẽ răng.

b. Tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể

Một trong những nguyên nhân chính gây viêm amidan là do vi khuẩn, virut tấn công khi hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta bị suy yếu. Vì vậy việc tăng cường sức đề kháng cho cơ thể chính là một trong những cách hiệu quả để phòng bệnh viêm amidan cũng như nhiều căn bệnh khác.

Tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch cho cơ thể bằng cách bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, chú ý ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin C với các thực phẩm như: Hoa quả, trái cây: cam, chanh, quýt, bưởi, ổi, dưa hấu, bơ, vải, mãng cầu xiêm, xoài, kiwi, dứa, dâu tây, đu đủ. Rau củ, hạt như: cải xanh khổ qua, cà chua, cà rốt, khoai lang, măng tây, các loại đậu, ớt chuông, súp lơ, bông cải xanh, cải thìa.

Chúc mọi người luôn khỏe mạnh!

→ Có thể bạn đang muốn biết:

【#2】Amidan Là Gì? Thành Phần Cấu Tạo Và Vai Trò Của Amidan

Amidan là tổ chức bạch huyết lớn nhất của cơ thể, ở nơi giao nhau giữa thực quản và khí quản. Khi quan sát bằng mắt thường, chúng ta có thể dễ dàng thấy được một phần của amidan ngay phía sau cổ họng.

  • Biểu mô phủ: Là lớp biểu mô nằm trên bề mặt của amidan. Lớp biểu mô này có chức năng che chắn, bảo vệ và loại bỏ các tác nhân gây bệnh bám trên bề mặt amidan.
  • Mô liên kết: Phía bên dưới lớp biểu mô phủ là một lớp mô liên kết mỏng giàu mạch máu giúp nuôi dưỡng amidan.
  • Hạch bạch huyết: Lớp trong cùng của amidan là các hạch bạch huyết. Đây là phần quan trọng nhất của amidan giúp chúng có khả năng tiết ra các Immunoglobulin, là các kháng thể tự nhiên của cơ thể, giúp chống lại các tác nhân gây bệnh.

Amidan chính là tổ chức nằm ở thành họng, giao điểm của đường ăn và đường thở. Vì thế, Amidan có chức năng bảo vệ giúp tăng khả năng chống đỡ của mũi họng với vi khuẩn gây bệnh, đồng thời cũng tham gia vào chuỗi phản ứng bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân gây bệnh khác.

Cấu tạo của Amidan là gì?

    Amidan khẩu cái: Amidan khẩu cái là amidan lớn nhất trong vòng bạch huyết Waldayer. Amidan khẩu cái gồm 2 khối nằm ở hai bên họng. Đây là amidan duy nhất có thể quan sát bằng mắt thường khi dùng đèn soi. Amidan khẩu cái gồm 2 trụ là trụ trước và trụ sau. Bề mặt amidan gồm nhiều hốc sâu và được bao phút bởi biểu mô phủ phía trên. Đây là nơi thực hiện chức năng chính của amidan và cũng là nơi vi khuẩn và virus xâm nhập gây nên tình trạng viêm amidan.
  • Amidan lưỡi: Một trong những amidan ít được chú ý khi tìm hiểu amidan là gì đó là amidan lưỡi. Amidan lưỡi nằm ở đáy lưỡi, bao gồm 9-10 lympho. Đây là nơi tập trung ít hạch lympho nhất trong vòng bạch huyết Waldayer.
  • Amidan vòi:Cũng giống như amidan lưỡi, amidan vòi cũng ít được chú ý khi tìm hiểu về amidan là gì. Bởi lẽ, amidan vòi có ít tổ chức lympho và nằm ở ngay dưới vòi Eustache.

Các thành phần của Amidan

Vai trò của Amidan là gì?

  • Nhiễm khuẩn, cụ thể như streptococcus
  • Nhiễm virus, điển hình như Epstein-Barr, herpes, cúm hay enterovirus.

Trong các tài liệu nghiên cứu về amidan là gì, có rất nhiều ý kiến khác nhau về vai trò của amidan.

Bất kỳ một cơ quan nào trong cơ thể đều có chức năng riêng của nó. Amidan mặc dù là một cơ quan tương đối nhỏ trong cơ thể nhưng nó có vai trò rất quan trọng.

Amidan chứa các hạch bạch huyết, nơi sản xuất các hoạt chất có tác dụng miễn dịch, tham gia vào quá trình ngăn chặn các tác nhân như vi rút, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây bệnh. Nói một cách khác, amidan được coi là hàng rào bảo vệ nơi cửa ngõ của cơ thể.

Nguyên nhân gây bệnh Amidan

Bệnh lý viêm Amidan

  • Chế độ ăn: Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, giàu protein, lipid, glucid, cân bằng các chất dinh dưỡng, nhiều vitamin và chất khoáng giúp nâng cao sức đề kháng.

Các triệu chứng thường gặp của viêm amidan là sốt, ho, hắt hơi, sổ mũi, đau rát họng, amidan sưng đỏ. Khi soi họng có thể thấy amidan viêm xung huyết, tấy đỏ hoặc có dịch mủ chảy ra.

Cách phòng chống viêm Amidan

【#3】Amidan Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo & Tác Dụng Của Amidan

Amidan là cơ quan nhỏ nằm ở ngay phía sau cổ họng có nhiều chức năng quan trọng đối với cơ thể con người. Những thông tin mà bài viết cung cấp về cấu tạo và chức năng của amidan sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn cơ quan này.

Amidan là gì? Nằm ở đâu?

Amidan là thuật ngữ để chỉ một tổ chức lympho lớn nhất của cơ thể nằm tập trung ở phía dưới niêm mạc hầu, ngay 2 bên thành họng. Chúng chính là một phần của hệ bạch huyết, đóng vai trò rất quan trọng với sức khỏe tổng thể của con người.

Mỗi amidan bao gồm các mô tương tự giống với hạch bạch huyết và được bao phủ bởi một lớp niêm mạc màu hồng. Chạy qua lớp niêm mạc này là các hố, còn được gọi là crypts.

Bạn có thể nhìn thấy một phần của cơ quan này bằng cách mở rộng miệng ra và nhìn vào trong gương. Chúng chính là mô mềm hiện diện ở hai bên thành họng, ngay sau miệng.

Giải phẫu cấu tạo của amidan

Cấu tạo của amidan bao gồm 4 khối chính nằm ở xung quanh cửa hầu, đồng thời xếp thành một vòng bạch huyết kín gọi là vòng Waldayer. Các khối ấy là amidan vòm, amidan vòi, amidan lưỡi và amidan khẩu cái.

Các amidan có cấu tạo bao gồm 3 lớp từ ngoài vào bên trong, cụ thể như sau:

  • Biểu mô phủ: Là lớp biểu mô nằm ngay phía trên bề mặt của cơ quan này. Biểu mô phủ có chức năng che chắn cũng như bảo vệ và loại bỏ các tác nhân gây hại bám ở trên bề mặt amidan.
  • Mô liên kết: Nằm liền kề phía bên dưới của lớp biểu mô phủ. Lớp mô liên kết mỏng này có rất nhiều mạch máu giúp nuôi dưỡng amidan.
  • Hạch bạch huyết: Đây là lớp bên trong cùng, cũng được cho là phần quan trọng nhất. Hạch bạch huyết sẽ giúp tiết ra các Immunoglobulin. Immunoglobulin là các kháng thể tự nhiên có khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh.

1. Amidan vòm

Đây chỉ là một khối có hình tam giác nằm tại vòm họng, có thể phát triển theo thành sau của họng mũi. Amidan vòm cũng chính là hạch bạch huyết lớn nhất của cơ thể.

Nó nằm ở vị trí cửa ngõ ra vào của hầu họng và không được bảo phủ bởi một lớp biểu mô phía trên. Chính vì thế mà khối amidan này rất dễ bị các tác nhân gây hại tấn công.

2. Amidan vòi

Đây là khối amidan có ít tổ chức lympho nhất và rất khi được chú ý tới khi nhắc đến amidan. Nó gồm 2 phần chia đều cho 2 bên trái – phải ở quanh lỗ vòi tai và ngay dưới vòi Eustache.

3. Amidan khẩu cái

Bao gồm 2 khối hình ô van có màu hồng với kích thước to nhỏ khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi. Đây cũng chính là amidan lớn nhất ở trong vòng bạch huyết Waldayer. Đồng thời cũng chính là phần duy nhất của amidan mà bạn có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường khi dùng đèn soi.

Amidan khẩu cáu bao gồm 2 trụ chính là trụ trước và trụ sau. Bề mặt của nó gồm nhiều hốc sâu, được bao phủ bởi 1 lớp biểu mô ở phía trên.

4. Amidan lưỡi

Nó chỉ có 1 khối duy nhất, nằm ngay đáy lưỡi. Tương tự như amidan vòi, đây cũng là noi tập trung rất ít các tế bào lympho nên thường ít được chú ý trong vòng bạch huyết Waldayer.

Tác dụng của Amidan

Amidan mặc dù là cơ quan nhỏ nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì khả năng miễn dịch. Chức năng chính của amidan là tiết ra các lympho bào và kháng thể giúp cơ thể chống lại sự tấn công của các tác nhân gây hại.

Amidan có chứa tế bào B – đây là một loại tế bào bạch cầu có chức năng chống lại nhiễm trùng. Nó cũng giúp sản xuất ra các kháng thể để chống lại bệnh cúm, viêm phổi do liên cầu khuẩn, bại liệt và các bệnh nhiễm trùng khác. Kháng thể là protein sẽ giúp cơ thể có thể xác định, đồng thời tấn công các tác nhân gây hại.

Ngoài ra, amidan cũng chứa một số loại tế bào T. Đây là các loại tế bào bạch cầu có khả năng tiêu diệt các tế bào bị nhiễm virus. Từ đó sẽ giúp cơ thể xây dựng được khả năng miễn dịch với một số tác nhân truyền nhiễm.

Khối amidan vòm được cho là có chức năng chính trong việc nhận diện vi khuẩn, đồng thời tạo kháng thể để tiêu diệt vi khuẩn trong trường hợp chúng tái xâm nhập.

Kháng thể được tạo ra tại amidan vòm sẽ được nhân lê và đưa đi khắp nơi, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở vùng mũi họng. Điều này giúp tạo miễn dịch tại chỗ để chống lại sự tái nhiễm của vi khuẩn.

Có thể thấy rằng, amidan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng ở đường hô hấp trên.

Vấn đề bệnh lý thường gặp ở amidan

1. Viêm amidan

Viêm amidan là tình trạng các khối amidan bị phản ứng viêm tấn công gây sưng, phì đại, thường là do nhiễm trùng gây ra. Đau họng là một trong những triệu chứng đặc trưng nhất của bệnh lý này.

Ngoài ra, bạn còn có thể gặp các biểu hiện khác đi kèm như:

Bên cạnh đó, mủ có thể xuất hiện dưới dạng các đốm trắng ở phía trên amidan mở rộng. Các triệu chứng thường sẽ trở nên tồi tệ hơn sau khoảng 2 – 3 ngày và sau đó sẽ từ từ biến mất, thường trong vòng 1 tuần. Bệnh viêm amidan nếu không can thiệp sớm cũng có thể sẽ phát sinh các biến chứng nguy hiểm.

2. Áp xe peritonsillar

Hay còn được gọi với tên khác là Quinsy. Đây là một tình trạng không phổ biến xuất hiện khi có khối áp xe phát triển bên cạnh amidan, thường là do nhiễm khuẩn.

Tình trạng này thường chỉ phát triển một bên, có thể theo sau một đợt viêm nhưng trong nhiều trường hợp có thể tự phát sinh. Amidan ở bên bị ảnh hưởng thường sẽ sưng to lên và có nhiều bất thường.

Quinsy thường sẽ bị đẩy về đường giữa khi khối áp xe bên cạnh amidan ngày càng lớn kên và có mủ hình thành. Tình trạng này thường rất đau đớn và gây mệt mỏi toàn thân. Thông thường, Quinsy sẽ được điều trị bằng kháng sinh, tuy nhiên cần kết hợp dẫn lưu mủ ra ngoài bằng các thủ thuật y tế khác.

3. Ung thư amidan

Mặc dù không phải là một loại ung thư thường gặp nhưng bạn hãy cẩn trọng với tình trạng này. Bởi nó có thể đe dọa đến cả tính mạng nếu không được can thiệp kịp thời và đúng cách. Ung thư amidan thường phổ biến hơn ở những người uống nhiều rượu hay thường xuyên hút thuốc.

Bảo vệ amidan khỏi sự tấn công của tác nhân gây hại

Để tránh những bệnh về amidan khởi phát, bạn cần chú ý đến một số vấn đề sau đây:

  • Tránh hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, chất kích thích. Đồng thời giảm ăn các loại đồ ăn cay nóng, dễ kích ứng niêm mạc amidan.
  • Chú ý đeo khẩu trang, che chắn và bảo vệ cổ họng cẩn thận khi ra đường.
  • Giữ gìn vệ sinh răng miệng sạch sẽ, nên dùng nước muối loãng để súc miệng hằng ngày. Điều này sẽ giúp loại bỏ các loại vi khuẩn gây hại trú ngụ trong vòm họng hiệu quả.
  • Tăng cường đề kháng cho cơ thể bằng cách cân bằng chế độ dinh dưỡng. Nên chú trọng đến việc bổ sung nhiều vitamin C từ các nhóm thực phẩm lành mạnh.
  • Thăm khám, kiểm tra răng miệng và tai mũi họng định kỳ.

Amidan là cơ quan nằm trong vòm họng có vai trò rất quan trọng giúp bảo vệ hệ hô hấp và đường tiêu hóa. Cần chú ý chăm sóc tốt để tránh các tác nhân gây hại tấn công và gây bệnh ở amidan.

【#4】Amidan Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng Và Vấn Đề Thường Gặp

Amidan là tổ chức các tế bào lympho hay còn gọi là tế bào bạch huyết. Các tế bào này nằm ở phí dưới của lớp niêm mạc họng tạo thành 2 mô lớn ở 2 bên thành họng và 1 vòng bạch huyết quanh vòm họng.

Amidan chia nhỏ thành:

  • Amidan khẩu cái: là 2 mô bên trái và bên phải của vòm họng
  • Amidan vòm: hình vòng cung theo vòm họng
  • Amidan lưỡi: nằm ở dưới đáy lưỡi
  • Amidan vòi: nằm ở bên phải và bên trái quanh lỗ vòi tai

Cấu tạo của Amidan

Amidan có cấu tạo bởi các biểu mô liên kết và các biểu mô phủ. Trong một amidan lại có chứa các amidan nhỏ như: amidan khẩu cái 2 bên vòng họng, 2 amidan vòi, amidan lưỡi và amidan vòm.

Cấu tạo của amidan khẩu cái

Đây là amidan có tổ chức lympho lớn, gồm các khối mô màu đỏ hồng ở 2 bên phải và trái của vòm họng. Amidan khẩu cái nằm trong hốc của amidan và có lớp bao bọc nhằm phân cách với các cơ quan khác trong họng.

Khi quan sát chúng ta có thể thấy được phía bên trong và phía dưới của hốc amidan. Các khe của amidan khẩu cái được che phủ bằng lớp biểu bì. Đây còn là nơi diễn ra miễn dịch của amidan.

Cấu tạo amidan vòm

Amidan vòm nằm ở thành sau của vòm mũi, họng và trong lớp niêm mạc. Amidan vòm là nơi tập trung các tế bào lympho có khả năng tạo ra các kháng thể giúp chống lại các vi khuẩn, virus gây bệnh qua ngã mũi hầu.

Khi quan sát bằng mắt thường, chúng ta sẽ rất khó thấy amidan vòm do vị trí cấu tạo của nó khá đặt biệt.

Độ dày của amidan vòm khoảng 2 milimet nên sẽ không làm cản trở quá trình hít thở. Ngoài ra, nhờ vào các nếp nhăn nên amidan vòm có diện tích tiếp xúc khá rộng. Chúng có thể tiêu diệt vi khuẩn khi xâm nhập hoặc tái xâm nhập cơ thể.

Khi hít thở, không khí tiếp xúc trực tiếp với amidan vòm rồi mới qua phổi. Vì thế, nơi đây được xem như là màn lọc các vi khuẩn từ không khí và tiêu diệt chúng tại amidan vòm bằng các tế bào bạch cầu.

Cấu tạo amidan lưỡi

Amidan lưỡi được cấu thành bởi các lympho dưới đáy lưỡi, cấu tạo này được từ 6-9 mô lympho liên kết với nhau. Bên cạnh đó, amidan lưỡi và amidan họng có mối liên kết với nhau, cho nên khi bị viêm amidan lưỡi có thể sẽ dẫn đến viêm amidan họng.

Cấu tạo amidan vòi

Amidan vòi là tổ chức có ít lympho nhất cũng rất ít được nhắc tới vì nó không bị tác động trực tiếp từ các nguyên nhân gây bệnh và cũng không có chức năng quan trọng như các amidan còn lại. Amidan vòi nằm ở bên phải và bên trái ở quanh vòi tai.

Các chức năng của amidan

Mỗi một bộ phận, cơ quan trên cơ thể đều có chức năng và nhiệm vụ riêng để bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh. Amidan tuy là bộ phận nhỏ trong hệ hô hấp nhưng lại có chức năng vô cùng quan trọng, đây được xem như là rào chắn đầu tiên của hệ miễn dịch bên trong cơ thể.

Amidan có nhiệm vụ sản sinh ra các miễn dịch bằng cách tạo ra các lympho và kháng thể. Giúp cơ thể chống lại các vi khuẩn, virus lây nhiễm qua đường hô hấp.

Bên cạnh đó, amidan cũng sinh ra một kháng thể có tên là IgG, đây là kháng thể vô cùng quan trọng trong hệ miễn dịch. Vì thế, nên trước khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể sẽ bị amidan tiêu diệt. Kháng thể sẽ hình thành ở amidan vòm được nhân lên gấp đôi và đưa đến các cơ quan khác, tuy nhiên tập trung nhiều nhất ở mũi và họng. Điều này giúp ngăn chặn sự trở lại của các vi khuẩn gây bệnh.

Ngoài ra, amidan còn chứa các tế bào B và T là các tế bào bạch cầu nhiệm vụ chính của chúng là chống lại các tình trạng nhiễm trùng, sản sinh ra các kháng khuẩn chống lại các bệnh như cúm, viêm phổi,…

Amidan có dễ bị viêm không?

Chính vì là rào chắn trực tiếp chống lại các vi khuẩn, virus gây bệnh nên amidan rất dễ bị viêm nhiễm. Tình trạng viêm nhiễm có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất ở trẻ em do kháng thể và quá trình sinh hoạt không hợp lý.

Viêm amidan là dấu hiệu nhận biết các amidan đang bị tổn thương do vi khuẩn xâm nhập. Tình trạng này khiến các amidan bị sưng đỏ, đau rát, ảnh hưởng đến quá trình ăn uống và sinh hoạt của người bệnh.

Nguyên nhân dẫn đến viêm amidan

  • Cấu trúc của amidan có các khe, hốc nên đây được xem là nơi trú ẩn của các vi khuẩn gây bệnh. Ở đây, các vi khuẩn, virus sẽ hình thành các ổ gây viêm nhiễm amidan.
  • Viêm amidan rất khó điều trị tận gốc, tình trạng viêm nhiễm lặp lại nhiều lần sẽ gây ra viêm amidan mãn tính và dẫn đến các biến chứng nguy hiểm khác.
  • Các hạch bạch huyết phát triển mạnh, khi quá phát sẽ tạo điều kiện gây viêm amidan.
  • Amidan có nhiệm vụ sản sinh ra các kháng thể để tiêu diệt vi khuẩn. Nếu bạn không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cần thiết thì lúc này amidan sẽ không đủ kháng thể để chống lại vi khuẩn gây bệnh nên dẫn đến bị viêm nhiễm.
  • Môi trường ô nhiễm, khói bụi, hóa chất là những tác nhân gây viêm amidan vì lượng vi khuẩn mà chúng ta hít phải quá tải để amidan tiêu diệt nên dẫn tới viêm amidan.
  • Ngoài ra, vệ sinh răng miệng chưa đúng cách hay thay đổi thời tiết cũng dẫn đến tình trạng amidan bị viêm nhiễm.

Các dạng viêm amidan và dấu hiệu nhận biết

Viêm amidan có 2 dạng thường gặp là viêm amidan cấp tính và viêm amidan mãn tính. Ở mỗi dạng sẽ có những dấu hiệu nhận biết khác nhau. Người bệnh có thể dựa vào dấu hiệu để đi khám và điều trị.

Viêm amidan cấp tính

Viêm amidan cấp tính là tình trạng viêm amidan mới khởi phát. Viêm amidan cấp tính thường dễ bị nhầm lẫn với các bệnh về đường hô hấp.

Dấu hiệu nhận biết viêm amidan mãn tính

  • Sốt cao trên 39 độ C
  • Quan sát sẽ thấy 2 bên amidan khẩu cái sưng đỏ
  • Trong họng luôn cảm giác có dị vật, nuốt thức ăn hay nước bọt có cảm giác đau buốt
  • Cơ thể mệt mỏi, khô môi, lưỡi đóng các lớp trắng, chán ăn,…
  • Viêm amidan cấp tính có thể lây sang các cơ quan khác như thanh quản, khí quản gây đau rát, dịch đờm và ho

Viêm amidan mãn tính

Viêm amidan mãn tính là tình trạng viêm amidan cấp tính lặp lại nhiều lần. Tùy vào mức độ nặng hay nhẹ của bệnh mà amidan mãn tính có dạng: viêm amidan hốc mủ, viêm amidan quá phát và viêm amidan xơ teo. Người bệnh nếu không điều trị sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe và công việc.

Dấu hiệu nhận biết viêm amidan mãn tính

  • Sốt chủ yếu vào ban đêm và sáng sớm
  • Có thể ho khan hoặc ho có đờm
  • Hơi thở có mùi hôi khó chịu gây ảnh hưởng đến giao tiếp của người bệnh
  • Cảm giác có dị vật ở cổ họng, đau rát khi nuốt đôi khi đau lan cả vùng tai
  • Cơ thể gầy yếu, thể trạng kém,…
  • Các biểu hiện này lặp lại nhiều lần và không có dấu hiệu giảm.

Có nên cắt amidan khi bị viêm

Theo nhiều người cho rằng viêm amidan thường dễ mắc phải và lặp lại nhiều lần nên cách duy nhất để khỏi hẳn là cắt amidan. Vậy câu hỏi đặt ra là có nên cắt amidan khi bị viêm không? Ưu điểm và hạn chế khi cắt bỏ amidan.

Ưu điểm:

  • Việc cắt bỏ amidan viêm sẽ loại bỏ các tổ vi khuẩn gây viêm nhiễm, đồng thời đẩy lùi những nguy cơ biến chứng từ viêm amidan.
  • Cắt bỏ amidan sẽ giảm được tình trạng tái nhiễm, lúc này người bệnh không phải uống các loại thuốc kháng sinh điều trị, giảm tình trạng nhờn thuốc, thuốc không có tác dụng.
  • Sau khi cắt amidan sẽ chấm dứt tình trạng bệnh tái phát giúp người bệnh cảm thấy thoải mái, dễ chịu không còn bị đau họng hay vướng cổ họng.

Hạn chế:

  • Cắt bỏ amidan có thể gây nhiễm trùng trong quá trình phẫu thuật.
  • Sau vài năm sẽ bị viêm nhiễm nặng hơn.
  • Biến chứng trong quá trình phẫu thuật: tử vong do mất máu nhiều, sốc thuốc,…
  • Đối với trẻ em việc cắt amidan tác động gây ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ , gây sợ hãi, lo lắng, nên cần phải suy nghĩ kỹ và cân nhắc lựa chọn phương pháp phù hợp cho trẻ.

Mỗi bộ phận trên cơ thể đều có chức năng riêng mục đích chung giúp bảo vệ cơ thể tránh khỏi những tác nhân gây bệnh. Vì vậy nên khi loại bỏ 1 bộ phận nào đó sẽ gây ảnh hưởng đến các cơ quan khác và amidan cũng vậy. Cần phải suy nghĩ thật kỹ. Đặc biệt, phải theo sự hướng dẫn và điều trị của các y bác sĩ. Tốt nhất, khi phát hiện bệnh nên điều trị kịp thời để tránh viêm amidan nặng và phải cắt bỏ.

Các trường hợp nên cắt amidan

Một số trường hợp cần cắt amidan như:

  • Viêm amidan bị tái lại nhiều lần dù dùng các phương pháp điều trị theo sự hướng dẫn của các y bác sĩ. Số lần tái phát trên 3 lần mỗi năm. Mỗi lần viêm trên 6 tuần không có dấu hiệu giảm dù đi điều trị.
  • Gây biến chứng sang các cơ quan lân cận như viêm xoang, viêm mũi, viêm tai giữa, viêm cầu thận, suy tim,…
  • Có dấu hiệu bị ung thư amidan
  • Amidan sưng to, đau rát, gây cản trở quá trình hô hấp của người bệnh, như ngáy khi ngủ, ngừng thở lúc ngủ,…làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
  • Chứa nhiều chất dịch tiết gây hôi miệng từ các hốc amidan, hay có dấu hiệu ác tính.

Lưu ý một số trường hợp không cắt amidan

  • Phụ nữ có thai, phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt.
  • Người bị thiếu máu, máu đông.
  • Trẻ em dưới 5 tuổi.

【#5】Amidan Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng Của Amidan Bình Thường

Amidan là gì là vấn đề được nhiều người bệnh quan tâm. Amidan (tên gọi khác là tuyến hạnh nhân) có tên tiếng anh là Tonsils. Đây là tổ chức lympho lớn nhất của cơ thể nằm tập trung phía dưới niêm mạc hầu và ở ngay 2 bên thành họng.

Cơ quan này là một phần của hệ bạch huyết và có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể. Mỗi amidan sẽ bao gồm một mô tương tự hạch bạch huyết, được bao phủ bởi một lớp niêm mạc hồng. Các hố đi qua lớp niêm mạc này được gọi là crypts.

Nếu mở miệng rộng, bạn có thể nhìn thấy một phần của amidan, đó là các mô mềm nằm ở hai bên thành họng và ngay sau miệng.

Cấu tạo của amidan

Sau khi giải đáp được vấn đề amidan là gì, hãy tìm hiểu cấu tạo của cơ quan này. Nếu giải phẫu amidan bạn có thể nhận thấy nó có cấu tạo 3 lớp từ phía ngoài vào bên trong, cụ thể:

  • Biểu mô phủ: nằm trên bề mặt của amidan, giữ vai trò bảo vệ và loại bỏ các tác nhân gây bệnh bám trên bề mặt bộ phận này.
  • Mô liên kết: bên dưới lớp biểu mô phủ là một lớp mô liên kết mỏng giàu mạch máu có nhiệm vụ nuôi dưỡng amidan
  • Hạng bạch huyết: nằm ở lớp trong cùng và cũng là bộ phận quan trọng nhất của cơ quan này. Nó có tác dụng tiết ra các kháng thể tự nhiên Immunoglobulin để cơ thể chống lại bệnh tật.

Bên cạnh đó, amidan còn có cấu tạo gồm 4 khối nằm bao quanh cửa hầu và xếp thành vòng kín và có tên khác là vòng bạch huyết quanh hầu:

Amidan vòm (AV)

Amidan vòm là hạch bạch huyết lớn nhất của cơ thể. Nó có khối hình tam giác nằm tại vòm họng và có thể phát triển theo thành sau của họng mũi. Vị trí của amidan vòm là cửa ngõ ra vào của hầu họng và không được bao phủ bởi một lớp biểu mô phía trên. Vì vậy khối amidan rất dễ bị các tác nhân gây hại tấn công.

Amidan vòi

Amidan vòm gồm 2 phần chia đều 2 bên trái – phải quanh lỗ vòi tai và ngay phía dưới vòi Eustache. Đây là khối có rất ít tổ chức lympho, vì vậy nó thường không được chú ý nhiều. Đây là khối có rất ít tổ chức lympho, vì vậy nó thường không được chú ý nhiều.

Amidan khẩu cái

Cấu tạo gồm 2 khối hình ô van có màu hồng với kích thước to nhỏ khác nhau dựa vào độ tuổi. Đây còn là khối amidan lớn nhất trong vòng bạch huyết Waldayer. Khi chiếu đèn vào vòm họng, đây là bộ phận duy nhất của amidan mà chúng ta có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường.

Amidan lưỡi

Bộ phận này có vị trí nằm ở đáy lưỡi và là nơi tập trung ít tế bào lympho nhất nên ít được chú ý trong vòng bạch huyết Waldayer. Vòng Waldayer hình thành trong thai kỳ và phát triển đầy đủ nhất khi trẻ ra đời. Vì vậy khối amidan phát triển nhanh về khối lượng từ 1 – 2 tuổi và đạt đỉnh từ 4 – 7 tuổi, càng trưởng thành sẽ càng teo dần.

Chức năng của amidan

Amidan có tác dụng lớn trong việc duy trì khả năng miễn dịch của cơ thể. Tác dụng chính của bộ phận này là tiết ra các lympho bào và kháng thể (là các protein) để giúp cơ thể xác định và chống lại sự tấn công của vi khuẩn có hại.

Ngoài ra amidan còn chứa các loại tế bào bạch cầu có lợi như:

  • Tế bào B: giúp sản xuất kháng thể chống lại bệnh cúm, nhiễm trùng, viêm phổi do liên cầu khuẩn và các tình trạng viêm nhiễm khác.
  • Tế bào T: tiêu diệt tế bào nhiễm virus để giúp cơ thể xây dựng khả năng miễn dịch chống lại một số tác nhân truyền nhiễm.

Trong cấu tạo của amidan, khối amidan vòm được xem là bộ phận nhận diện vi khuẩn và tạo kháng thể để tiêu diệt hại khuẩn xâm nhập nhiều lần.

Những kháng thể được tạo ra tại amidan vòm được nhân lên và phân bố ở các cơ quan trong cơ thể, tuy nhiên nó tập trung nhiều nhất ở vùng mũi họng.

Từ đó, cơ thể sẽ có hệ miễn dịch tại chỗ để chống lại sự tái xâm nhập của vi khuẩn có hại. Vì vậy, amidan đóng vai trò quan trọng trong quá trình ngăn ngừa bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên.

Các bệnh lý amidan thường gặp

Có rất nhiều nguyên nhân khiến cơ thể hư tổn và mắc bệnh lý về amidan. Bạn nên tìm hiểu thật kỹ thông tin về những căn bệnh này để sớm nhận biết và có hướng điều trị kịp thời

Viêm amidan

Viêm amidan là tình trạng khối amidan bị hại khẩn tấn công gây nhiễm trùng, sưng tấy và phì đại. Các triệu chứng điển hình gồm: ho, đau họng, nhai nuốt khó khăn, buồn nôn, mệt mỏi, sốt cao trên 39 độ C . Phía trên amidan xuất hiện mủ dưới dạng đốm trắng. Dựa trên thời gian và triệu chứng, chuyên gia chia bệnh ra làm 2 giai đoạn:

  • Viêm amidan cấp tính: Tình trạng xuất hiện ở nhiều đối tượng nhưng phổ biến nhất là trẻ em từ 5 – 15 tuổi. Các triệu chứng khởi phát ồ ạt và có thể biến mất trong vài ngày.
  • Viêm amidan mãn tính: Tình trạng amidan bị nhiễm trùng trong thời gian dài nhưng không được điều trị dứt điểm, tái phát nhiều lần. Bệnh gồm 3 thể: viêm amidan quá phát, viêm amidan hốc mủ và viêm amidan xơ teo.

Nếu không được điều trị kịp thời, viêm amidan có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và để lại nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tai giữa, ổ áp xe,… Nghiêm trọng hơn là các tình trạng nhiễm khuẩn huyết, viêm cầu thận, thấp tim,…

Áp xe peritonsillar

Bệnh có tên gọi khác là Quinsy, xảy ra khi khối áp xe phát triển cạnh amidan. Nguyên nhân chủ yếu gây áp xe peritonsillar là do nhiễm khuẩn. Hiện tượng này chỉ phát triển một bên, có thể theo sau một đợt viêm hoặc tự phát sinh. Một bên amidan bị ảnh hưởng sẽ sưng to và có nhiều dấu hiệu bất thường.

Khi khối áp xe bên cạnh amidan ngày càng lớn và hình thành mủ, peritonsillar thường bị đẩy về đường giữa, gây ra đau đớn và mệt mỏi toàn thân. Biện pháp phổ biến để điều trị Quinsy là kháng sinh, tuy nhiên người bệnh nên kết hợp các thủ thuật y tế khác nhằm dẫn lưu mủ ra ngoài.

Ung thư amidan

Ung thư amidan bắt nguồn từ các tế bào trong amidan và xảy ra nhiều nhất ở amidan khẩu cái. Hầu hết các trường hợp đều là ung thư biểu mô tế bào gai, phát sinh từ các mô niêm mạc miệng, ngoài ra còn có thể xuất hiện u lympho amidan (ung thư hệ thống miễn dịch).

Ung thư amidan sẽ gây nguy hiểm tính mạng nếu người bệnh không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Để bảo vệ amidan tránh khỏi những tổn thương từ hại khuẩn, bạn hãy chú ý:

  • Đeo khẩu trang và bảo vệ cổ họng cẩn thận khi ra đường.
  • Không hút thuốc lá, không sử dụng rượu bia, chất kích thích.
  • Hạn chế đồ ăn cay nóng dễ gây kích ứng đến niêm mạc amidan.
  • Chăm chỉ tập thể thao, xây dựng chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng.
  • Vệ sinh răng miệng sạch sẽ, dùng nước muối loãng súc miệng hằng ngày
  • Thăm khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện các bệnh lý nguy hiểm.

【#6】Amidan Là Gì? Cấu Tạo, Vị Trí Và Tác Dụng Của Amidan

Amidan là tổ chức bạch huyết nằm ở ngã tư hầu họng, được ví như cửa ngõ quan trọng bảo vệ đường hô hấp. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bộ phận đặc biệt này và giúp bạn trả lời được hàng loạt câu hỏi như: vai trò của amidan, cấu tạo và chức năng của amidan và khi bị viêm có nên cắt hay không?

Amidan là gì

Amidan hay còn được gọi là tuyến hạnh nhân, có tên tiếng anh là Tonsils, là những đám tổ chức bạch huyết lớn, nằm phía dưới niêm mạc hầu. Các amidan sẽ nằm vây quanh cửa hầu và tạo thành một vòng kín gọi là vòng bạch huyết quanh hầu (vòng Waldayer). 6 khối amidan trong vòng Waldayer đó là:

  • 1 amidan vòm (VA): nằm ở vòm họng và có thể phát triển theo thành sau họng mũi.
  • 2 amidan vòi: nằm ở bên trái và phải, quanh lỗ vòi tai
  • 2 amidan khẩu cái: nằm ở bên trái và phải trong hố amidan của thành bên họng.
  • 1 amidan lưỡi: nằm ở đáy lưỡi.

Sự hình thành và phát triển của thai nhi gắn liền với sự hình thành vòng Waldayer. Khi trẻ chào đời cũng là lúc vòng Waldayer phát triển đầy đủ. Khi trẻ lên 1-2 tuổi, các khối amidan sẽ phát triển nhanh về khối lượng và sẽ mạnh nhất lúc trẻ từ 3-7 tuổi rồi teo dần.

Cấu tạo và vị trí amidan

Cấu tạo amidan gồm biểu mô phủ và biểu mô liên kết, giống như hạch bạch huyết. Một amidan lại có các amidan nhỏ khác nhau đó là amidan vòm, amidan khẩu cái, amidan vòi và amidan lưỡi.

Cấu tạo của vòng Waldayer

Có lẽ ai cũng biết vị trí amidan là ở trong họng nhưng chính xác amidan nằm ở đâu thì không phải ai cũng rõ.

Vị trí thuộc giao điểm của đường thở và đường ăn uống, có tác dụng như hàng rào chống lại sự xâm nhập của vi trùng, vi khuẩn từ bên ngoài tấn công.

Tất cả vi trùng từ mũi, miệng đều phải thông qua vòng bạch huyết Waldeyer mới vào được cơ thể. Do đó, nếu amidan bị viêm sẽ giống như cổng thành không có người gác, biến nơi đây thành ổ lưu trú của vi trùng, gây ra các bệnh về phổi, tai, khớp, ruột,…cho con người.

Amindan vòm (VA)

Vị trí amidan vòm nằm trong lớp niêm mạc của nóc vòm và thành sau của vòm mũi họng, phía trên lưỡi gà và sau mũi. Cấu tạo amidan vòm gồm các tế bào lymphô tập trung lại, giúp tạo kháng thể chống lại tác nhân gây bệnh khi chúng đi vào cơ thể qua ngã mũi hầu.

Bằng mắt thường thì khó có thể nhìn thấy amidan vòm mà phải dùng dụng cụ chuyên dụng vị vị trí amidan vòm khá đặc biệt.

VA bình thường sẽ dày khoảng 2mm và không làm đường thở bị cản trở. Chúng có diện tích tiếp xúc rất rộng nhờ khả năng xếp thành nhiều nếp. Chức năng của VA là nhận diện vi khuẩn, tạo kháng thể và tiêu diệt vi khuẩn khi chúng tái xâm nhập vào cơ thể.

Khi con người hít thở bằng mũi, không khí sẽ tiếp xúc với amidan vòm rồi mới đi vào phổi, khiến các vi khuẩn có trong không khí bám lại vào mặt tiếp xúc của VA. Các tế bào bạch cầu ở đây sẽ nhanh chóng bắt giữ, nhận diện “kẻ địch” để tạo ra kháng thể.

Những kháng thể này được nhân lên với số lượng lớn và phân tán đi khắp nơi, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng mũi họng, tạo miễn dịch tại chỗ, chống lại vi khuẩn khi chúng xâm nhập lần nữa. Amidan vòm giúp chống lại các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên.

Khi thai kì phát triển từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 7 thì cũng là lúc VA được hình thành và nó hoàn thiện ở trẻ sơ sinh. VA sẽ lớn dần khi trẻ phát triển đến 6-7 tuổi rồi thoái triển dần và teo nhỏ lại trước khi trẻ bước vào tuổi dậy thì.

Nếu trẻ bị phì đại VA thì có thể dẫn đến tình trạng biét tắc cửa mũi sau, từ đó khiến trẻ có các biểu hiện: thở mũi, chảy nước mũi, ngừng thở khi ngủ, nói kém, khó ăn, viêm xoang mạn tính, viêm tai giữa mủ hoặc viêm tai giữa thanh dịch cũng như sự phát triển bất thường của xương mặt.

Amidan khẩu cái

Là tổ chức lympho lớn nhất , gồm những khối mô màu hồng hình ô van ở cả hai phía trái và phải của họng. Vị trí amidan khẩu cái nằm bên trong hốc amidan, có lớp vỏ bọc phân cách với các tổ chức khác trong họng.

Nếu nhìn bằng mắt thường thì chỉ thấy đươc phía trong và dưới của hốc amidan, còn gọi là mặt tự do của amidan. Các khe lõm sâu của mặt tự do amidan được che phủ bởi các lớp biểu bì, là nơi các hoạt động miễn dịch của amidan diễn ra.

Đây cũng chính là nơi rất dễ bị gây viêm bởi các vi khuẩn, virus. Không có kích thước chuẩn cho amidan khẩu cái, mà sự to nhỏ của nó phụ thuộc vào từng trẻ.

Amidan lưỡi

Amidan vòi

Có tên gọi khác là Gelach, là tổ chức chức lympho nhỏ. Vị trí amidan vòi nằm ở hố Rosenmuler, quanh lỗ vòi Eustacchi.

Amidan có tác dụng gì

Cũng như các bộ phận khác trong cơ thể con người, amidan cũng có chức năng riêng của mình. Là cửa ngõ quan trọng của hệ hô hấp, đây chính là hệ thống phòng vệ đầu tiên của hệ miễn dịch trong cơ thể.

Amidan sẽ sinh miễn dịch có lợi cho cơ thể bằng cách tạo kháng thể và các lympho bào giúp cho cơ thể chống lại tác nhân gây nhiễm khuẩn và gây bệnh đường hô hấp.

Đồng thời, amidan cũng sản sinh ra kháng thể IgG quan trọng và cần thiết trong miễn dịch. Các vi khuẩn, vi rút sẽ bị thanh lọc, tiêu diệt tại amidan trước khi kịp xâm nhập vào cơ thể con người. Nhờ vậy mà chúng ta sẽ tránh được rất nhiều bệnh do vi khuẩn và virus gây ra.

Nguyên nhân viêm amidan

Mặc dù có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn, virus gây hại nhưng với cấu trúc hốc và ngăn rỗng, amidan lại là địa chỉ trú ẩn tuyệt với nếu virus, vi khuẩn xâm nhập vào được, từ đó dẫn đến viêm amidan. Vậy viêm amidan là gì?

Viêm amidan là tình trạng tuyến amidan của bạn bị tổn thương viêm nhiễm cấp hoặc mãn tính, do vi khuẩn hoặc virus gây ra. Sự tấn công ồ ạt và vượt mức cho phép của vi khuẩn vào mũi họng sẽ khiến cho amidan phải làm việc quá sức dẫn đến tình trạng amidan bị sưng, đỏ.

Sau “trận chiến”, xác vi khuẩn và xác bạch cầu, mô hoại tử sẽ tồn lại tại amidan thành những cục mủ có mùi hôi, rồi rớt ra khỏi amidan sau một thời gian.

Việc amidan bị viêm nhiều lần sẽ khiến khả năng “chiến đấu” của nó bị yếu đi và chính những ổ viêm nằm trong amidan sẽ là nơi bắt đầu cho những đợt viêm vùng họng. Trẻ em là đối tượng dễ bị viêm amidan nhất.

Những biến chứng nguy hiểm nếu bệnh viêm amidan không được chữa trị kịp thời đó là: áp-xe amidan, viêm tấy quanh amidan, viêm phế quản, viêm xoang, viêm thận, viêm tin, viêm khớp, áp-xe thành bên họng, nhiễm khuẩn huyết.

Các nguyên nhân dẫn đến viêm amidan có thể kể đến như:

  • Cơ thể suy giảm sức đề kháng khiến cho vi khuẩn, virus có sẵn ở mũi họng phát triển và gây bệnh.
  • Người bệnh đã bị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp khác như cúm, sởi, ho gà,… Liên cầu, tụ cầu chính là những vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất, trong đó liên cầu tan huyết nhóm A là nguy hiểm nhất.
  • Do tổ chức bạch huyết phát triển mạnh ở một số trẻ, dẫn đến cổ và họng mọc nhiều hạch, rất dễ bị viêm nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi để viêm amidan hình thành.
  • Do nhiễm lạnh, nhiễm siêu vi,…
  • Do cấu tạo: có nhiều khe hốc nên vi khuẩn dễ dàng trú ẩn và phát triển.
  • Do vị trí: nằm ở giao điểm của đường ăn và đường thở. Đây là cửa ngõ cho virus, vi khuẩn xâm nhập vào.

Nên hay không nên cắt amidan khi bị viêm

Sau khi biết nguyên nhân gây viêm amidan là gì cũng như các biến chứng nguy hiểm của viêm amidan thì câu hỏi đặt ra là có nên cắt amidan khi nó bị viêm hay không. Bởi lẽ, cắt amidan là một phẫu thuật đơn giản, dễ thực hiện và khá an toàn, nếu nó được thực hiện bởi những phẫu thuật viên kinh nghiệm tại những cơ sở ý tế chuyên khoa uy tín, có đầy đủ trang thiết bị cần thiết và hiện đại.

Nhưng cuộc phẫu thuật tưởng như “dễ ăn” này lại có thể gây ra những biến chứng, thậm chí là tử vong do chảy máu.

Lợi ích của việc cắt amidan

  • Theo một tạp chí y khoa Canada thì việc cắt amidan ở người lớn sẽ giúp giảm tỉ lệ viêm họng tái phát và hạn chế sử dụng kháng sinh, từ đó tránh được những phản ứng phụ do dùng thuốc, tránh tình trạng “nhờn” thuốc.
  • Việc loại bỏ tổ chức amidan không còn vai trò miễn dịch và là ổ viêm viêm chứa đầy vi khuẩn sẽ giúp đẩy lùi những biến chứng nguy hiểm kể trên và nguy cơ phát triển thành u ác tính.
  • Trong một khoảng thời gian (khoảng vài năm nếu amidan không tái phát) việc cắt amidan sẽ giúp người bệnh thấy dễ chịu, không còn cảm giác đau đớn, vướng víu ở cổ họng, mang lại cuộc sống thoải mái hơn.

Tác hại của việc cắt amidan

  • Gặp phải những biến chứng nguy hiểm trong quá trình phẫu thuật như mất máu quá nhiều dẫn đến tử vong, sốc phản vệ do thuốc gây mê, thuốc giảm đau, thuốc giãn cơ,…
  • Có thể bị nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật.
  • Có thể gây bỏng sâu ở môi hay lưỡi, hố mổ xấu, ảnh hưởng đến thẩm mĩ của người bệnh ( đối với phương pháp cắt amidan bằng dao điện đơn cực hay lưỡng cực)
  • Cắt amidan khi trẻ còn nhỏ dễ ảnh hưởng đến tâm lí, gây cảm giác sợ hãi, hoang mang, stress cho trẻ nếu không chọn được phương pháp phù hợp.
  • Amidan sẽ có thể phát triển trở lại sau khoảng 2-3 năm từ ngày cắt và có nguy cơ viêm nhiễm nặng hơn.
  • Thay đổi giọng nói do có quá nhiều không khí thoát ra đằng mũi. Tuy nhiên, thường tình trạng này chỉ là tạm thời, nếu kéo dài từ 4-6 tuần thì cần thông báo cho bác sĩ.
  • Kết quả có thể không như mong muốn: tình trạng bệnh không được cải thiện, thành sau mũi hoặc miệng bị đóng kín toàn bộ hay một phần do sẹo, nên phải phẫu thuật chỉnh hình (hiếm gặp),…

Khi nào nên cắt amidan

Chỉ cắt amidan trong những trường hợp sau:

  • Bệnh nhân hay bị viêm, tái phát nhiều, từ 5-6 lần trong một năm và đã bị khoảng 2 năm liên tiếp. Viêm amidan mạn tính kéo dài, dù đã được điều trị nội khoa tích cực trong vòng 4-6 tuần nhưng vẫn không thuyên giảm.
  • Bệnh nhân bị áp xe quanh amidan dẫn đến nhập viện ít nhất 1 lần.
  • Viêm amidan gây nên những biến chứng như viêm tai giữa, viêm xoang hoặc các biến chứng nặng như thấp tim, viêm khớp, viêm cầu thận.
  • Khối amidan chỉ sưng to một bên kèm hạch cổ cùng bên, nghi ngờ ung thư amidan
  • Amidan quá to, gây bít tắc hệ hô hấp, cản trở đường thở, ngủ ngáy, ngưng thở trong lúc ngủ, hoặc nhiễm trùng tái phát nhiều lần làm ảnh hưởng chất lượng sống của người bệnh…
  • Amidan có nhiều ngóc ngách chứa nhiều chất tiết gây hôi miệng, nuốt vướng, hoặc nghi ngờ ác tính.
  • Chỉ nên thực hiện phẩu thuật cắt amidan đối với trẻ từ 4 tuổi trở lên. Với những trường hợp dưới 4 tuổi nhưng amidan to quá cũng có thể được chỉ định cắt.
  • Không cắt amidan cho bệnh nhân rối loạn đông cầm máu bẩm sinh hoặc mắc phải.
  • Tạm hoãn việc cắt amidan nếu người bệnh đang có bệnh mãn tính chưa ổn định, nhiễm khuẩn toàn thân hoặc tại chỗ, phụ nữ có thai, đang đến chu kì kinh nguyệt,…

Amidan là một bộ phận nhỏ nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe con người trước sự xâm nhập và tấn công của vi khuẩn, virus. Qua bài viết trên, hi vọng bạn đã hiểu amidan là gì, vị trí, cấu tạo và chức năng của amidan cũng như tìm cho mình được câu trả lời cho câu hỏi có nên cắt amidan bị viêm hay không.

【#7】Sơ Đồ Các Bộ Phận Cấu Tạo Trên Cơ Thể Người

Cơ thể người là một tổng thể thống nhất bao gồm rất nhiều các cơ quan khác nhau cùng thực hiện một chức năng chung đó chính là giúp bộ máy cơ thể hoạt động trơn tru và ổn định. Vậy bạn đã hiểu rõ về sơ đồ các bộ phận trong cơ thể của mình chưa ? Cùng bài viết hôm nay “vén màn” bức tranh cơ thể ở người.

Về bản chất, các cơ quan trong cơ thể người được chia thành các bộ phận trực thuộc các hệ thống định danh khác nhau, trong đó cấu tạo và đặc điểm của từng hệ thống cụ thể như sau:

Hệ tuần hoàn là một hệ thống mạng lưới bao gồm bạch huyết, máu và các mạch máu trong cơ thể. Hệ thống này có chức năng giúp vận chuyển oxy, chất dinh dưỡng và các hormone cần thiết đi đến khắp các tế bào để nuôi dưỡng và cải thiện hoạt động tốt hơn.

Hệ tuần hoàn bao gồm các bộ phận như não, tim, phổi, thận với chức năng chính là vận chuyển khí và chất dinh dưỡng đến mô, tế bào trên toàn bộ cơ thể.

Để thực hiện được điều này, hệ thống tuần hoàn xây dựng dựa trên sự lưu thông và vận chuyển khí huyết của bộ phận tim mạch và bạch huyết:

    Hệ thống tim mạch bao gồm tim, mạch máu và máu có tác dụng bơm và thúc đẩy máu đi khắp cơ thể.
    Hệ thống bạch huyết bao gồm mạch bạch huyết, tuyến ức, amidan, hạch bạch huyết và lá lách. Chức năng chính của hệ thống này là lọc và đưa bạch huyết trở lại lưu thông máu.

Để các tế bào có thể hình thành và phát triển một cách khỏe mạnh, bên cạnh nguồn cung cấp khí huyết từ hệ thống tuần hoàn, các cơ quan trong cơ thể cũng cần được bổ sung oxy một cách hợp lý. Và đó chính là chức năng quan trọng của hệ hô hấp bên trong cơ thể.

Hệ hô hấp bao gồm mũi, phế quản, phổi và thanh quản với chức năng chính là đường dẫn khí để cung cấp đầy đủ oxy đến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể. Ngoài ra, hệ tuần hoàn còn giúp cơ thể đào thải các loại khí thải, khí độc ra ngoài thông qua phổi và mạch phổi.

Hệ tiêu hóa là hệ thống có chức năng chọn lọc, chuyển hóa và phân hủy thức ăn khi được hấp thụ vào cơ thể. Quá trình này được hoạt động thông qua các cơ quan như dạ dày, ruột, thực quản, tuyến tụy và gan.

Cơ chế hoạt động của hệ thống này được gắn liền với cơ chế phá vỡ các polyme thực phẩm thành phần tử bởi các enzyme được cơ thể tiết ra để có thể hấp thụ các chất dinh dưỡng từ đó chuyển hóa thành năng lượng nuôi dưỡng tế bào.

Hệ thống tiêu hóa bao gồm các cơ quan như sau: Dạ dày, thanh quản, miệng, lưỡi, răng, cơ hoành, gan, ruột non, túi mật, tuyến tụy.

Hệ bài tiết là hệ thống giúp cơ thể lọc và đào thải các loại chất cặn bã ra khỏi cơ thể và duy trì lượng nước cần thiết cho hoạt động sống của con người. Mặt khác, hệ thống này còn giúp cân bằng chất điện giải trong các loại chất lỏng cơ thể, duy trì độ pH trong máu.

Hệ bài tiết bao gồm cấu trúc bài tiết nước tiểu như thận, niệu đạo, bàng quang, niệu quản. Trong đó thận có chức năng lọc chất thải qua máu ra khỏi cơ thể thông qua nước tiểu được điều khiển bằng ống dẫn nước tiểu và bóng đái.

Đây là hệ thống trung tâm có nhiệm vụ kiểm soát và điều khiển hoạt động của tất cả các bộ phận, cơ quan trong cơ thể giúp thích nghi tốt với sự thay đổi của môi trường bên trong cũng như bên ngoài.

Hệ thống thần kinh bao gồm não bộ, dây thần kinh và tủy sống. Trong đó não bộ là cơ quan phức tạp giúp phát triển hệ thống tư duy toàn diện.

Hệ thống xương khớp là toàn bộ cấu trúc xương của cơ thể bao gồm 206 xương và sụn khớp. Ngoài nhiệm vụ định hình cũng như nâng đỡ cơ thể cho hoạt động di chuyển, hệ thống xương còn là nơi lưu trữ các khoáng chất thiết yếu, quan trọng cũng như tạo ra tế bào máu và giải phóng các hormone cần thiết mà cơ thể cần.

Hệ thống cơ bắp thì có nhiệm vụ đảm bảo cho việc di chuyển bằng hình thức co cơ. Các cơ bắp bám vào hai mảnh xương khác nhau nên khi thực hiện co cơ thì các khớp xương cử động từ đó tạo ra sự di chuyển và hoạt động ở con người.

Con người có tổng cộng 3 loại cơ bắp chính là cơ tim, cơ xương và cơ trơn. Khi hê thống xương khớp hoạt động “lỏng lẻo” sẽ khiến các khớp xương bị tổn thương, dễ dẫn đến những bệnh lý cột sống nguy hiểm như thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, đau nhức xương khớp,…

Đây là hệ thống quan trọng giúp điều chỉnh các quá trình thiết yếu trong cơ thể như sự phát triển, tăng trưởng, trao đổi chất, cân bằng nội môi và sự phát triển tình dục.

Cấu trúc hệ nội tiết bao gồm tuyến tùng, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến ức, tinh hoàn và buồng trứng. Các cơ quan này có nhiệm vụ sản sinh ra hormone đi theo đường máu để điều chỉnh và cân bằng các hoạt động sinh lý phát triển ổn định.

  • Hệ thống sinh sản ở nữ giới: Tử cung, cổ tử cung, âm đạo, buồng trứng.
  • Hệ thống sinh sản ở nam giới: Dương vật, mào tinh hoàn, ống dẫn tinh, tinh hoàn.

Là tất cả các bộ phận nằm trong tuyến sinh dục có nhiệm vụ giúp sản sinh ra các hormone, trứng và tinh trùng để đảm bảo cho quá trình thụ thai và sinh con.

【#8】Cấu Tạo Của Các Cơ Quan Nội Tạng Của Chó: Mô Tả, Định Nghĩa, Cấu Trúc, Loại, Chức Năng Được Thực Hiện, Ý Nghĩa Và Cấu Trúc

Một con chó khỏe mạnh là một động vật di động và vui vẻ với bộ lông sáng bóng, đôi mắt sạch sẽ, mũi hơi ẩm và lạnh. Khi chó đang ngủ, mũi có thể bị khô hoặc hơi nóng. Một con chó khỏe mạnh nên ăn ngon miệng, đi tiêu đều đặn, đi tiểu nhiều lần trong ngày và thậm chí thở. Màng nhầy của mắt phải có màu hồng nhạt.

Một con chó bị bệnh có thể được xác định bởi một số dấu hiệu:

  1. Con vật bị trầm cảm, cố gắng trốn tránh những con mắt tò mò, không đến khi chủ nhân của nó gọi nó, hoặc nó miễn cưỡng.
  2. Con chó ăn ít và liên tục xin nước.
  3. Con vật không có hoặc gãy ghế. Đôi khi những con chó bị bệnh phát triển máu trong phân của chúng.
  4. Nôn, ngất trên mắt hoặc mũi, đi tiểu quá thường xuyên.
  5. Màu mắt đã chuyển sang màu vàng hoặc hơi xanh.
  6. Len rơi ra hoặc thay đổi đáng kể màu sắc, trở nên xỉn màu.
  7. Xung và nhiệt độ cơ thể khác với định mức.
  8. Suy hô hấp hoặc khó thở nghiêm trọng, xuất hiện mà không cần gắng sức.

Nếu các triệu chứng trên của bệnh được phát hiện bởi những người nuôi thú cưng, việc liên hệ với bác sĩ thú y để được giúp đỡ là điều khẩn cấp.

Để cung cấp viện trợ đầu tiên cho thú cưng của bạn, cần phải nghiên cứu các đặc điểm giải phẫu và sinh lý của nó.

Cấu trúc cơ thể chó

Mọi chủ sở hữu điều hành một con chó ở nhà nên có kiến ​​thức tối thiểu về cấu trúc cơ thể của động vật này. Điều này sẽ giúp phát hiện kịp thời các triệu chứng của một căn bệnh nguy hiểm ở chó. Đó là từ một người trong hầu hết các trường hợp phụ thuộc vào cuộc sống và sức khỏe của thú cưng của bạn. Ngoài ra, kiến ​​thức về cấu trúc cơ thể của chó sẽ giúp chủ nhân hiểu được nhiều đặc điểm của hành vi của động vật. Điều này đặc biệt quan trọng khi một người muốn nuôi từ một con chó con nhỏ, một trợ lý trong các vấn đề, ví dụ, trong việc săn bắn hoặc để bảo vệ một ngôi nhà. Nó là cần thiết để nuôi một con chó từ những tháng đầu đời.

Mỗi cơ quan bao gồm các mô đảm bảo công việc của nó. Chúng là các tế bào có hình dạng khác nhau, các chất ngoại bào và sợi. Tế bào là cấu trúc nhỏ nhất trong cơ thể của động vật, hình dạng và cấu trúc của chúng phụ thuộc vào mục đích của chúng. Kích thước tế bào thay đổi từ 10 đến 100 micron.

Các loại vải

Trong cơ thể chó có 4 loại mô chính:

  1. Nắp đậy. Chúng tạo thành lớp ngoài của da, và nằm trên bề mặt bên trong của khoang mũi và miệng. Họ cũng bao bọc nhiều cơ quan nội tạng như thực quản, ruột, bàng quang và dạ dày. Các mô che phủ là cần thiết không chỉ để đảm bảo bảo vệ đáng tin cậy của các cơ quan quan trọng. Họ cũng thực hiện quá trình trao đổi chất, sản xuất dịch dạ dày và ruột, nước bọt và nước mắt.
  2. Mô cơ xương. Loại này bao gồm bạch huyết, máu, lớp mỡ, sụn, xương và mô liên kết. Chúng khác nhau đáng kể về cấu trúc và mục đích, nhưng mục đích quan trọng nhất của chúng là tạo ra bộ xương của toàn bộ sinh vật. Họ cũng chịu trách nhiệm kết nối tất cả các cơ quan với nhau. Một trong những loại mô cơ xương thực hiện chức năng bảo vệ, ngăn ngừa tổn thương mạch máu, dây thần kinh và các cơ quan quan trọng khác.
  3. Mô cơ cung cấp các chức năng vận động. Họ cho phép động vật di chuyển và thực hiện công việc của các cơ quan nội tạng.
  4. Các mô thần kinh hình thành hệ thống thần kinh của con chó. Nó kiểm soát công việc của các cơ quan, đồng thời nhận tín hiệu từ môi trường bên ngoài, xử lý chúng và sau đó gửi thông tin đến não.

Tất cả các mô trên là cái gọi là “vật liệu xây dựng” cho các cơ quan. Thông thường sự chiếm ưu thế của một loại mô trong cơ thể quyết định chức năng của nó. Vì vậy, trong não hầu hết các mô thần kinh được phát hiện.

Mỗi cơ quan trong cơ thể của chó thực hiện chức năng chính của nó, nhưng tất cả chúng đều giải quyết các nhiệm vụ nhỏ cũng rất quan trọng đối với hoạt động bình thường của cơ thể.

Chức năng chính của xương của bộ xương là cho phép con chó di chuyển, nhưng ngoài chức năng này, xương cho phép bạn lấp đầy cơ thể bằng các chất dinh dưỡng, cũng như cung cấp lưu lượng máu đến các chi.

Các cơ quan và hệ thống chính

  1. Hệ thống nội tạng của các cơ quan chịu trách nhiệm hô hấp, bài tiết, sinh sản và tiêu hóa.
  2. Hệ thống lưu thông bạch huyết và máu.
  3. Bộ máy chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của cơ thể, bao gồm các cơ, xương và dây chằng.
  4. Hệ thống miễn dịch
  5. Da.
  6. Hệ thống các tuyến nội tiết.
  7. Cơ quan giác quan.
  8. Hệ thần kinh

Xương chó

Cấu trúc cơ thể chó

Nhiều người nuôi chó quan tâm đến câu hỏi: địa hình của các cơ quan nội tạng ở chó là gì? Một con chó là một động vật có vú. Bộ xương của họ có cấu trúc điển hình và các phòng ban giống nhau.

Động vật có vú có 7 đốt sống cổ. Hươu cao cổ có cổ và cá voi rất dài, hoàn toàn không có cổ, có cùng số đốt sống như chó.

Các đốt sống ngực (tùy thuộc vào giống chó, số lượng của chúng thay đổi từ 12 đến 15 miếng) cùng với xương sườn và xương ức là một phần của ngực.

Cột sống thắt lưng, chịu trách nhiệm bảo vệ và cố định các cơ quan nội tạng của con chó (ảnh có thể được nhìn thấy trong bài viết này), bao gồm sáu đốt sống di chuyển. Cột sống bao gồm 4 đốt sống nối với xương chậu.

Tùy thuộc vào giống chó, số lượng đốt sống ở phần đuôi của bộ xương có thể thay đổi từ ba đến vài chục. Chiều dài của đuôi phụ thuộc vào số lượng xương.

Bộ xương của các chi trước bao gồm hai lưỡi dao, được kết nối với sự trợ giúp của xương quạ và hai xương đòn.

Hỗ trợ chân sau bao gồm xương chậu, được hình thành từ ba xương xen kẽ. Đáng chú ý là ở nhiều động vật có vú, bao gồm cả chó, các cơ xương chậu và chân tay được phát triển tốt.

Miệng chó

Giải phẫu của những con chó (ảnh trong bài báo xác nhận điều này) được sắp xếp theo cách mà răng và lưỡi của chúng được đặt trong miệng. Thứ hai phục vụ để xác định hương vị của thực phẩm. Bề mặt của nó được bao phủ bởi nhú, trên đầu của các dây thần kinh được đặt. Lưỡi có thể di chuyển thức ăn trong miệng để làm ướt nó bằng nước bọt và nhai.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của chó được sắp xếp sao cho răng của chúng có rễ dài được đặt trong các lỗ của hàm. Mỗi chiếc răng có cấu trúc phức tạp và bao gồm ngà răng. Bên ngoài nó được phủ men. Những chiếc răng sắc nhọn nhất (răng cửa) nằm ở phía trước, răng nanh mạnh mẽ nằm ở hai bên miệng. Răng miệng nằm ở phía sau miệng.

Để giữ chặt con mồi và nhai thịt một cách an toàn và nghiền xương, con chó có cơ bắp phát triển rất tốt chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của hàm dưới.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của chó được sắp xếp theo cách mà những con chó con của loài động vật này lần đầu tiên mọc răng sữa, rụng ra sau vài tháng. Sau đó, chúng được thay thế bởi những cái vĩnh viễn.

Tất cả các răng chó là cần thiết cho các nhiệm vụ nhất định. Vì vậy, rễ dùng để bẻ những miếng thịt lớn.

Các răng hàm, được đặt trên các cạnh, có đầu cùn. Họ giúp xay các loại thực phẩm rau cứng. Dao cắt được thiết kế để tách thịt ra khỏi xương.

Nội tạng

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được thiết kế theo cách mà dạ dày của chúng bao gồm một buồng để chế biến thức ăn. Ruột bao gồm ba loại ruột: thẳng, dày và mỏng. Khi vào ruột, thức ăn sẽ tan ra dưới tác động của sự tiết ra các tuyến tiêu hóa, cũng như nước ép đến từ tuyến tụy và gan.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được sắp xếp sao cho khoang ngực của con chó được tách ra khỏi bụng bằng vách ngăn cơ bắp. Với việc giảm các cơ liên sườn, sự gia tăng ở ngực xảy ra. Các xương sườn di chuyển về phía trước khi không khí được rút ra. Cơ hoành trở nên phẳng. Khi thở ra xảy ra, xương sườn được hạ xuống. Ngực bị hẹp, do không khí này bị đẩy ra khỏi phổi của con chó. Thở ra.

Cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của một con chó sao cho chúng, bất kể giống chó nào, có một trái tim bốn buồng. Nó bao gồm hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Máu di chuyển qua vòng tròn lớn và nhỏ lưu thông máu.

Do cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của chó, nước tiểu của chúng được bài tiết khi thận hoạt động. Cơ quan ghép đôi này nằm ở hai bên so với đốt sống thắt lưng. Nước tiểu phát triển đi vào bàng quang, và từ đó thông qua kênh được định kỳ hiển thị bên ngoài trong các phần nhỏ.

Sự sắp xếp thành công các cơ quan nội tạng của chó cho phép chuyển hóa nhanh chóng. Nhiệt độ cơ thể ở những con chó khỏe mạnh nên giống nhau. Ở chó con, nó là khoảng 38,5 độ. Ở chó trưởng thành, nhiệt độ cơ thể khoảng 37,5 độ.

Bộ não cũng được bao gồm trong cấu trúc giải phẫu của các cơ quan nội tạng của con chó. Nó nằm bên trong hộp sọ và bao gồm hai bán cầu. Các bán cầu não có một lớp tế bào thần kinh hình thành vỏ não của nó. Nó được mở rộng, có con quay trong đó. Càng nhiều, hoạt động não của động vật càng tốt. Bộ phận này quản lý các chuyển động cơ thể phức tạp.

Cấu trúc của các cơ quan nội tạng của con chó (ảnh có chữ khắc của tất cả các cơ quan bạn có thể thấy trong bài viết) cho phép những con vật này cảm nhận được năm giác quan:

Do đặc thù của các cơ quan nội tạng của chó, chúng có khứu giác phát triển tốt, giúp chúng tìm kiếm con mồi hoặc người thân ngay cả ở khoảng cách xa. Phiên điều trần của hầu hết các con chó cũng được phát triển tốt. Các hạt bắt được cả những âm thanh yên tĩnh nhất.

Những sợi lông dài (rung) mọc gần mũi và mắt là nguyên nhân gây ra cảm ứng.

Khi tiếp xúc với bất kỳ vật thể hoặc con mồi nào, con chó sử dụng ba giác quan của mình cùng một lúc: chạm, nhìn và ngửi. Họ cần liên tục liên lạc với thế giới bên ngoài. Họ nhớ những kinh nghiệm có được và trau dồi kỹ năng của họ.

Những thay đổi trong tự nhiên góp phần thay đổi hành vi ở động vật, chúng phát triển các phản xạ mới. Khả năng này cho phép loài động vật có vú này thích nghi với các điều kiện khác nhau, giúp chúng sống sót ở thế giới bên ngoài.

Các trò chơi của chó khi còn nhỏ (theo đuổi, chạy và chiến đấu) đóng vai trò là một khóa huấn luyện tuyệt vời để rèn luyện các kỹ năng phòng thủ và tấn công cá nhân.

Cách đo nhiệt độ chó

Trước khi lấy nhiệt độ cơ thể của thú cưng, hãy lắc nhiệt kế, sau đó chải đầu bằng kem trẻ em hoặc vaseline. Sau đó, nó cần được đưa vào trực tràng 2 cm, sau khi nâng đuôi của con vật.

Nhiệt kế phải được giữ và không được phép ngồi xuống. Nhiệt kế có thể được kéo ra sau 5 phút. Sau mỗi lần đo nên được khử trùng thiết bị đo y tế.

Đo hơi thở

Tốc độ hô hấp có thể được thiết lập, nếu bạn tính toán chính xác số lần thở và thở ra của động vật trong vòng một phút. Để tính toán chính xác, đặt bàn tay của bạn lên ngực con chó hoặc theo chuyển động của cánh mũi của nó. Một con chó khỏe mạnh mất mười đến hai mươi hơi thở và thở ra trong một phút khi nghỉ ngơi.

Giải phẫu các cơ quan nội tạng của một con chó được sắp xếp theo cách mà hơi thở trở nên nhanh hơn nếu con vật đang chạy. Ngoài ra số lần thở tăng lên nếu con chó sợ hãi hoặc bị kích thích bởi một cái gì đó. Tốc độ hô hấp có thể thay đổi tùy thuộc vào thời gian trong ngày và thay đổi thời tiết. Do bản chất của các cơ quan nội tạng của con chó trong cái nóng, hơi thở của cô tăng lên rất nhiều.

Chó con khi còn nhỏ thở thường xuyên hơn nhiều so với người lớn.

Số xung

Cấu trúc giải phẫu của cấu trúc của những con chó được sắp xếp theo cách mà tần số nhịp tim của chúng dễ tính toán nhất, nếu bạn gắn lòng bàn tay vào ngực của con vật.

Xung có thể được cảm nhận bằng cách đặt ngón tay của bạn lên động mạch đùi. Nó nằm ở mặt trong của đùi. Một trái tim trong một động vật khỏe mạnh được nghỉ ngơi trong nửa giờ nên được giảm với tần số 60 đến 120 nhịp mỗi phút.

Trái tim hoạt động nhanh hơn nhiều nếu con chó tiếp xúc với thể chất, phấn khích, cảm thấy đau đớn. Ngoài ra, cơ tim co lại thường xuyên hơn nếu con vật bị sốt.

Chó con có trái tim nhanh hơn chó trưởng thành.

Thuốc

Để sơ cứu trong việc xác định các triệu chứng tổn thương nội tạng ở chó, mỗi chủ sở hữu phải có bộ dụng cụ sơ cứu thú y tại nhà. Đừng quên kiểm tra ngày hết hạn của thuốc trong đó. Các sản phẩm đã hết hạn phải được thay thế bằng những sản phẩm mới một cách kịp thời. Trước hết trong một bộ dụng cụ sơ cứu như vậy phải là:

Sử dụng thuốc

Mỗi chủ sở hữu chó cần biết làm thế nào để cung cấp cho thú cưng của mình đúng loại thuốc cần thiết để điều trị bệnh. Một số người nuôi chó phải đối mặt với những khó khăn khi con chó của họ không muốn uống thuốc. Theo quy định, việc bổ sung thuốc vào thực phẩm không cho kết quả. Thú cưng nhanh chóng học cách chọn các mẩu tin, để lại những viên thuốc không bị ngấy. Để tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình uống thuốc và hỗn hợp vào cơ thể động vật, bạn nên sử dụng một số kỹ thuật khó:

  1. Sử dụng ống tiêm. Đồng thời, cần phải đổ thuốc vào miệng cùng lúc với chủ sẽ bóp hàm của con chó. Điều này sẽ không cho phép động vật đóng hàm của nó.
  2. Sau khi viên thuốc hoặc bột nằm trên đầu lưỡi, con chó phải giữ chặt miệng bằng tay để thuốc không rơi lại. Con vật bị bệnh phải được giữ theo cách này trong vài phút cho đến khi tác nhân vào thực quản.
  3. Các chất bột nên được đổ vào lưỡi của con chó, và sau một thời gian, hãy cho nó uống nước tinh khiết.
  4. Để làm cho con chó uống thuốc, bạn nên ném đầu con vật lên trên, và sau đó cố gắng đổ chất lỏng bằng hàm. Bây giờ vẫn còn chờ cho thú cưng nuốt phương thuốc theo phản xạ.
  5. Áp dụng tiền bên ngoài trực tiếp vào cơ thể của con chó không gây ra nhiều rắc rối. Tuy nhiên, sau khi bôi kem hoặc gel, bạn phải đeo vòng bảo vệ trên con vật. Một thiết bị như vậy sẽ không cho phép con chó liếm thuốc từ cơ thể.
  6. Thuốc trực tràng và âm đạo được thực hiện bằng cách sử dụng nến và thụ tinh đặc biệt cho động vật. Sau khi nhập thuốc thành công vào đại tràng, cần phải ấn đuôi vào hậu môn một thời gian.
  7. Thấm thuốc vào mắt là một thủ tục phức tạp. Điều mong muốn là làm điều đó cùng nhau: một người giữ khuôn mặt của con chó, và người thứ hai phải bôi thuốc, trong khi giữ cho mí mắt của con chó mở bằng một tay.
  8. Nếu cần phải chèn một ống tiêm với thuốc dưới da của động vật, bạn cần mua một ống tiêm có kim mỏng và ngắn trong hiệu thuốc. Để thuốc hoạt động, cần phải lắp một nếp gấp gần hai ngón tay, sau đó đưa kim vào độ sâu 2 cm. Sau đó, bạn cần tiêm chất lỏng bằng cách ấn từ từ pít tông ống tiêm.
  9. Đôi khi chủ vật nuôi phải tự tiêm vật nuôi của họ. Đối với thủ tục này, cần phải tìm thấy ở chó một tĩnh mạch nhỏ trên chân. Phía trên vị trí đâm thủng cần phải áp dụng một bộ ba vòng, kéo mạnh chân ra. Chỉ sau đó, tĩnh mạch có thể được đâm bằng kim. Sau đó, bạn có thể nhập thuốc. Điều rất quan trọng là giữ chân của một con vật trong một thủ tục như vậy, nếu không nó có thể bị thương.

Все остальные процедуры, например установка капельниц, внутриполостные инъекции, ввод препарата в сердечную мышцу, переливание крови, УЗИ внутренних органов у собак должен делать только квалифицированный ветеринарный врач.

Скелет или костная система

Скелет – это остов, удерживающий все внутренние органы, а также мышцы собаки. Строение скелета собаки на схеме легко представить в виде двух линий:

  • осевой, в состав которой входит 109 костей (череп и позвоночник с ребрами),
  • ngoại vi, bao gồm 180 chi xương.

Trong cuộc sống của động vật, thành phần của mô xương thay đổi. Do đó, ở chó con và chó tuổi teen, xương đàn hồi và nhẹ hơn, với tuổi già có khả năng cao làm tăng nguy cơ dễ vỡ và mất sức. Vì xương và răng được đánh giá dựa trên sức khỏe chung của chó.

Cấu trúc của hộp sọ

Các bộ phận trên khuôn mặt và não của hộp sọ được phân biệt, cả xương ghép và xương không ghép đôi là một phần của hộp sọ. Tổng cộng, hộp sọ bao gồm 27 xương được nối với nhau bằng mô sụn. Với tuổi tác, sụn cứng lại và khả năng di chuyển chỉ được duy trì ở khu vực hàm dưới, để chó có thể nhai thức ăn.

Hình vẽ cho thấy cả xương và cặp xương của cặp sọ.

Cấu trúc răng

Răng không chỉ là một phần quan trọng bên ngoài của chó. Trước hết, răng là cần thiết để cắn và nghiền thức ăn, để bảo vệ chủ sở hữu và, nếu cần thiết, để tấn công kẻ thù.

Chó con được sinh ra không có răng. Ở tuổi hai hoặc ba tuần, răng sữa đầu tiên được cắt qua nướu. Gần 4-5 tháng, chúng bắt đầu rơi ra để nhường chỗ cho vĩnh viễn. Để thay thế sữa thứ 28 bằng một năm rưỡi trong hàm phải là 42 răng vĩnh viễn. Sự sai lệch so với lịch trình thường là do dinh dưỡng không cân bằng hoặc một giống cụ thể.

Công thức nha khoa của một con chó trưởng thành bao gồm 42 răng, với 20 nằm ở phía trên và 22 ở phía dưới.

Một bộ răng vĩnh viễn cho một con chó trưởng thành bao gồm:

  • Răng cửa – 6 trên mỗi hàm.
  • Fangs – 2 trên và dưới. Chúng là vũ khí nguy hiểm trong lao động.
  • 4 răng hàm trên cả hai hàm.
  • Hai răng hàm trên mỗi nhánh của hàm trên, cũng như ba răng dưới, với tổng số 10 mảnh.

Chó arcade

Một chiếc răng bao gồm vương miện, cổ và chân răng. Mão nhô ra đáng kể phía trên nướu, đối với mỗi loại răng nó có hình dạng riêng. Ngà răng là mô răng chính, trong khu vực của thân răng được phủ men răng, và trong vùng chân răng, ngà răng được phủ bằng xi măng. Bên trong răng có một khoang được chia thành không gian vành và chính ống chân răng.

Số lượng răng, tình trạng của chúng và vết cắn (hoặc tắc) ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con chó. Phân bổ các kiểu chữ sau đây của vết cắn:

Loại phổ biến nhất là loại cắn đầu tiên.

Cấu trúc của cột sống

Cột sống là trục của bộ xương. Một bên là hộp sọ được gắn vào nó, và nó kết thúc ở một cái đuôi. Ngoài ra ở hai bên được gắn xương sườn và chân tay với sự trợ giúp của mô sụn.

Cấu trúc của cột sống có thể được trình bày như sau:

  • Vùng cổ tử cung – bao gồm 7 đốt sống, hai trong số đó đầu tiên (atlas và epistrophies) đặc biệt di động. Họ chịu trách nhiệm cho sự di chuyển của người đứng đầu.
  • Vùng ngực bao gồm 13 đốt sống. Để chúng được gắn các xương sườn tạo thành ngực. Chó có 9 cặp thật và 4 cặp cạnh giả.
  • Vùng thắt lưng cũng bao gồm 7 đốt sống.
  • Vùng sacral là xương xương cùng phát triển từ 3 đốt sống.

Cơ cấu nợ

Cực đoan của chó khác nhau về sự phức tạp của một cấu trúc. Chân trước là một sự tiếp nối của scapula, được gắn vào cột sống với cơ vai phát triển. Scapula đi vào humerus, sau đó đi đến khớp cẳng tay và khớp cổ tay. Cẳng tay bao gồm bán kính và xương ulna, và xương bao gồm 5 xương. Chân sau được hình thành bởi khớp hông, khớp gối, ống chân, chân sau, chân và chân.

Cấu trúc của bàn chân có thể được biểu diễn theo cách này:

  • Đệm thực hiện chức năng của giảm xóc. Chúng làm giảm gánh nặng cho xương và khớp, cũng như giúp duy trì sự cân bằng. Các miếng đệm bao gồm một lớp mô mỡ ấn tượng, vì vậy những con chó không bị đóng băng trong mùa lạnh và nhiệt được bảo quản tốt trong bàn chân của chúng.
  • Ngón tay của vật nuôi có số lượng phalang khác nhau. 4 ngón tay – ba phalanxes, và một – chỉ hai. Một con vật không thể di chuyển chúng theo cùng một cách với một người đàn ông do không gian liên kỹ thuật hạn chế. Thông thường, chó có 5 ngón chân trên bàn chân trước và 4 ngón chân trên bàn chân sau. Ngoài ra còn có những ngón chân thô sơ – vết lõm, nằm trên bàn chân sau ngay phía trên bàn chân. Chúng không mang bất kỳ tải trọng chức năng nào, nhưng trong một số trường hợp có thể là dấu hiệu cho thấy chất lượng cao của đại diện của giống chó. Điều này đúng với Briards, Beauceron hoặc Pyrenean Mastiffs.
  • Móng vuốt của con chó, không giống như con mèo, không rút vào trong miếng đệm và bao gồm mô keratinous cứng và tủy – những khu vực có số lượng đáng kể các mạch máu và đầu dây thần kinh. Điều quan trọng là khi cắt móng vuốt phải rất cẩn thận để không làm cho con chó bị tổn thương và đau đớn. Cũng cần phải theo dõi tình trạng và chiều dài của móng vuốt, vì có một mối liên hệ trực tiếp giữa chúng và hệ thống cơ xương. Móng vuốt dài không cho phép thú cưng bốn chân đi lại bình thường, vì chúng bộ xương thậm chí có thể bắt đầu biến dạng.

Cơ quan cảm giác

Các cơ quan cảm giác của chó tương tự như con người, nhưng có sự khác biệt trong việc phân phối tải trọng lên chúng. Vì vậy, quan trọng nhất là khứu giác và thính giác. Bộ não kiểm soát tất cả các giác quan, xử lý tất cả các tín hiệu đến diễn ra ở đó và câu trả lời được hình thành – mệnh lệnh hành động.

Điểm đặc biệt của những chú chó nằm ở chỗ, ngay cả khi khứu giác, thị giác và thính giác của cô ấy đã bị tắt, thì chúng sẽ có các cơ quan cảm ứng phát triển tốt.

Cấu trúc mũi

Mùi có tác dụng mạnh mẽ đối với trạng thái và sinh lý. Ký ức về mùi nghe thấy vẫn tồn tại trong suốt cuộc đời của con vật và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong hành vi của nó. Chất lượng độc đáo này là do đặc thù của cấu trúc mũi của họ. Do đó, mũi của một con chó cỡ trung bình có khoảng 125 triệu thụ thể mùi, mũi của con người có khoảng 5 triệu. Con chó nhận được thông tin không chỉ trong quá trình hít vào mà còn trong quá trình thở ra không khí.

Mũi của động vật bao gồm phần bên ngoài và khoang mũi. Chất nhầy bao phủ bề mặt bên trong của mũi vượt ra ngoài nó, do đó, thông thường, mũi của vật nuôi nên ướt. Chất nhầy này là một loại phân tích bộ lọc của mùi của thế giới xung quanh.

Khoang mũi được chia thành các đoạn trên, giữa và dưới. Ở phần trên của nó là các thụ thể khứu giác, và ở phần dưới của không khí đi đến vòm họng. Các khe hở bên trên lỗ mũi đóng một vai trò lớn trong việc nhận biết mùi, gần một nửa không khí hít vào đi qua chúng.

Một sự thật thú vị! Mũi của con chó, cụ thể là phần sắc tố bên ngoài, có hoa văn độc đáo, không lặp lại trong tự nhiên, vì vậy bạn có thể dễ dàng phân biệt vật nuôi bốn chân.

Cấu trúc tai

Cấu trúc của tai chó tương tự như con người, nó có các bộ phận như vậy: tai ngoài, tai giữa và tai trong. Tai ngoài được hình thành bởi auricle và ống tai. Cực quang là thiết bị định vị cá nhân của mỗi con chó, thông qua đó các tín hiệu âm thanh được cảm nhận. Tùy thuộc vào giống, kích thước và hình dạng của auricle có thể khác nhau đáng kể.

Tai giữa bao gồm các thành phần sau:

  • Các khoang nhĩ và màng.
  • Ống thính giác.
  • Các malleus, khuấy và đe là xương thính giác.

Trong tai trong có các thụ thể của thính giác và cơ quan cân bằng.

Bí mật của thính giác tuyệt vời của chó được giải thích bởi một kênh thính giác kéo dài và khoang nhĩ lớn ấn tượng. Tai của thú cưng bốn chân thu tín hiệu với tần số lên tới 45.000 Hz, trong khi con người chỉ có thể lên tới 25.000 Hz.

Tuy nhiên, các đặc điểm cấu trúc này có nhược điểm của chúng. Kênh thính giác được đặt theo cách mà khi chất lỏng xâm nhập vào nó, không thể chảy ra ngoài. Điều này có nghĩa là nguy cơ phát triển các bệnh về tai tăng lên và việc điều trị của họ trở nên phức tạp hơn.

Cấu trúc mắt

Mắt của chó rất giống mắt người, do đó, nhận thức về thông tin thị giác cũng không khác gì các động vật có vú khác. Ở phía trước, chúng được bao phủ bởi mí mắt trên và dưới. Mí mắt được bảo vệ bởi lông dày ở bên ngoài, và lông mi mọc dọc theo các cạnh của chúng.

Mắt là một nhãn cầu kết nối dây thần kinh thị giác với não. Các cơ quan của thị giác bao gồm một số vỏ: bên ngoài, giữa và bên trong.

Ở chó, các yếu tố như hình que và hình nón chịu trách nhiệm cho nhận thức hình ảnh. Sự khác biệt so với tầm nhìn của con người là chó không có điểm vàng trong đó các yếu tố này, nhận biết ánh sáng, được tập trung. Do đó, tầm nhìn của động vật kém hơn về độ rõ và độ sắc nét. Chó nhìn thấy khoảng một phần ba những gì một người nhìn thấy, nhưng chúng có thể nhận biết thông tin thị giác trong các điều kiện ánh sáng khác nhau, thậm chí là tồi tệ nhất. Thú cưng cũng vượt trội hơn mọi người về tầm nhìn toàn cảnh.

Bộ phận cơ thể

Để định hướng dễ dàng hơn trên cơ thể của con chó, nó được chia thành bốn phần chính (Hình 1).

1. Đầu. Nó phân biệt các bộ phận não (hộp sọ) và mặt (mõm). Chúng bao gồm trán, mũi, tai, răng.

2. Cổ. Ở đây phân biệt phần trên và khu vực dưới.

3. Cơ thể. Được trình bày bởi các héo (nó được hình thành bởi 5 đốt sống ngực đầu tiên và các cạnh trên của scapula, ở cùng cấp độ với chúng), lưng, thăn, vùng ngực, vùng ngực, vùng bẹn, vùng bụng, tuyến vú và vùng hậu môn, vùng hậu môn.

4. Tay chân. Thoracic (trước): vai, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay, metacarpus và xương chậu (sau): đùi, đầu gối, ống chân, gót chân, metatarsus.

Sự xuất hiện của con chó, vóc dáng và đặc điểm của các bộ phận riêng lẻ trên cơ thể của nó, đặc trưng của giống và sàn nhà, được gọi là ngoại thất Bề ngoài chung bao gồm các đặc điểm chính của hiến pháp, cấu trúc của các bộ phận riêng lẻ của cơ thể, các sai lệch và khiếm khuyết đặc trưng nhất, người ta xem xét đặc thù của sự hình thành các giống riêng lẻ, các dấu hiệu điển hình và không điển hình cho chúng.

Hiến pháp

Hiến pháp của chó thường được đánh giá bởi bề ngoài và hành vi hoặc tính khí. Thông thường có năm loại hiến pháp chính: thô, mạnh, khô, lỏng và mềm.

Loài vật này được đặc trưng bởi một bộ xương đồ sộ phát triển mạnh mẽ, cơ bắp khỏe mạnh, bóng mượt, da dày, căng cứng, lông thô. Đầu thường nặng, đồ sộ, ngực rộng và sâu, tứ chi không dài. Những con chó này được đặc trưng bởi hành vi cân bằng, sức khỏe tốt và sức chịu đựng. Bởi bản chất – bình tĩnh, nhưng hoài nghi, thường ủ rũ. Dễ dàng thích nghi với môi trường mới. Điều này bao gồm người chăn cừu da trắng và Trung Á.

Gần với cái trước. Những động vật như vậy có bộ xương khỏe mạnh, phát triển tốt, cơ bắp chắc khỏe. Đầu có trọng lực vừa phải, cổ đồ sộ, ngực hình bầu dục, sâu, tứ chi dài vừa phải với đôi chân dài. Chủ yếu nó là một loại di động cân bằng. Phản xạ có điều kiện được sản xuất nhanh chóng. Chó là người di động, khỏe mạnh trong công việc. Loại này bao gồm chó săn, một số loại trấu và hang.

Ở động vật thuộc loại này, xương bền nhưng tinh tế, cơ bắp chắc khỏe, đàn hồi, mỏng, da căng, lông mỏng. Đầu thon dài, cổ dài, vú hình bầu dục, dạ dày được căng lên mạnh mẽ. Con chó gầy. Tay chân dài. Chó mất cân bằng, không mệt mỏi và đánh bạc trong công việc. Đại diện của loại này là chó săn thỏ.

LOẠI THẤP (RAW)

Động vật thuộc loại này được đặc trưng bởi xương thô, cơ bắp cồng kềnh, nhưng lỏng lẻo, da gấp, có xu hướng béo phì. Đầu ngắn, môi rủ xuống, mắt sâu thẳm, cổ ngắn, ngực rộng, bụng thấp và tay chân ngắn. Bản thân các loài động vật ít vận động, thờ ơ. Phản xạ có điều kiện chúng phát triển chậm. Chúng bao gồm Thánh Bernard và Chow Chow.

Động vật thuộc loại này có xương mỏng, cơ bắp phát triển kém, da mỏng.

Đầu thường hẹp, dài hoặc tròn, cổ yếu, cao, thân hẹp, bụng bị nhô lên.

Tay chân dài và ngắn, vẹo. Len rất mỏng, mượt. Chó thuộc loại này dễ bị kích động, dễ bị căng thẳng.

Đặc trưng bởi khả năng tồn tại giảm. Loại này được phát âm tốt trong IGs, Chihuahua và một số giống chó trang trí khác.

Ở dạng nguyên chất, các loại hợp pháp hóa là rất hiếm. Thường xuyên hơn có nhiều lựa chọn và sự kết hợp của chúng.

Bộ máy chuyển động hoặc hệ thống đầu máy

Bộ máy chuyển động được đại diện bởi bộ xương, dây chằng và cơ bắp, không giống như các hệ thống khác, tạo thành vóc dáng của một con chó, bề ngoài của nó. Để trình bày ý nghĩa của nó, đủ để biết rằng ở trẻ sơ sinh, bộ máy vận động chiếm khoảng 70-78% toàn bộ khối lượng của động vật và ở người trưởng thành – lên tới 60-68%. Trong phylogenesis, các phần quan trọng khác nhau được hình thành: bộ xương như một cấu trúc hỗ trợ, dây chằng cung cấp sự kết nối của xương và các cơ xương tạo ra các đòn bẩy xương chuyển động.

Chủ của con chó thường gặp phải sự xáo trộn trong bộ xương của thú cưng, sự kém phát triển, giảm sức mạnh, thiếu hoặc thừa độ bão hòa khoáng chất (mềm hoặc dễ gãy của xương), vi phạm cấu trúc bên trong của nó, dẫn đến không chỉ các bệnh về xương, mà còn dẫn đến bệnh chung của cơ thể. Do đó, thành phần khoáng chất của xương bị ảnh hưởng không chỉ bởi trạng thái của phần hữu cơ (xương) mà còn do ăn kết hợp với hoạt động thể chất. Sự vắng mặt của thứ hai dẫn đến việc loại bỏ nhanh chóng muối canxi ra khỏi cơ thể, điều này phải được xem xét trong quá trình mang thai của động vật.

Xương của bộ xương (Hình 2) được chia thành bốn loại cơ bản ở dạng: phẳng ngắn (xương bả vai, xương sườn, xương chậu, xương sọ), hỗn hợp (đốt sống), xương ống dài (xương chi). Họ có một tủy xương đỏ – cơ quan tạo máu.

Bộ xương của chó (Hình 3) bao gồm hai phần: trục và ngoại vi.

Bộ xương trục

Bộ xương trục được đại diện bởi hộp sọ, cột sống và ngực.

Hộp sọ Chó dễ tính, duyên dáng. Hình dạng của nó rất đa dạng tùy thuộc vào giống. Có hộp sọ dài – dolichocephalic (collie, Doberman và những người khác) và ngắn – brachycephalic (pug, Bắc Kinh và những người khác).

Крышу черепной коробки образуют теменная, межтеменная и лобная кость. Теменная кость парная и граничит с затылочной. У молодых животных на месте швов образуется затылочный родничок, в котором закладывается парный очажок окостенения. Из него впоследствии формируется непарная межтеменная кость. Phòng xông hơi xương trán, gồm ba tấm. Sines (khoang chứa đầy không khí và lót màng nhầy) được hình thành giữa các mảng của xương trán, rất nhỏ ở chó. Các xoang đối xứng không được truyền đạt, nhưng có những vách ngăn không liên tục bên trong chúng. Do đó, có khả năng nhiễm trùng từ xoang này sang xoang khác.

Các thành bên của hộp sọ tạo thành xương thái dương, bao gồm:

* phần có vảy – tấm tạo thành bức tường bên,

* phần đá – trong đó, cụ thể là trong mê cung xương, từ đó các khe hở bên ngoài của ốc tai và ốc tai mở ra bên ngoài là các cơ quan thính giác và cân bằng. Thông qua chúng, khoang của mê cung xương của tai trong giao tiếp với các không gian đầu vào của khoang sọ. Các bệnh về cơ quan thính giác cũng có thể dẫn đến bệnh về màng não – viêm màng não,

* phần trống, nơi đặt bàng quang trống, trong đó tai giữa được đặt. Ống thính giác hoặc ống Eustachian mở thông qua khoang của phần nhĩ, qua đó tai giữa giao tiếp với khoang hầu họng. Đây là con đường lây nhiễm từ hầu họng đến tai giữa.

Nền của hộp sọ (đáy của khoang sọ) tạo thành xương hình nêm và xương chẩm (cơ thể). Xương sphenoid có sự xuất hiện của một con bướm: cơ thể và cánh. Bề mặt bên trong bao gồm hai bước giống với yên châu Á và do đó được gọi là “yên Thổ Nhĩ Kỳ”, nơi đặt tuyến yên (tuyến nội tiết). Dọc theo mép trước của mặt ngoài của cánh là các lỗ thông qua đó các dây thần kinh sọ nối não với các cơ quan của đầu. Ở phía bên ngoài của xương sphenoid, có các quá trình portgoid đóng khung cho chuối rộng. Tại cơ sở của các quá trình này, có một ống dẫn lưu thông qua đó động mạch tối đa và dây thần kinh đi qua.

Một lỗ rách rưới đi qua rìa xương chẩm qua đó các dây thần kinh sọ thoát ra.

Thành sau của hộp sọ được đại diện bởi xương chẩm. Nó bao gồm ba phần hợp nhất:

* vảy – ở chó, một đỉnh chẩm khá rõ của hình tam giác sắc nét, rõ rệt được hình thành trên đó,

* Condylar (các phần bên) xung quanh một lỗ mở lớn (đây là nơi tủy sống nổi lên trong ống sống). Ở hai bên của nó là bao cao su, được bọc bằng sụn khớp,

* cơ thể của xương chẩm (phần chính).

Thành trước của hộp sọ được hình thành bởi xương ethmoid và xương trán. Xương lưới không thể nhìn thấy trên bề mặt của hộp sọ. Nó nằm trên đường viền giữa hộp sọ và khoang mũi. Phần chính của nó là mê cung, nơi đặt cơ quan khứu giác.

Xương mõm, nằm trước hộp sọ, tạo thành hai khoang – mũi và miệng.

Mái nhà khoang mũi tạo thành xương mũi ghép. Trước mắt, nó thu hẹp và kết thúc dưới dạng một hình tam giác tự do. Phía trước lối vào khoang mũi được hình thành phía trên xương mũi, và ở hai bên và dưới cùng của răng cửa, ở cạnh dưới của nó có phế nang cho răng cửa, cũng như một cặp hàm trên. Hàm trên có các tấm mũi (trong đó các khoang đáng kể được hình thành, giao tiếp với một khoảng trống trong khoang mũi) giáp với đỉnh của xương mũi. Xuống các tấm này kết thúc với cạnh phế nang, nơi các lỗ được đặt, trong đó các răng được đặt. Các quá trình vòm miệng của Lamellar, khi kết hợp với nhau, tạo thành đáy của khoang mũi và đồng thời là vòm miệng, đi từ vùng phế nang. Đằng sau chúng được đặt xương khớp nối và bên dưới – hợp tử, tạo thành cạnh trước của quỹ đạo, nơi đặt nhãn cầu.

Thành sau của khoang mũi được biểu thị bằng xương ethmoid, tấm vuông góc đi vào vách ngăn sụn mũi chia hai khoang mũi theo chiều dọc thành hai nửa. Bên dưới xương ethmoid là lối ra từ khoang mũi đến hầu họng, được hình thành bởi xương vòm miệng và xương chậu.

Một dụng cụ mở không ghép nối đi dọc theo đáy của khoang mũi, vào máng mà vách ngăn mũi được đưa vào. Dọc theo bề mặt bên trong đến hàm trên và xương mũi, hai tấm xương mỏng, phía trước, xoắn được gắn vào – vỏ, rất khó để tạo ra ở chó: tách ra, chúng tạo ra những lọn tóc dài dọc theo chiều dài.

Mái nhà khoang miệng tạo thành xương hàm và xương hàm trên, và đáy được hình thành bởi hàm dưới ghép nối – xương duy nhất của khuôn mặt được kết nối di chuyển với hộp sọ bởi khớp trong khu vực của xương thái dương. Đây là một xương nhẹ dưới dạng một cuộn băng hơi tròn. Cô ấy có một cơ thể và các chi nhánh. Trên phần răng cửa và phần răng cưa phân biệt cạnh răng, trong các lỗ của răng là răng. Ở góc ngoài của nhánh ở chó có một quá trình phóng mạnh. Giữa các nhánh trong không gian tối đa có một xương hyoid, trên đó hầu họng, thanh quản và lưỡi bị treo.

Dọc cơ thể của động vật nằm cột sống trong đó có một cột sống được hình thành bởi các thân đốt sống (phần hỗ trợ kết nối dưới dạng một vòng cung động lực làm việc của các chi) và kênh đốt sống, được hình thành bởi các vòng cung của đốt sống bao quanh tủy sống. Tùy thuộc vào tải trọng cơ học được tạo ra bởi khối lượng của cơ thể, và khả năng di chuyển của các đốt sống có hình dạng và kích thước khác nhau.

Trong mỗi đốt sống có một cơ thể và một vòng cung.

Cột sống được phân biệt thành các phần trùng khớp với hướng tác động của lực hấp dẫn bốn chân (Bảng 1).

Cột sống và số lượng đốt sống ở một con chó

Các đốt sống của cột sống cổ được kết nối di chuyển với nhau, với hai đầu tiên được thay đổi đáng kể hình dạng của chúng: atlas và epistrophy. Trên chúng chuyển động của đầu. Các xương sườn được gắn vào các cơ quan của đốt sống ngực. Các đốt sống thắt lưng có các quá trình khớp mạnh mẽ cung cấp một kết nối vững chắc hơn của các vòm của đốt sống, mà các cơ quan tiêu hóa nặng bị đình chỉ. Các đốt sống xương khớp đã phát triển cùng nhau trong xương sacral. Kích thước của đốt sống đuôi giảm dần theo khoảng cách từ xương cùng. Mức độ giảm của các bộ phận phụ thuộc vào chức năng của đuôi. Các đốt sống 5-8 đầu tiên vẫn giữ lại các bộ phận của chúng – cơ thể và vòng cung. Trong các đốt sống tiếp theo, ống đốt sống đã vắng mặt. Cơ sở của đuôi chỉ là “cột” của các đốt sống. Ở chó con mới sinh, đốt sống đuôi có mức độ khoáng hóa thấp, do đó, một số giống chó (ví dụ, Airedale Terrier) cập bến (cắt bao quy đầu) ở độ tuổi sớm của một phần đuôi.

Lồng xương sườn hình thành bởi xương sườn và thịt ức. Các xương sườn được di chuyển gắn bên phải và bên trái đến đốt sống của cột sống ngực. Chúng ít di động ở phần trước của ngực, nơi gắn một cái vảy. Về vấn đề này, thùy trước của phổi thường bị ảnh hưởng bởi bệnh phổi. Những con chó có 13 cặp xương sườn. Chúng được uốn cong vòng cung. Cái râu có dạng que rõ ràng. Chiếc rương có hình nón, hai bên dốc.

Bộ xương ngoại biên hoặc bộ xương chân tay

Ngực chi Trình bày bởi:

* một lưỡi dao gắn vào cơ thể trong khu vực của xương sườn đầu tiên,

* vai, bao gồm các humerus,

* cẳng tay đại diện bởi bán kính và xương ulna,

* một bàn chải bao gồm một cổ tay (7 xương), metacarpus (5 xương) và phalang của các ngón tay. Con chó có 5 ngón tay, đại diện là 3 phalang, đầu tiên của ngón tay được treo và có 2 phalang. Ở cuối các ngón tay có một chiếc lược vuốt. Chân chậu bao gồm:

* xương chậu, mỗi nửa là xương không có vành. Trên cùng là xương chậu, bên dưới xương mu và xương hàm,

* đùi, đại diện bởi xương đùi và xương bánh chè, trượt trên khối xương đùi,

* xương chày, bao gồm xương chày và xương mác,

* bàn chân, đại diện bởi tarsus (7 xương), metatarsus (5 xương) và phalang của các ngón tay (5 ngón tay từ 3 phalang, đầu tiên của ngón tay được treo (có lợi) và có 2 phalang. Có một chiếc lược ở cuối ngón tay.

Trong số các bệnh của các cơ quan của bộ máy vận động, các quá trình bệnh lý ở khớp xương, đặc biệt là khớp tay chân ở động vật, là phổ biến hơn. Có một số loại xương khớp.

Liên tục. Loại khớp này có độ đàn hồi lớn, sức mạnh và khả năng di chuyển rất hạn chế. Tùy thuộc vào cấu trúc của mô nối xương, các loại hợp chất sau đây được phân biệt:

* với sự trợ giúp của mô liên kết – hội chứng, và nếu các sợi đàn hồi chiếm ưu thế trong đó – synelastosis. Một ví dụ về loại kết nối này là các sợi ngắn kết nối chắc chắn giữa xương này với xương khác, ví dụ, xương cẳng tay và chân dưới ở chó,

* với sự trợ giúp của mô sụn – synchondrosis. Loại kết nối này có tính di động thấp, nhưng cung cấp sức mạnh và độ đàn hồi của kết nối (ví dụ: kết nối giữa các thân đốt sống),

* Với sự trợ giúp của mô xương – khớp thần kinh, xảy ra, ví dụ, giữa xương cổ tay và tarsus. Khi động vật già đi, synostosis lây lan trong bộ xương. Nó xảy ra tại vị trí của hội chứng hoặc hội chứng.

Trong bệnh lý, kết nối này có thể xảy ra khi không có mặt bình thường, ví dụ, giữa các xương của khớp sacroiliac do không hoạt động thể chất, đặc biệt là ở động vật già,

* với sự trợ giúp của các mô cơ – khớp thần kinh, một ví dụ trong đó là sự kết hợp của scapula với cơ thể.

Không liên tục (hoạt dịch) khớp hoặc khớp. Nó cung cấp phạm vi tiếp cận lớn hơn và phức tạp hơn. Cấu trúc của các khớp rất đơn giản và phức tạp, theo hướng trục quay – đa trục, hai trục, đơn trục, kết hợp và trượt.

Khớp có một bao khớp bao gồm hai lớp, lớp ngoài (hợp nhất với màng ngoài tim) và bên trong (synovial, phân bổ synovium vào khoang khớp, nhờ đó xương không cọ xát với nhau). Hầu hết các khớp, ngoại trừ viên nang, được cố định bởi một số dây chằng khác nhau. Dây chằng thường đi dọc theo bề mặt của khớp và được cố định ở hai đầu đối diện của xương, nghĩa là chúng không can thiệp vào chuyển động chính trong khớp (ví dụ, khớp khuỷu tay).

Hầu hết các xương của hộp sọ được kết nối bởi một loại kết nối liên tục, nhưng cũng có các khớp – khớp thái dương hàm, atlantocatecular. Các cơ quan của đốt sống, ngoại trừ hai đầu tiên, được liên kết với nhau bằng các đĩa đệm (sụn), nghĩa là khớp thần kinh, cũng như dây chằng dài. Các xương sườn được kết nối bởi fascia intacoracic, bao gồm các mô liên kết đàn hồi, cũng như các cơ liên sườn và dây chằng ngang. Scapula được kết nối với cơ thể với sự trợ giúp của các cơ xương đòn và xương chậu với sự trợ giúp của khớp với xương cùng và với đốt sống đuôi đầu tiên với dây chằng. Các phần chi được gắn với nhau bằng các loại khớp khác nhau, ví dụ, sự kết nối của xương chậu với xương đùi xảy ra thông qua khớp hông đa khớp.

Mô cơ có một tính chất quan trọng để co lại, gây ra chuyển động (hoạt động năng động) và cung cấp âm sắc của cơ bắp, tăng cường các khớp ở một góc kết hợp nhất định với một cơ thể cố định (công việc tĩnh), duy trì một tư thế nhất định. Chỉ có công việc (đào tạo) của các cơ góp phần làm tăng khối lượng của chúng bằng cách tăng đường kính của các sợi cơ (phì đại) và bằng cách tăng số lượng của chúng (tăng sản). Mô cơ có ba loại, tùy thuộc vào loại sắp xếp của sợi cơ:

* mịn (thành tàu),

* vân (cơ xương),

* tim đập (trong tim).

Cơ xương được đại diện bởi một số lượng lớn (hơn 200) cơ bắp. Mỗi cơ có một phần hỗ trợ – stroma mô liên kết và nhu mô cơ hoạt động. Tải trọng tĩnh được thực hiện bởi cơ bắp, stroma càng phát triển. Trong lớp cơ của các cơ, gân liên tục được hình thành ở hai đầu của cơ bụng, hình dạng của nó phụ thuộc vào hình dạng của cơ. Nếu gân giống như dây, nó được gọi đơn giản là gân. Nếu nó bằng phẳng, thì đó là một aponeurosis. Trong một số phần của cơ bắp xâm nhập vào các mạch máu, nguồn cung cấp máu và các dây thần kinh bẩm sinh. Cơ bắp là ánh sáng và bóng tối, tùy thuộc vào chức năng, cấu trúc và cung cấp máu. Mỗi cơ bắp, nhóm cơ và tất cả các cơ của cơ thể được mặc quần áo với lớp vỏ xơ dày đặc biệt – fascia. Để ngăn ngừa ma sát của cơ, gân hoặc dây chằng, làm mềm sự tiếp xúc của chúng với các cơ quan khác, để tạo điều kiện trượt với sự chuyển động lớn, các vết nứt được hình thành giữa các tấm fascia, được lót bởi một lớp vỏ, tiết ra chất nhầy trong khoang kết quả. Những cấu trúc này được gọi là bursa niêm mạc, hoặc hoạt dịch. Các bursas như vậy được đặt, ví dụ, trong các khu vực của khuỷu tay và khớp gối, và sự thất bại của chúng đe dọa khớp.

Cơ bắp có thể được phân loại theo một số tiêu chí.

* lamellar (cơ bắp của đầu và cơ thể),

* dày dài (trên các chi),

* cơ thắt (nằm ở rìa của các lỗ, không có điểm đầu cũng như điểm cuối, ví dụ, cơ thắt hậu môn),

* kết hợp (gấp ra khỏi các chùm riêng lẻ, ví dụ, các cơ của cột sống).

Theo cấu trúc bên trong:

* năng động (các cơ thực hiện tải trọng động, cơ nằm trên cơ thể càng cao thì càng năng động),

* Statodynamic (chức năng tĩnh của cơ trong quá trình hỗ trợ, duy trì các khớp động vật ở dạng mở rộng khi đứng, khi chịu tác động của trọng lượng cơ thể, các khớp của tứ chi có xu hướng uốn cong, cơ loại này mạnh hơn cơ bắp năng động),

* tĩnh (cơ mang tải tĩnh, cơ nằm càng thấp trên cơ thể, chúng càng tĩnh).

* chất bổ sung (hàm khử),

* kẻ bắt cóc (chức năng chì),

* công cụ quay (chức năng quay).

Công việc cơ bắp được kết nối chặt chẽ với cơ thể cân bằng và ở một mức độ lớn với các giác quan khác. Nhờ kết nối này, các cơ cung cấp sự cân bằng của cơ thể, độ chính xác của các động tác, sức mạnh.

Do đó, là kết quả của hành động chung của hệ cơ với bộ xương, một số công việc được thực hiện (ví dụ, động vật di chuyển). Trong quá trình hoạt động, sự tích tụ nhiệt xảy ra.

Do đó, vào mùa ấm áp, với công việc chuyên sâu ở chó, cơ thể quá nóng có thể xảy ra – say nắng.

Trong thời gian lạnh, để tránh hạ thân nhiệt, động vật cần di chuyển nhiều hơn.

Da

Cơ thể của chó được bao phủ bởi da lông và các cơ quan hoặc dẫn xuất của da.

Nó bảo vệ cơ thể khỏi các tác động bên ngoài, thực hiện, thông qua nhiều đầu dây thần kinh, vai trò của một đơn vị thụ thể của máy phân tích da của môi trường bên ngoài (xúc giác, đau và nhạy cảm với nhiệt độ). Thông qua nhiều loại mồ hôi và tuyến bã nhờn, một số sản phẩm trao đổi chất được giải phóng, qua miệng túi tóc, tuyến da, bề mặt da có thể hấp thụ một lượng nhỏ dung dịch. Các mạch máu của da có thể chứa tới 10% máu của một con chó. Giảm và mở rộng các mạch máu là rất cần thiết trong việc điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Da có chứa vitamin. Dưới ảnh hưởng của tia cực tím, vitamin D được sản xuất.

Trong vùng da phủ đầy tóc, các lớp sau được phân biệt (Hình 6).

1. Biểu bì (biểu bì) – lớp ngoài cùng. Lớp này xác định màu của da, và các tế bào bị giác mạc bị tróc ra, do đó loại bỏ bụi bẩn, vi sinh vật, v.v., khỏi bề mặt da. Tóc mọc ở đây: 3 hoặc nhiều hơn (dày và dài) và 6-12 lớp lông ngắn và mềm.

2. Derma (da thích hợp):

* lớp pilyarny, trong đó có tuyến bã nhờn và mồ hôi, chân tóc trong nang lông, cơ bắp – người nâng tóc, nhiều mạch máu và bạch huyết và đầu dây thần kinh,

* lớp lưới bao gồm một đám rối collagen và một lượng nhỏ sợi đàn hồi.

Trong lớp hạ bì là các tuyến thơm, tiết ra mùi đặc trưng cho mỗi giống. Trên các khu vực không có lông (mũi, cằm, bìu ở con đực và chó cái), da hình thành các mẫu riêng biệt cho từng mẫu vật nuôi.

3. Cơ sở dưới da (lớp dưới da), đại diện bởi mô liên kết lỏng lẻo và mô mỡ.

Lớp này được gắn vào các fascia bề ngoài bao phủ cơ thể của con chó.

Nó lưu trữ các chất dinh dưỡng dự phòng dưới dạng chất béo.

DERIVATIVES CỦA DA

Các dẫn xuất của da bao gồm sữa, mồ hôi và tuyến bã nhờn, móng vuốt, vụn, lông và gương mũi của chó.

Tuyến bã nhờn. Các ống dẫn của chúng mở vào miệng của nang lông. Сальные железы выделяют сальный секрет, который, смазывая кожу и волосы, придает им мягкость и эластичность.

Потовые железы. Их выводные протоки открываются на поверхность эпидермиса, через которые выделяется жидкий секрет – пот. Потовых желез у собак немного. Расположены они в основном в области мякишей на лапах и на языке. Собака потеет не всем телом, лишь учащенное дыхание через открытый рот и испарение жидкости из ротовой полости регулируют температуру ее тела.

Молочные железы. Chúng có nhiều và được sắp xếp thành hai hàng ở phần dưới của ngực và thành bụng, 4 – 6 cặp đồi ở mỗi hàng. Trong mỗi ngọn đồi có một vài thùy của tuyến mở thông qua các kênh núm vú ở đầu núm vú. Mỗi núm vú có 6 kênh t2020.

Tóc Đây là những sợi fusiform từ biểu mô sừng nhiều lớp và keratin hóa. Phần tóc mọc phía trên bề mặt da được gọi là phần cuống, phần bên trong da được gọi là phần gốc. Rễ đi vào trong bóng đèn, và bên trong bóng đèn là nhú của tóc.

Theo cấu trúc có bốn loại tóc chính.

1. Bao gồm – dài nhất, dày, đàn hồi và dẻo dai, gần như thẳng hoặc chỉ hơi gợn sóng. Nó phát triển với số lượng lớn trên cổ và dọc theo cột sống, trên hông và nhỏ hơn – ở hai bên. Một tỷ lệ lớn của loại lông này thường là chó lông chó. Ở những con chó lông ngắn, lông che phủ không có hoặc nằm trong một dải hẹp dọc theo lưng.

2. Ostevy (che tóc) – tinh tế và nhẹ nhàng hơn. Nó dài hơn lớp lót, che chặt nó, do đó bảo vệ nó khỏi bị ướt và xóa. Ở những con chó lông dài, nó được uốn ở các mức độ khác nhau, đó là lý do tại sao chúng phân biệt lông thẳng, cong và xoăn.

3. Lớp lông là lông ngắn và mỏng nhất, rất ấm, phù hợp với toàn bộ cơ thể của chó và giúp giảm nhiệt cơ thể trong mùa lạnh. Nó đặc biệt phát triển ở những con chó nuôi bên ngoài trong mùa lạnh. Thay đổi áo lót (molt) xảy ra hai lần một năm.

4. Rung động – tóc nhạy cảm. Kiểu tóc này nằm trên da ở môi, lỗ mũi, cằm và mí mắt.

Có một số lượng lớn các phân loại áo về chất lượng tóc.

Bởi sự hiện diện của lớp lót:

* chó không có lông,

* chó có lớp lông lót.

Theo bản sắc của bộ lông của chúng, những con chó là:

* lông mượt (bull terrier, Doberman, Dalmatian và những người khác),

* tóc thẳng (beagle, rottweiler, labrador và những người khác),

* tóc ngắn có tóc (St. Bernard, nhiều người Tây Ban Nha và những người khác),

* tóc xù (terrier, schnauzers và những người khác),

* tóc trung bình (collie, pomeranian, Bắc Kinh và những người khác),

* tóc dài (Yorkshire Terrier, Shih Tzu, Afghanistan Hound và những người khác),

* tóc dài với tóc dây (poodle, chỉ huy và những người khác),

* lông xù dài (Kerry Blue Terrier, Bichon Frize và những người khác).

Màu tóc được xác định bởi hai sắc tố: vàng (đỏ và nâu) và đen. Sự hiện diện của sắc tố ở dạng nguyên chất của nó mang lại một màu hoàn toàn đơn sắc. Nếu các sắc tố được trộn lẫn, sau đó có các màu khác.

Hầu hết những con chó rụng hai lần một năm: vào mùa xuân và mùa thu. Hiện tượng này được gọi là lột xác sinh lý. Mùa xuân thường dài hơn và rõ rệt hơn. Rụng là một sự bảo vệ tự nhiên của con chó khỏi cái nóng mùa hè và thay thế lông cũ bằng cái mới. Đối với mùa hè, những con chó chủ yếu có một bộ lông bảo vệ, và lớp lông rơi ra. Vào mùa đông, trái lại, một lớp lông dày và ấm phát triển. Khi nuôi chó ở nhà, thời gian lột xác dài hơn so với những người sống trên đường phố.

Myakishi Đây là khu vực hỗ trợ của các chi. Ngoài chức năng hỗ trợ, chúng là cơ quan cảm ứng. Các mảnh vụn tạo thành lớp da dưới da. Một con chó có 6 mảnh vụn ở mỗi chi ngực và 5 trên mỗi xương chậu.

Hệ thần kinh

Hệ thống thần kinh là một tập hợp các cấu trúc trong cơ thể động vật kết hợp các hoạt động của tất cả các cơ quan và hệ thống và đảm bảo sự hoạt động của toàn bộ sinh vật trong sự tương tác liên tục của nó với môi trường bên ngoài. Đơn vị cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh là tế bào thần kinh – tế bào thần kinh – cùng với các tế bào thần kinh đệm. Loại thứ hai mặc các tế bào thần kinh và cung cấp cho chúng các chức năng hỗ trợ và chiến đấu. Các tế bào thần kinh có một số quá trình – sợi nhánh nhạy cảm, phân nhánh cây, dẫn đến cơ thể của một tế bào thần kinh nhạy cảm, sự kích thích xảy ra ở đầu dây thần kinh nhạy cảm của chúng, nằm trong các cơ quan và một sợi trục động cơ, qua đó xung thần kinh được truyền từ tế bào thần kinh đến cơ quan làm việc. Các nơ-ron tiếp xúc với nhau với sự trợ giúp của các quá trình, tạo thành chuỗi phản xạ mà qua đó các xung thần kinh được truyền đi.

Quá trình của các tế bào thần kinh kết hợp với các tế bào thần kinh hình thành sợi thần kinh. Những sợi này trong não và tủy sống chiếm phần lớn chất trắng. Từ các quá trình của các tế bào thần kinh được hình thành các bó, trong đó được mặc như một nhóm vỏ phổ biến được hình thành dây thần kinh ở dạng cấu trúc chuỗi. Thần kinh có chiều dài và độ dày khác nhau. Các sợi thần kinh được chia thành nhạy cảm – nhạy cảm, truyền các xung thần kinh từ thụ thể đến hệ thần kinh trung ương, và tác động, dẫn các xung từ hệ thống thần kinh trung ương đến cơ quan bẩm sinh: myelin (bẩm sinh các cơ của cơ thể và các cơ quan nội tạng), không phải myelin (bẩm sinh cơ quan nội tạng).

hạch thần kinh – các nhóm tế bào thần kinh của phần trung tâm của hệ thần kinh, được phân bổ cho ngoại vi. Chúng đóng vai trò của một máy biến áp bước xuống, cũng như một máy gia tốc dẫn truyền xung thần kinh trong hạch nhạy cảm và gây ức chế các cơ quan nội tạng trong các nút tác nhân. Các hạch thần kinh là một khu vực nhân lên, trong đó từ một sợi có thể lan truyền đến một số lượng lớn tế bào thần kinh.

Thần kinh – những nơi có sự trao đổi giữa các dây thần kinh, bó hoặc sợi dành cho việc phân phối lại các sợi thần kinh trong các hợp chất phức tạp trong các phân đoạn khác nhau của tủy sống và não.

Về mặt giải phẫu, hệ thống thần kinh được chia thành trung tâm, bao gồm não và tủy sống với hạch thần kinh cột sống, ngoại biên, bao gồm các dây thần kinh sọ và cột sống nối hệ thống thần kinh trung ương với các thụ thể và các thiết bị của các cơ quan khác nhau. Điều này bao gồm các dây thần kinh của cơ xương và da – phần soma của hệ thống thần kinh và mạch máu – giao cảm. Hai phần sau này được hợp nhất bởi khái niệm hệ thống thần kinh tự trị hoặc thực vật.

Não

Đây là phần đầu của phần trung tâm của hệ thần kinh, nằm trong khoang sọ. Có hai bán cầu, cách nhau bởi một luống và có con quay. Chúng được bao phủ bằng chất vỏ não hoặc vỏ cây.

Các phần sau đây được phân biệt trong não:

* não cuối (não khứu giác và áo mưa),

* diencephalon (cusps thị giác (thalamus), nadormsorye (epithalamus), hypothalamus (hypothalamus), peri-cuspidus (metatalamus),

* midbrain (chân của bộ não lớn và bốn má),

* não sau (tiểu não và cầu),

Não được mặc ba vỏ: rắn, màng nhện và mềm. Giữa màng rắn và màng nhện có một không gian dưới màng cứng chứa đầy dịch não tủy (dòng chảy của nó có thể vào hệ thống tĩnh mạch và vào các cơ quan lưu thông bạch huyết), và giữa không gian màng nhện và mềm – màng nhện.

Tủy sống

Tủy sống là một phần của phần trung tâm của hệ thần kinh, là một dây của các mô não với tàn dư của khoang não. Nằm trong ống sống và bắt đầu từ hành tủy và kết thúc ở khu vực của đốt sống thắt lưng thứ 7. Tủy sống được phân chia có điều kiện mà không có ranh giới có thể nhìn thấy vào các vùng cổ tử cung, ngực và thắt lưng, bao gồm các chất xám và trắng não. Trong chất xám có một số trung tâm thần kinh soma thực hiện các phản xạ vô điều kiện khác nhau, ví dụ, ở cấp độ của các đoạn thắt lưng, có các trung tâm nằm ở các chi chậu và thành bụng. Tủy trắng bao gồm các sợi myelin và nằm xung quanh màu xám dưới dạng ba cặp can (bó), trong đó các đường dẫn của cả hai thiết bị phản xạ của tủy sống và các đường đi lên tới não (cảm giác) và đi xuống từ nó (vận động).

Tủy sống được bao phủ bởi ba lớp vỏ: rắn, màng nhện và mềm, giữa đó có các vết nứt chứa đầy chất lỏng cột sống. Ở chó, chiều dài của tủy sống trung bình là 78 ​​cm với khối lượng 33 g.

Hệ thần kinh ngoại biên

Phần ngoại vi của hệ thần kinh là một phần tách biệt về mặt địa lý của hệ thần kinh đơn, nằm bên ngoài não và tủy sống. Nó bao gồm các dây thần kinh sọ và cột sống với rễ, đám rối, hạch và các đầu không đều được nhúng trong các cơ quan và mô. Do đó, 31 cặp dây thần kinh ngoại biên đang di chuyển ra khỏi tủy sống và 12 cặp từ não.

Trong hệ thống thần kinh ngoại biên, người ta thường phân biệt ba phần – somatic (trung tâm kết nối với cơ xương), giao cảm (liên kết với các cơ trơn của các mạch của cơ thể và các cơ quan nội tạng), giao cảm (liên kết với các cơ trơn và các tuyến của các cơ quan nội tạng) và mô liên kết (bẩm sinh).

Hệ thống thần kinh thực vật (tự trị)

Hệ thống thần kinh tự trị có các trung tâm đặc biệt trong tủy sống và não, cũng như một số hạch nằm bên ngoài tủy sống và não. Phần này của hệ thống thần kinh được chia thành:

* giao cảm (bảo tồn các cơ trơn mạch máu, các cơ quan nội tạng, các tuyến), các trung tâm nằm ở vùng ngực của tủy sống,

* giao cảm (bảo tồn đồng tử, tuyến nước bọt và tuyến lệ, cơ quan hô hấp, cơ quan nằm trong khoang chậu), có trung tâm nằm trong não.

Điểm đặc biệt của hai bộ phận này là bản chất đối kháng trong việc cung cấp các cơ quan nội tạng của chúng, nghĩa là, nơi hệ thống thần kinh giao cảm hoạt động một cách kích thích, giao cảm – trầm cảm. Ví dụ, trái tim được bẩm sinh bởi các dây thần kinh giao cảm và lang thang. Dây thần kinh phế vị kéo dài từ trung tâm giao cảm làm chậm nhịp tim, làm giảm kích thước của cơn co thắt, làm giảm sự hưng phấn của cơ tim và giảm tốc độ của sóng kích thích qua cơ tim. Các dây thần kinh giao cảm hành động theo hướng ngược lại.

Hệ thống thần kinh trung ương và vỏ não điều chỉnh tất cả các hoạt động thần kinh cao hơn thông qua các phản xạ. Có những phản ứng cố định về mặt di truyền của hệ thần kinh trung ương đối với các kích thích bên ngoài và bên trong – thực phẩm, tình dục, phòng thủ, định hướng, sự xuất hiện của nước bọt khi nhìn thấy thức ăn. Những phản ứng này được gọi là phản xạ bẩm sinh hoặc vô điều kiện. Chúng được cung cấp bởi não, thân của tủy sống, hệ thống thần kinh tự trị. Phản xạ có điều kiện có được các phản ứng thích nghi riêng lẻ của động vật phát sinh trên cơ sở hình thành mối liên hệ tạm thời giữa tác nhân gây khó chịu và phản xạ không điều kiện. Một ví dụ về phản xạ như vậy – việc thực hiện các nhu cầu tự nhiên cho một cuộc đi bộ. Trung tâm của sự hình thành loại phản xạ này cũng là vỏ não của bán cầu não.

PHÂN TÍCH THỰC TẾ

Nó bao gồm cơ quan thị giác – mắt, bao quanh thụ thể thị giác, dây dẫn – dây thần kinh thị giác và não và các trung tâm não dưới vỏ não và vỏ não.

Mắt Bao gồm nhãn cầu, được kết nối thông qua dây thần kinh thị giác đến não và các cơ quan phụ của nó.

Hầu hết các nhãn cầu có hình dạng hình cầu và nằm trong khoang xương – hốc mắt hoặc quỹ đạo hình thành bởi xương của hộp sọ. Cực trước là lồi, và cực sau có phần dẹt. Nhãn cầu bao gồm các vỏ sau đây.

* albumen (sclera) – rắn chắc, đeo 4/5 nhãn cầu, ngoại trừ cực trước, nó đóng vai trò là bộ xương mạnh mẽ của thành mắt, các gân cơ mắt được gắn vào nó,

* giác mạc trong suốt, dày đặc và khá dày, nó chứa nhiều dây thần kinh, nhưng không có mạch máu, tham gia dẫn ánh sáng đến võng mạc, nhận thấy đau và áp lực, nơi giác mạc đi vào màng cứng được gọi là chi (cạnh).

* cầu vồng là phần sắc tố và phần trước của lớp vỏ giữa, ở phần trung tâm của nó có một lỗ – đồng tử (nó tròn ở chó), mô cơ trơn tạo thành hai cơ ở mống mắt – cơ vòng (vòng) và phần giãn của đồng tử (xuyên tâm) mở rộng hoặc thuôn, đồng tử điều chỉnh sự xâm nhập của các tia sáng vào nhãn cầu,

* cơ thể mật – một phần dày của vỏ giữa. Nằm ở dạng một vòng rộng tới 10 mm xung quanh ngoại vi của bề mặt sau của mống mắt giữa nó và màng đệm, phần chính là cơ bắp, mà dây chằng (ống kính) hỗ trợ cho ống kính được gắn vào, ống kính trở nên lồi lõm dưới ống kính này. .

* màng đệm thích hợp là mặt sau của lớp lót giữa của nhãn cầu, nó được đặc trưng bởi sự phong phú của các mạch máu và nằm giữa màng cứng và võng mạc, nuôi dưỡng phần sau,

Nội bộ, hoặc võng mạc:

* mặt sau là hình ảnh, nằm dọc hầu hết thành của nhãn cầu, nơi nhận thức ánh sáng được nhận biết và chuyển thành tín hiệu thần kinh, nó bao gồm một thần kinh (bên trong, cảm quang, cơ thể thủy tinh) và sắc tố (bên ngoài, liền kề với màng đệm) . Trong lớp dây thần kinh có các tế bào thần kinh tế bào cảm quang gồm hai loại, các que (có nhiều hơn) và hình nón, tương ứng mang lại cảm giác ánh sáng và màu sắc. Nơi chuyển của võng mạc sang dây thần kinh thị giác được gọi là điểm mù. Không có tế bào cảm quang trong đó. Ở trung tâm của võng mạc, một điểm màu vàng với hình tròn với một lỗ ở giữa nổi bật. Đây là một âm mưu của nhận thức màu sắc tốt. Trong cuộc sống, võng mạc mềm mại, màu hồng, trong suốt và sau khi chết, nó trở nên nhiều mây,

* phần trước – mù, che phủ bên trong cơ thể và mống mắt, cùng với nó phát triển, bao gồm các tế bào sắc tố và không có lớp cảm quang.

Phần trước của nhãn cầu đến giác mạc và bề mặt bên trong của mí mắt được bao phủ bởi màng nhầy – kết mạc. Khoang của nhãn cầu chứa đầy môi trường khúc xạ ánh sáng: thấu kính và nội dung của các khoang trước, sau và thủy tinh thể của mắt. Khoang trước của mắt là khoảng trống giữa giác mạc và mống mắt, khoang sau của mắt là khoảng trống giữa mống mắt và thấu kính. Chất lỏng trong buồng nuôi dưỡng các mô của mắt, loại bỏ các sản phẩm trao đổi chất, dẫn các tia sáng từ giác mạc đến ống kính. Ống kính là một cơ thể trong suốt dày đặc, có dạng thấu kính hai mặt (thay đổi bề mặt của nó) và nằm giữa mống mắt và cơ thể thủy tinh thể. Đây là cơ quan lưu trú. Với tuổi tác, ống kính trở nên kém đàn hồi. Khoang thủy tinh là khoảng trống giữa thấu kính và võng mạc, chứa đầy cơ thể thủy tinh (khối trong suốt, dạng gelatin bao gồm 98% nước). Chức năng của nó là duy trì hình dạng và tông màu của nhãn cầu, giữ ánh sáng và tham gia vào quá trình chuyển hóa nội nhãn.

Các cơ quan thứ cấp của mắt là mí mắt, bộ máy lệ, cơ mắt, quỹ đạo, quỹ đạo trước và fascia. Веки – это кожно-слизисто-мышечные складки. Они расположены впереди от глазного яблока и предохраняют глаза от механических повреждений. Во внутреннем углу глаза у собак есть небольшое утолщение конъюнктивы – слезный бугорок со слезным канальцем в центре, вокруг которого имеется небольшое углубление – слезное озеро. Третье веко – это мигательная перепонка, которая представляет собой полулунную складку конъюнктивы, расположенную на глазном яблоке во внутреннем углу век. Слезный аппарат – это слезные железы, канальцы, слезный мешок и носослезный проток.Các ống bài tiết của các tuyến lệ với số lượng 6-8 lớn và một số nhỏ mở ra trong kết mạc của thế kỷ. Bí mật bao gồm chủ yếu là nước, chứa enzyme lysozyme, có tác dụng diệt khuẩn. Khi mí mắt di chuyển, chất lỏng trong nước sẽ giữ ẩm và làm sạch kết mạc và tích tụ trong hồ nước. Từ đây, bí mật đi vào ống lệ, mở ra ở góc trong của mắt. Trên người họ một giọt nước mắt rơi vào túi lệ, từ đó ống mũi bắt đầu.

Các cơ mắt là bảy nằm bên trong periorbita. Chúng cung cấp sự chuyển động của nhãn cầu theo các hướng khác nhau trong quỹ đạo. Vị trí của nhãn cầu được gọi là quỹ đạo, và quỹ đạo là khu vực đặt mặt sau của nhãn cầu, dây thần kinh thị giác, cơ bắp, fascia, mạch và dây thần kinh.

Tầm nhìn của chó có những đặc điểm riêng. Con chó không thể nhìn thấy vật thể cùng một lúc bằng hai mắt, vì mỗi mắt có một góc nhìn riêng. Chó thiếu nhận thức màu sắc về thế giới, nhưng nó phân biệt rõ giữa các vật thể có hình dạng khác nhau.

Người bạn bốn chân của bạn có thể nhìn thấy chuyển động của các vật thể ở khoảng cách 250-300 m và hơn thế nữa.

Khiếm thính cân bằng hoặc máy phân tích âm tĩnh

Máy phân tích này bao gồm các thụ thể – cơ quan ốc tai trước cửa, các con đường và trung tâm não. Cơ quan ốc tai, hay tai, là một tập hợp các cấu trúc phức tạp, đảm bảo nhận thức về âm thanh, tín hiệu rung và lực hấp dẫn. Receptor nhận biết các tín hiệu này nằm trong tiền đình màng và ốc tai màng, xác định tên của cơ quan.

Tai (Hình.9) bao gồm tai ngoài, giữa và trong.

Tai ngoài – Đây là phần hấp thụ âm thanh của cơ quan bao gồm auricle, cơ bắp của nó và kênh thính giác bên ngoài. Các auricle là một nếp gấp da di động có hình phễu với tóc, cơ sở được hình thành bởi sụn đàn hồi. Ở chó, kích thước và hình dạng của vỏ có đặc điểm phả hệ đáng kể. Ở mép sau của vỏ với bề mặt bên trong của nó có một túi da. Cơ bắp rất nhiều và phát triển tốt. Họ thực hiện chuyển động của cực quang, biến nó thành nguồn âm thanh. Kênh thính giác bên ngoài phục vụ cho việc rung động âm thanh đến màng nhĩ và là một ống hẹp có độ dài khác nhau. Cơ sở của nó là sụn đàn hồi và một ống xương. Ở chó, kênh thính giác bên ngoài ngắn, góp phần vào sự chuyển đổi nhanh chóng của hệ vi sinh vật gây bệnh sang tai giữa.

Tai giữa – nó là một cơ quan âm thanh và biến đổi âm thanh của cơ quan tiền ốc tai, được đại diện bởi một khoang nhĩ với một chuỗi các thính giác trong đó. Khoang trống nằm ở phần nhĩ của xương đá. Trên bức tường phía sau của khoang này có hai lỗ mở hoặc cửa sổ: cửa sổ tiền đình, được đóng bởi một cánh khuấy và cửa sổ ốc tai, được đóng bởi một lớp màng bên trong. Trên bức tường phía trước có một lỗ dẫn vào lỗ thính giác trong cổ họng. Khoang trống của chó tương đối lớn. Màng nhĩ là một màng có thể co giãn yếu, dày khoảng 0,1 mm ngăn cách tai giữa với tai ngoài. Các hạt thính giác của tai giữa là malleus, incus, xương dạng thấu kính và cánh khuấy. Với sự trợ giúp của dây chằng và khớp, chúng được hợp nhất thành một chuỗi, với một đầu tựa vào màng nhĩ và đầu kia – chống lại cửa sổ tiền đình. Thông qua chuỗi các thính giác này, các rung động âm thanh được truyền từ màng nhĩ đến chất lỏng của tai trong, perilymph.

Chó cũng xác định vị trí nguồn âm thanh. Ví dụ, máy phân tích thính giác nhận thấy sóng âm thanh với tần số lên tới 40 nghìn rung động mỗi giây và tiếng sột soạt – ở khoảng cách 24 m. Các tín hiệu âm thanh khác nhau được sử dụng rộng rãi trong huấn luyện chó khi ra lệnh bằng giọng nói, tiếng huýt sáo và các nguồn âm thanh khác.

PHÂN TÍCH KÍCH THƯỚC, HOẶC HOẶC CƠ THỂ

Nó nằm ở độ sâu của khoang mũi, cụ thể là trong đường mũi nói chung, ở phần trên của nó, khu vực được lót bằng biểu mô khứu giác. Các tế bào của biểu mô khứu giác là khởi đầu của các dây thần kinh khứu giác, thông qua đó sự kích thích được truyền đến não. Ở chó, số lượng tế bào khứu giác khoảng 125 triệu. Mùi là khả năng động vật nhận biết một tính chất (mùi) nhất định của các hợp chất hóa học trong môi trường. Các phân tử của các chất có mùi, là tín hiệu về một số vật thể hoặc sự kiện trong môi trường, cùng với không khí đến các tế bào khứu giác khi chúng được hít qua mũi hoặc qua miệng (trong khi ăn qua chuối).

Chó có mức độ mùi cao, nhưng nó phụ thuộc trực tiếp vào tính cách và thể lực của con vật. Ví dụ, chó con sinh ra bị mù và điếc, nhưng với khứu giác tuyệt vời, trong những ngày đầu tiên giúp chúng điều hướng thế giới bên ngoài và chó săn ngửi thấy trò chơi ở khoảng cách 1 km. Khứu giác của con chó mạnh hơn 11,5 lần so với con người. Cảm giác về mùi giảm đi khi cơ thể mệt mỏi, với các quá trình viêm và teo trong màng nhầy của mũi và sưng, cũng như sự vi phạm của nó xảy ra khi hệ thống thần kinh trung ương bị ảnh hưởng, nơi các xung động từ các tế bào khứu giác đến. Quá mẫn cảm với mùi là hyperosmia, giảm – giảm âm, mất mùi – anosmia. Với tác dụng kéo dài của cùng các chất gây mùi, cơ quan khứu giác bắt đầu làm mờ cảm giác khứu giác, nhưng nếu bạn nghỉ ngơi, sự nhạy cảm với các chất gây mùi này được phục hồi trở lại.

PHÂN TÍCH HẤP DẪN, HOẶC CƠ THỂ

Hương vị là một phân tích về chất lượng của các chất khác nhau đi vào khoang miệng. Cảm giác vị giác phát sinh là kết quả của việc tiếp xúc với các giải pháp hóa học với các chất hóa học của chồi vị giác của lưỡi và niêm mạc miệng. Trong trường hợp này, có một cảm giác đắng, chua, mặn, ngọt hoặc hỗn hợp. Hương vị của trẻ sơ sinh thức dậy trước tất cả các cảm giác khác.

Các chồi vị giác chứa các củ vị giác với các tế bào thần kinh biểu mô và nằm ở bề mặt trên của lưỡi. Chúng có dạng ba loại – hình nấm, hình con lăn và hình chiếc lá. Thực phẩm khô không thể ảnh hưởng đến các tế bào thần kinh biểu mô của củ vị giác, đắm mình trong màng nhầy. Thức ăn được làm ẩm khi cây bị nghiền nát bởi độ ẩm, sự tiết ra của tuyến nước bọt, bao gồm cả dịch tiết do tuyến tiết ra trong thành của chồi vị giác. Thông tin về các hóa chất hòa tan kích thích các đầu dây thần kinh của dây thần kinh vận động. Các kích thích thần kinh kết quả dọc theo dây thần kinh vị giác được truyền đến vỏ não của bán cầu não, nơi tạo ra cảm giác của vị giác cơ bản. Cơ quan vị giác được sử dụng thành công trong việc huấn luyện chó (phương pháp kích thích vị giác).

PHÂN TÍCH DA HOẶC HOẶC THỰC HIỆN TỔ CHỨC

Chạm là khả năng của động vật để nhận thức các ảnh hưởng bên ngoài khác nhau. Nó được thực hiện bởi các thụ thể của da, hệ thống cơ xương (cơ, gân, khớp và những người khác), màng nhầy (môi, lưỡi và những người khác). Cảm giác xúc giác có thể rất đa dạng, vì nó phát sinh do nhận thức phức tạp về các tính chất khác nhau của một chất gây kích thích tác động lên da và mô dưới da. Thông qua liên lạc, hình dạng, kích thước, nhiệt độ, tính nhất quán của kích thích, vị trí và chuyển động của cơ thể trong không gian được xác định. Nó dựa trên sự kích thích của các cấu trúc đặc biệt – cơ chế, bộ điều nhiệt, thụ thể đau và sự chuyển đổi trong hệ thống thần kinh trung ương của các tín hiệu đến thành một loại nhạy cảm thích hợp. Ví dụ, cảm giác xúc giác được gây ra bởi sự kích thích của các chất cơ học nằm trong da ở một khoảng cách nào đó với nhau. Độ nhạy cao nhất được quan sát thấy ở động vật ở khu vực đầu và khu vực của các mảnh vụn của ngón tay. Vibrissae nhận thấy những rung động không khí nhỏ nhất. Cơn đau báo hiệu một mối nguy hiểm mới nổi và gây ra các phản ứng phòng thủ để đáp ứng với việc loại bỏ các chất kích thích sắc nhọn. Nhiều quá trình bệnh lý đi kèm với một phản ứng đau đớn, do đó, các phương pháp ngăn chặn các xung đau đã được phát triển trong y học thú y.

Máy phân tích da được sử dụng để huấn luyện chó.

Hệ tiêu hóa

Hệ thống tiêu hóa trao đổi các chất giữa cơ thể và môi trường. Thông qua các cơ quan tiêu hóa, tất cả các chất cần thiết được cung cấp cho cơ thể – protein, chất béo, carbohydrate, muối khoáng, vitamin và các chất khác – và một phần của các sản phẩm trao đổi chất và thức ăn khó tiêu được thải ra môi trường bên ngoài.

Đường tiêu hóa là một ống rỗng bắt đầu trong miệng và kết thúc ở hậu môn. Trong suốt chiều dài của nó, nó có các bộ phận chuyên biệt được thiết kế để di chuyển và đồng hóa thức ăn nuốt.

Bề mặt bên trong của đường tiêu hóa được lót bằng một màng nhầy bao gồm các tế bào biểu mô và cốc, nhà sản xuất của chất tiết nhầy. Trong suốt quá trình tiêu hóa, cấu trúc chính của thành của nó không đổi, nhưng tùy thuộc vào vị trí, các thay đổi trong màng nhầy được quan sát, được thiết kế để thực hiện các chức năng cụ thể. Bên dưới nó là một lớp mô dưới niêm mạc, được cung cấp dồi dào các mạch máu và dây thần kinh. Nó được bao quanh bởi các mô cơ trơn, bao gồm các vòng xoắn ốc bên trong và các sợi dọc bên ngoài. Trên toàn bộ đường tiêu hóa bao phủ màng huyết thanh. Ở một số nơi, các sợi cơ tròn dày lên và hình thành cơ vòng, đóng vai trò là cửa kiểm soát sự di chuyển của các cục thức ăn dọc theo đường tiêu hóa.

Các sợi cơ có thể tạo ra hai loại co thắt khác nhau: phân đoạn và nhu động (Hình 10).

Nhu động là để giảm các sợi cơ phía sau cục thức ăn và thư giãn chúng trước mặt anh ta. Kiểu co thắt này là cần thiết để di chuyển bolus thức ăn từ một phần của đường tiêu hóa sang phần khác.

Nuốt là một quá trình phức tạp chi phối bởi một số dây thần kinh sọ. Các vấn đề với việc nuốt là rất hiếm và thường được quy cho sự suy yếu trong bảo tồn dẫn đến quá trình nuốt không phối hợp. Đồng thời, con vật giảm cân do suy dinh dưỡng, và hít phải thức ăn không tiêu thụ có thể dẫn đến viêm phổi do hít phải.

Đường tiêu hóa bao gồm khoang miệng, hầu họng, thực quản, dạ dày, ruột nhỏ và lớn, trực tràng và hậu môn (hậu môn) (Hình 11). Thức ăn đi qua đường tiêu hóa với tốc độ 7,7 cm mỗi giờ, tức là 1,8 m mỗi ngày. Dư lượng chưa tiêu hóa được phân bổ trong 1,5 – 4 ngày. Thông thường, 100-300 g phân có độ đặc cao, màu nâu sẫm được giải phóng mỗi ngày.

CÁCH MOUTH

Nó bao gồm môi trên và dưới, má, lưỡi, răng, nướu, vòm miệng cứng và mềm, tuyến nước bọt, amidan, hầu họng.

Ngoại trừ thân răng, toàn bộ bề mặt bên trong của nó được bao phủ bởi một lớp màng nhầy.

Môi trên hợp nhất với mũi. Thông thường nó ẩm ướt và mát mẻ. Ở nhiệt độ cao, nó trở nên khô và ấm.

Môi và má được thiết kế để giữ thức ăn trong miệng và phục vụ như một ngưỡng của khoang miệng.

Lưỡi là một cơ quan di động cơ bắp nằm ở đáy khoang miệng và có một số chức năng: nếm thức ăn, tham gia vào quá trình nuốt, tạo thành một mứt mít khi uống. Từ trên nó được bao phủ bởi các quá trình filiform với vị giác.

Răng của chó được dùng để cắn và xé thức ăn nhiều hơn là để nhai, và cũng là vũ khí phòng thủ và tấn công. Thức ăn được nuốt trong các khối đã được đồng nhất hóa trong dạ dày.

Răng được chia thành răng cửa, răng nanh, răng hàm và răng hàm (Hình 12). Ngoại trưởng thứ tư và ngoại vi thứ nhất thấp hơn được dự định để cắn miếng thịt. Ở chó con, một vài tuần sau khi sinh, răng sữa mọc ra, ở độ tuổi 3-6 tháng được thay thế bằng những cái vĩnh viễn. Tất cả các răng đều đi qua giai đoạn sữa ngoại trừ răng hàm, là vĩnh viễn ngay từ đầu (Bảng 2).

Răng xác định tuổi của chó, có giá trị chẩn đoán (Hình 13).

Để xác định tuổi của chó có thể ở trong răng (Bảng 3).

Ở chó, sự thay đổi phả hệ của vết cắn của răng cửa được ghi nhận (vị trí của các cung răng và sự đóng cửa của chúng). Ở động vật có chiều dài đầu trung bình, răng cửa trên và dưới đối lập nhau (ghim, một số con chó), ở đầu dài (chó cừu, chó săn thỏ), răng cửa trên tiến về phía trước một chút so với răng cửa dưới và răng cửa ngắn (pugs, boxer) ở phía trước của răng cửa trên và răng nanh.

Chó công thức răng Xác định tuổi của chó trong răng

Nướu là nếp gấp của màng nhầy, che phủ hàm và củng cố vị trí của răng trong các tế bào xương. Vòm miệng cứng là vòm của khoang miệng và tách nó ra khỏi mũi, và vòm miệng mềm là sự tiếp nối của màng nhầy của vòm miệng cứng, nó nằm tự do trên biên của khoang miệng và hầu họng, ngăn cách chúng. Nướu, lưỡi và vòm miệng có thể bị nám không đều.

Một số tuyến nước bọt được ghép nối mở trực tiếp vào khoang miệng, tên của chúng tương ứng với nội địa hóa của chúng: parotid, mandibular, ngậm dưới lưỡi và zygomatic. Bí mật của các tuyến là kiềm, nó rất giàu bicarbonat, nhưng không chứa enzyme. Vai trò chính của nó là bôi trơn các cục thức ăn. Thiếu nước bọt dẫn đến khó nuốt: thức ăn có thể bị mắc kẹt trong cổ họng hoặc thực quản. Amidan là cơ quan của hệ bạch huyết và thực hiện chức năng bảo vệ trong cơ thể. Lối vào cổ họng được gọi là hầu họng.

Quá trình nuốt bắt đầu trong miệng với sự hình thành một cục thức ăn, nổi lên vòm miệng cứng bằng lưỡi và di chuyển về phía hầu họng.

Cổ họng là một khoang hình phễu, là một cấu trúc phức tạp. Nó kết nối khoang miệng với thực quản và khoang mũi với phổi. Ở chó, ranh giới của nó đạt đến cấp độ của đốt sống cổ thứ hai. Cổ họng, vòm họng, hai ống Eustachian, khí quản và thực quản mở trong hầu họng. Cổ họng được lót bằng màng nhầy và có cơ bắp mạnh mẽ.

Các cục thức ăn trong cổ họng được phát hiện bởi các thụ thể cảm giác nằm trong phần này. Рефлекторно происходит закрытие носоглотки путем поднятия мягкого неба, при этом евстахиевы трубы и гортань закрываются надгортанником. Глоточные мышцы сокращаются, при этом сфинктер пищевода расслабляется, и пищевой комок попадает в пищевод.

Пищевод представляет собой мышечную трубку, через которую пища транспортируется из глотки в желудок. Его почти полностью образуют скелетные мышцы. Кольцевидноглоточный сфинктер, находящийся на краниальном (ближе к голове) конце пищевода, отвечает за пропуск пищи из глотки. Ở đầu xa của thực quản (xa phần trên) không có cơ thắt mỗi se, nhưng lỗ tim của dạ dày có khả năng tạo ra khá nhiều áp lực, giúp làm giảm trào ngược của nội dung dạ dày. Thực quản trống là một ống thu nhỏ với các nếp gấp dọc. Màng nhầy chứa nhiều tế bào cốc tiết ra một lượng lớn chất nhầy giúp bôi trơn thức ăn trong quá trình nuốt.

Sau khi co thắt cơ họng, cơ thắt hầu họng thư giãn và khối thức ăn đi vào thực quản. Điều này dẫn đến sự di chuyển nhu động chính của khối u xuống thực quản vào dạ dày. Sóng nhu động thứ hai thường được quan sát thấy trong một thực quản hoàn toàn trống rỗng.

Thực quản của chó có thể đưa thức ăn từ dạ dày vào miệng (nôn). Việc mở cơ quan này trong dạ dày tương đối dễ mở.

Dạ dày là sự tiếp tục trực tiếp của thực quản. Nó nằm ở phía trước khoang bụng (nhiều hơn ở vùng hạ vị bên trái) và tiếp giáp với cơ hoành và gan. Dạ dày đóng vai trò là một kho chứa thức ăn bị nuốt. Nó bắt đầu quá trình tiêu hóa. Trong dạ dày có thể được chia thành nhiều khu vực: lỗ tim – phần nhỏ nhất mà thực quản mở ra, đáy dạ dày – hồ chứa thức ăn cổng hangmôn vị– một loại máy nghiền nghiền thức ăn nuốt vào chyme (nội dung của ruột non). Các nội dung của dạ dày trong một số phần nhất định đi qua môn vị vào tá tràng. Khi dạ dày trống rỗng, màng nhầy tập hợp thành các nếp gấp dưới tác động của các sợi cơ đàn hồi. Các nếp gấp được làm thẳng khi chứa đầy thức ăn. Màng nhầy của dạ dày bao gồm các tế bào biểu mô và ống hình trụ, được cập nhật tại các trung tâm đặc biệt nằm trong các hố dạ dày. Các tế bào thành phần nằm ở trung tâm của hố dạ dày tiết ra axit hydrochloric và các tế bào chính nằm ở đáy hố tạo ra enzyme pepsinogen.

Hàng rào niêm mạc dạ dày được thiết kế để bảo vệ dạ dày khỏi các chất kích thích nuốt, axit hydrochloric và pepsin. Rào chắn này bao gồm một lớp chất nhầy bao phủ biểu mô, bản thân các tế bào biểu mô và một mô dưới niêm mạc giàu mạch máu. Ngoài hàng rào bảo vệ vật lý, chất nhầy còn chứa phospholipid có đặc tính kỵ nước bổ sung cho hoạt động của chất ức chế pepsin và đóng vai trò đệm axit hydrochloric. Vi phạm hàng rào bảo vệ dẫn đến viêm (viêm dạ dày) và loét niêm mạc dạ dày (loét) sau đó. Quá trình tiêu hóa trở nên đau đớn.

Con vật có thể bắt đầu nôn sau khi ăn, thú cưng cũng có thể từ chối ăn do thiếu thèm ăn, sau đó sẽ dẫn đến giảm cân.

Sự xuất hiện, mùi và vị của thức ăn cùng với sự hiện diện của nó trong dạ dày kích thích giải phóng axit hydrochloric và pepsinogen. Với sự hiện diện của axit hydrochloric, pepsinogen được chuyển thành pepsin hoạt động, nhanh chóng bị bất hoạt bằng cách giảm độ pH. Điều này xảy ra một cách tự nhiên, khi nội dung dạ dày đi vào tá tràng, nơi bicarbonat tụy trung hòa axit dạ dày. Axit clohydric và pepsin bắt đầu quá trình tiêu hóa thức ăn bằng cách thủy phân protein và tinh bột, và lipase – chất béo. Nhiệt độ cơ thể cao ức chế sự giải phóng các enzyme. Do đó, vào mùa hè, chó ăn chủ yếu vào thời gian mát mẻ trong ngày. Hoạt động cao nhất của enzyme – cho bánh mì, sữa và thịt.

Có một máy tạo nhịp tim trong dạ dày tạo ra năm sóng chậm mỗi phút. Ba loại chuyển động dạ dày đã được xác định:

* tiêu hóa – nó đến sau khi nuốt thức ăn Đây là những lần giảm chậm liên tiếp ở sàn dạ dày, đẩy thức ăn đến môn vị, nơi thức ăn được nghiền và tiết ra chất lỏng qua môn vị,

* trung cấp – nó xảy ra sau khi tiêu hóa thức ăn trong dạ dày, sau một thời gian chuyển tiếp của các cơn co thắt dạ dày giảm,

* không tiêu hóa – đây là những cơn co thắt nhu động rỗng của toàn bộ dạ dày trống rỗng, được thiết kế để di chuyển các nội dung còn lại vào tá tràng.

Thức ăn đặc, được nghiền thành chyme, được gửi đến tá tràng theo một thứ tự nhất định: đầu tiên, chất lỏng, sau đó là protein và carbohydrate, sau đó – chất béo. Chất không tiêu hóa vẫn còn trong dạ dày. Thực phẩm giàu calo làm giảm tốc độ làm rỗng dạ dày, và ngược lại, thực phẩm ít calo được tiêu hóa và loại bỏ khỏi dạ dày nhanh hơn. Thức ăn vào dạ dày của chó sau khi lấy thức ăn trong nửa giờ và ở đó 6-8 giờ.

Chiều dài ruột tuyệt đối của chó là 2,3-7,3 mét. Tỷ lệ chiều dài cơ thể với chiều dài của nó là 1: 5.

Có ruột mỏng và dày.

Ruột non

Nó bắt đầu ở mức độ môn vị của dạ dày và được chia thành ba phần chính: loét tá tràng (phần đầu tiên và ngắn nhất của ruột non, trong đó ống dẫn mật và ống tụy đi vào, chiều dài của phần này của ruột non ở chó là 29 cm) ) và hồi tràng. Tuyến tụy (nặng 10 – 100 g) có hình dạng giống như dải ruy băng nằm ở vùng dưới cùng bên phải và tiết ra vài lít dịch tụy mỗi ngày vào tá tràng, chứa các enzyme phá vỡ protein, carbohydrate, chất béo và cả insulin nội tiết tố, điều chỉnh lượng đường trong máu. Gan với túi mật ở chó nằm ở vùng dưới cùng bên phải và bên trái, và máu chảy qua tĩnh mạch cửa từ dạ dày, lá lách và ruột đi qua và được lọc qua nó. Gan sản xuất mật, giúp chuyển đổi chất béo để hấp thụ vào các mạch máu của thành ruột.

Niêm mạc ruột là chuyên biệt hơn cho việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn. Các tế bào biểu mô lót bề mặt bên trong của ruột non được gọi là tế bào ruột. Màng nhầy được tập hợp thành các nếp gấp, được gọi là nhung mao. Mỗi biệt thự được cung cấp tốt các mạch máu và có một mạch bạch huyết chết. Những mạch này vận chuyển các chất dinh dưỡng hấp thụ từ ruột non đến gan và các bộ phận khác của cơ thể. Tá tràng có cấu trúc tương đối xốp và có thể giải phóng một khối lượng lớn chất lỏng vào trong lòng. Mức độ thẩm thấu giảm tương ứng trong jejunum và hồi tràng và ruột già, nơi chỉ có sự tái hấp thu của chất lỏng. Vì vậy, có một sự bảo quản chất lỏng trong cơ thể và phòng ngừa tiêu chảy.

Phần chính của protein được tiêu hóa ở ruột non thành axit amin dưới tác dụng của các enzyme tuyến tụy. Chúng được hấp thụ trong tế bào ruột bằng các chất mang cụ thể, và sau đó được vận chuyển đến gan qua tĩnh mạch cửa. Carbonhydrate (chó lấy lượng carbohydrate chính dưới dạng tinh bột) bị phân hủy trong ruột non thành glucose và các monosacarit khác dưới tác dụng của các enzyme tuyến tụy. Trong tế bào ruột, glucose được giải phóng nhanh chóng vào máu và được vận chuyển đến gan thông qua tĩnh mạch cửa. Chất béo trong chế độ ăn uống chủ yếu bao gồm triglyceride, có thể dễ dàng bị phá vỡ do tác dụng của muối mật với glycerol và axit béo và được hấp thụ, và cholesterol và phospholipid có thể được tiêu hóa bởi chó, nhưng không hiệu quả. Nó xảy ra dưới ảnh hưởng của mật bài tiết qua gan và được lưu trữ trong túi mật. Do thành tế bào của enterocytes bao gồm lipid, quá trình hấp thụ xảy ra một cách thụ động và thường đi kèm với sự hấp thụ vitamin hòa tan trong chất béo. Bên trong tế bào ruột, các axit béo được chuyển đổi thành triglyceride và được gắn vào lipoprotein, tạo thành chylomicron, được bài tiết trong ống dẫn sữa để vận chuyển đến hệ tuần hoàn chính và theo đó, đến gan và các mô khác.

Do đó, bất kỳ trục trặc nào của ruột non (ví dụ, nhiễm rotavirus) đều có thể gây ra tiêu chảy và chán ăn (mất hoặc không thèm ăn) do đánh bại đỉnh của nhung mao do virus enterocyte). Thực phẩm tiêu hóa tốt là cần thiết để giảm chi phí enzyme và tăng diện tích hấp thụ, đồng thời đạt được mức độ hấp thụ chất dinh dưỡng tốt. Ăn một lượng nhỏ thức ăn không làm quá tải khả năng suy giảm và hấp thụ của ruột và giảm nguy cơ tiêu chảy.

Ruột già

Phần ruột này bao gồm mù (chiều dài của nó là 6-12 cm, nằm dưới đốt sống thắt lưng 2-4 và được truyền thông rộng rãi với đại tràng), đại tràng (nằm ở vùng thắt lưng và tạo thành hình vòng cung) và thẳng (nằm ở mức 4 – Xương đốt sống thứ 5, có cấu trúc cơ bắp mạnh mẽ) ruột. Không có nhung mao trên màng nhầy của ruột già. Có các loại tinh bột – trầm cảm, nơi đặt các tuyến ruột nói chung, nhưng có rất ít tế bào trong đó tiết ra các enzyme. Trong biểu mô trụ của màng nhầy có nhiều tế bào cốc tiết ra chất nhầy. Trong ruột lớn khối phân được hình thành.

Trong ruột già, sự thủy phân cuối cùng của các chất dinh dưỡng xảy ra với sự trợ giúp của các enzyme đường ruột và enzyme vi sinh vật. Hoạt động tích cực nhất của hệ vi sinh đường ruột được ghi nhận ở đại tràng: sự hấp thụ nước và chất điện giải, cần thiết cho sự hình thành khối phân và ngăn ngừa mất nước của cơ thể, quá trình lên men của thực phẩm với lượng vi khuẩn dồi dào (từ dư lượng thức ăn giàu nitơ, vi khuẩn tạo ra lượng ammoniac tĩnh mạch cửa đi vào gan, nơi nó được xử lý thành urê, được đào thải qua thận). Do các cơn co thắt nhu động mạnh, các thành phần còn lại của ruột già qua đại tràng giảm dần đi vào đường thẳng, nơi xảy ra sự tích tụ phân. Sự bài tiết phân ra môi trường xảy ra qua ống hậu môn (hậu môn). Hậu môn có hai cơ vòng: một cơ sâu từ các sợi cơ trơn và một cơ ngoài – từ cơ vân. Những con chó ở hai bên của nó có hai vết lõm – xoang phải và trái, trong đó các tuyến paranal mở ra, phát ra một bí mật dày, phát ra một mùi đặc biệt.

Vì vậy, một khi trong miệng, thức ăn được nghiền và cắt nhỏ, thay vì nhai. Sau đó, nó được làm ẩm bằng nước bọt và qua hầu họng và thực quản vào dạ dày, nơi quá trình phân hủy của nó thành các chất đơn giản hơn bắt đầu. Hấp thụ chất dinh dưỡng trong ruột, và các mảnh vụn thức ăn chưa tiêu hóa, chủ yếu là cellulose, bị tống ra ngoài qua trực tràng.

Hệ hô hấp

Hệ thống này cung cấp oxy cho cơ thể và loại bỏ carbon dioxide, nghĩa là trao đổi khí giữa không khí và máu trong khí quyển. Ở động vật nuôi, trao đổi khí xảy ra trong phổi, nằm trong ngực. Sự co thắt xen kẽ của ống hít và cơ hô hấp dẫn đến sự giãn nở và co bóp của ngực, và với nó là phổi. Điều này đảm bảo rằng không khí được hút vào qua đường thở đến phổi và được đẩy ra ngoài. Các cơn co thắt cơ hô hấp được kiểm soát bởi hệ thống thần kinh.

Trong quá trình đi qua đường thở, không khí hít vào được làm ẩm, làm ấm, làm sạch bụi và cũng được kiểm tra mùi bằng cách sử dụng khứu giác. Với không khí thở ra từ cơ thể sẽ loại bỏ một phần nước (dưới dạng hơi nước), nhiệt dư, một số khí. Trong đường dẫn khí (thanh quản) âm thanh được tái tạo.

Cơ quan hô hấp được đại diện bởi mũi và khoang mũi, thanh quản, khí quản và phổi.

NĂNG LƯỢNG VÀ NẮM

Mũi và miệng ở động vật tạo nên phần phía trước của đầu – mõm. Mũi chứa các khoang mũi được ghép nối, đó là phần ban đầu của đường thở. Trong khoang mũi, không khí hít vào được kiểm tra mùi, được làm nóng, làm ẩm và làm sạch các tạp chất. Khoang mũi giao tiếp với môi trường bên ngoài thông qua lỗ mũi, với hầu họng thông qua choans, với túi kết mạc thông qua ống mũi-mũi và cũng với xoang cạnh mũi. Trên mũi có một phần trên, lưng, phần bên và gốc. Trên cùng có hai lỗ – lỗ mũi. Khoang mũi được chia bởi vách ngăn mũi thành các phần bên phải và bên trái. Cơ sở của phân vùng này là sụn hyaline.

Các xoang cạnh mũi giao tiếp với khoang mũi. Các xoang cạnh mũi là các khoang chứa đầy không khí và niêm mạc giữa các tấm bên ngoài và bên trong của một số xương phẳng của hộp sọ (ví dụ, xương phía trước). Do thông điệp này, các quá trình viêm từ niêm mạc mũi có thể dễ dàng lan đến xoang, làm phức tạp quá trình bệnh.

Thanh quản là một phần của ống hô hấp, nằm giữa hầu họng và khí quản. Con chó ngắn và rộng. Cấu trúc đặc biệt của thanh quản cho phép nó thực hiện, ngoài việc mang không khí và các chức năng khác. Nó cô lập đường thở khi nuốt thức ăn, hỗ trợ khí quản, hầu họng và bắt đầu thực quản, phục vụ như một cơ quan phát âm. Bộ xương của thanh quản được hình thành bởi năm sụn được kết nối với nhau một cách di chuyển, trên đó các cơ của thanh quản và hầu họng được gắn vào. Đây là một sụn hình vòng, phía trước và bên dưới là sụn tuyến giáp, phía trước và trên cùng là hai sụn hình sẹo, và bên dưới sụn chêm. Khoang thanh quản được lót bằng màng nhầy. Giữa quá trình giọng nói của sụn giống như sẹo và cơ thể của sụn tuyến giáp, một nếp gấp ngang đi qua bên phải và bên trái – cái gọi là môi thanh âm, chia khoang thanh quản thành hai phần. Nó chứa dây thanh âm và cơ thanh âm. Khoảng trống giữa môi phải và trái được gọi là glottis. Đôi môi căng thẳng trong khi thở ra được tạo ra và âm thanh quy định. Ở chó, môi phát âm rất lớn, cho phép thú cưng bốn chân của bạn tạo ra những âm thanh khác nhau.

Khí quản phục vụ để đưa không khí vào phổi và trở lại. Đó là một ống có một ống thông liên tục, được đảm bảo bởi các vòng sụn hyaline được mở từ trên cao trên tường của nó. Bên trong khí quản được lót bằng màng nhầy. Nó kéo dài từ thanh quản đến đáy tim, nơi nó được chia thành hai phế quản, tạo thành nền của rễ phổi. Nơi này, xảy ra ở cấp độ của xương sườn thứ 4, được gọi là phân nhánh khí quản.

Chiều dài của khí quản phụ thuộc vào chiều dài của cổ, và do đó số lượng sụn ở chó thay đổi từ 42 đến 46.

Đây là những cơ quan chính của hô hấp, trực tiếp trong đó trao đổi khí xảy ra giữa không khí hít vào và máu qua bức tường mỏng ngăn cách chúng. Để đảm bảo trao đổi khí đòi hỏi một khu vực tiếp xúc lớn giữa khí nén và máu. Theo đó, đường dẫn khí của phổi – phế quản – giống như một cái cây liên tục phân nhánh đến các tiểu phế quản (phế quản nhỏ) và kết thúc với nhiều túi phổi nhỏ – alveoli, tạo thành nhu mô phổi (nhu mô là một bộ phận đặc biệt của cơ quan). Các mạch máu phân nhánh song song với phế quản và một mạng lưới mao mạch dày bao bọc phế nang, nơi diễn ra trao đổi khí. Do đó, thành phần chính của phổi là đường thở và mạch máu.

Các mô liên kết kết hợp chúng thành một cơ quan nhỏ gọn ghép nối – phổi phải và phổi trái. Phổi phải lớn hơn một chút so với bên trái, vì tim nằm giữa phổi bị dịch chuyển sang trái (Hình 14). Trọng lượng phổi tương đối – 1,7% so với trọng lượng cơ thể.

Phổi nằm trong khoang ngực, liền kề với thành của nó. Kết quả là, chúng có hình dạng của một hình nón bị cắt cụt, phần nào bị nén từ hai bên. Mỗi phổi với các vết nứt interlobar sâu được chia thành các thùy: một bên trái thành ba, và bên phải thành bốn.

Tần suất chuyển động hô hấp ở chó phụ thuộc vào tải trọng trên cơ thể, tuổi, sức khỏe, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường.

Thông thường, số lần thở và thở (thở) ở một con chó khỏe mạnh rất khác nhau: từ 14 đến 25-30 mỗi phút. Độ rộng phạm vi này phụ thuộc vào một số yếu tố. Vì vậy, chó con thở thường xuyên hơn chó trưởng thành, vì quá trình trao đổi chất của chúng hoạt động mạnh hơn. Ở chó cái, hơi thở phổ biến hơn ở con đực. Chó mang thai hoặc cho con bú thở thường xuyên hơn so với không mang thai. Tần suất thở cũng có thể bị ảnh hưởng bởi giống chó, trạng thái cảm xúc và kích thước của con chó cũng ảnh hưởng đến nó. Những con chó thuộc giống nhỏ thường thở nhiều hơn những con lớn: chó lùn, cằm Nhật Bản thở 20-25 lần mỗi phút và Airedale Terrier – 10-14 lần. Điều này là do tốc độ khác nhau của quá trình trao đổi chất, và do đó, mất nhiệt nhiều hơn.

На процесс дыхания влияют также время дня и время года. Ночью в состоянии покоя собака дышит реже. Летом при жаркой погоде, а также в душных помещениях с повышенной влажностью дыхание учащается. Зимой дыхание у собак в состоянии покоя ровное и незаметное.

Мышечная работа резко учащает дыхание собаки. Определенное значение имеет и фактор возбудимости животного. Появление незнакомого человека, новая обстановка могут послужить причиной учащенного дыхания.

Система органов мочевыделения

Các cơ quan này được thiết kế để bài tiết từ cơ thể (từ máu) ra môi trường bên ngoài của các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất dưới dạng nước tiểu và để kiểm soát cân bằng nước-muối của cơ thể. Ngoài ra, các hormone điều chỉnh sự hình thành máu (hemopoietin) và huyết áp (renin) được hình thành trong thận. Do đó, việc vi phạm các chức năng của cơ quan tiết niệu dẫn đến các bệnh nghiêm trọng và thường dẫn đến cái chết của động vật.

Các cơ quan tiết niệu bao gồm thận và niệu quản ghép nối, bàng quang và niệu đạo không ghép đôi. Trong các cơ quan chính – thận liên tục hình thành nước tiểu, được bài tiết qua niệu quản vào bàng quang và, khi nó được lấp đầy, được bài tiết qua niệu đạo. Vào ban ngày, một con chó trưởng thành của giống nhỏ phát ra 0,04 0,000 lít nước tiểu và một con chó trưởng thành của các giống chó vừa và lớn – từ 0,5 đến 1,5 lít. pH nước tiểu dao động từ 4,8 đến 6,5, tùy thuộc vào việc cho ăn. Ở nam giới, kênh này cũng tiến hành các sản phẩm tình dục và do đó được gọi là urinogenital. Ở nữ giới, niệu đạo mở vào đêm trước của âm đạo.

Thận là cơ quan có mật độ dày đặc màu nâu đỏ, nhẵn, bao phủ từ bên ngoài với ba lớp vỏ: xơ, béo, huyết thanh. Chúng nằm ở vùng thắt lưng dưới 3 đốt sống thắt lưng đầu tiên. Đây là những cơ quan khá lớn, cùng bên phải và trái, có hình dạng hạt đậu, hơi dẹt. Gần giữa lớp bên trong, các mạch và dây thần kinh đi vào thận, và niệu quản đi vào. Nơi này được gọi là cổng thận. Trên vết mổ của từng quả thận, vỏ não, hoặc nước tiểu, não hoặc nước tiểu rút và các khu vực trung gian được phân biệt (Hình 15). Vùng vỏ não tối hơn và nằm trên bề mặt. Vùng não nhẹ hơn, nằm ở trung tâm của thận và giống hình kim tự tháp. Đỉnh của kim tự tháp tạo thành nhú thận, một trong những con chó. Một khu vực trung gian nằm giữa các khu vực này dưới dạng một dải tối, nơi có thể nhìn thấy các động mạch vòng cung, từ đó các động mạch nội bào được phân tách về phía vùng vỏ não. Dọc theo sau là các tiểu thể thận, bao gồm một cầu thận – cầu thận (cầu thận mạch máu), được hình thành bởi các mao mạch của động mạch mang và nang. Cơ thể thận cùng với ống lượn và các mạch của nó tạo thành đơn vị chức năng cấu trúc của thận, nephron. Trong tử cung thận của nephron, chất lỏng – nước tiểu chính – được lọc từ máu của cầu thận mạch máu vào khoang của viên nang. Trong quá trình nước tiểu chính đi qua ống nephron bị co thắt trở lại vào máu, hầu hết (tới 99%) nước và một số chất không thể loại bỏ khỏi cơ thể, như đường, được hấp thụ. Điều này giải thích số lượng lớn nephron và chiều dài của chúng. Sau đó, nước tiểu chính đi vào ống trực tiếp và trực tiếp vào khung thận (chó thiếu cốc thận), nằm ở cửa thận, từ đó nước tiểu thứ cấp đi vào niệu quản.

ĐÔ THỊ

Niệu quản là một cơ quan ghép hình ống điển hình: thành của nó được hình thành bởi ba vỏ. Đường kính của nó là nhỏ. Niệu quản bắt đầu từ khung chậu thận, và được bao phủ bởi phúc mạc, được dẫn vào khoang chậu, nơi nó chảy vào bàng quang. Trong thành bàng quang, anh ta tạo một vòng nhỏ ngăn không cho nước tiểu từ bàng quang trở về niệu quản, mà không cản trở dòng nước tiểu từ thận đến bàng quang.

BUBBL ĐÔ THỊ

Bàng quang là nơi chứa nước tiểu liên tục chảy ra từ thận và được đào thải định kỳ qua niệu đạo. Nó là một túi màng có hình quả lê. Nó phân biệt đỉnh đối diện với khoang bụng, cơ thể và hướng đến cổ chậu. Ở cổ của các cơ bàng quang tạo thành một cơ vòng, ngăn không cho nước tiểu thoát ra ngoài. Bàng quang trống rỗng nằm ở đáy khoang chậu, và trong trạng thái đầy, nó bị treo một phần vào khoang bụng.

KÊNH ĐÔ THỊ, HOẶC ĐÔ THỊ

Cơ quan này phục vụ để loại bỏ nước tiểu từ bàng quang và là một ống của màng nhầy và cơ bắp. Đầu bên trong của niệu đạo bắt đầu từ cổ bàng quang, và lỗ mở bên ngoài mở ra ở nam giới ở đầu dương vật, và ở nữ giới ở biên giới giữa âm đạo và tiền đình. Một phần tốt của niệu đạo dài của nam giới là một phần của dương vật, và do đó, ngoài nước tiểu, nó loại bỏ các sản phẩm tình dục.

Trung tâm tiểu tiện nằm ở vùng thắt lưng của tủy sống và có kết nối với não. Kết nối này cho phép kiểm soát ý chí của việc làm trống bàng quang.

Hệ thống cơ quan sinh sản

Hệ thống các cơ quan sinh sản được kết nối chặt chẽ với tất cả các hệ thống của cơ thể, đặc biệt là các cơ quan bài tiết (hai hệ thống này có một ống cuối cùng và vi trùng chung của một số cơ quan khác). Chức năng chính của nó – sự tiếp tục của hình thức.

Bộ phận sinh dục của con đực (con đực) và con cái (chó cái) là khác nhau, vì vậy chúng tôi xem xét từng hệ thống riêng biệt.

Cơ quan sinh dục của con đực

Cơ quan sinh dục của nam giới được đại diện bởi các cơ quan ghép nối: tinh hoàn (tinh hoàn) với phần phụ, ống hạt và dây sinh tinh, tuyến sinh dục phụ kiện và các cơ quan không ghép đôi: bìu, ống niệu sinh dục, dương vật và chuẩn bị.

Cây giống – cơ quan sinh dục chính của con đực, trong đó sự phát triển và trưởng thành của tinh trùng. Nó cũng là một tuyến nội tiết – nó sản xuất hormone sinh dục nam – tinh trùng. Tinh hoàn có hình trứng, được treo trên dây tinh trùng và nằm trong khoang của phần nhô ra của thành bụng – bìu. Kết nối chặt chẽ với nó là phần phụ của nó, là một phần của ống bài tiết. Trong phần phụ lục, các tế bào tinh trùng trưởng thành có thể được giữ cố định trong một thời gian khá dài, chúng được cung cấp dinh dưỡng trong giai đoạn này và khi động vật giao phối với các cơn co thắt nhu động của cơ ruột thừa, chúng sẽ được phóng thích vào cơ thể. Phần phụ có đầu, thân và đuôi.

Ở nam giới, tinh hoàn tương đối nhỏ và phần phụ được phát triển cao: đầu và đuôi của nó dày như nhau.

Bìu là nơi chứa tinh hoàn và phần phụ của nó, là phần nhô ra của thành bụng. Nhiệt độ của nó thấp hơn trong khoang bụng, tạo điều kiện cho sự phát triển của tinh trùng. Ở nam giới, bìu nằm gần hậu môn. Da của cơ quan này được bao phủ bởi lông mịn, có mồ hôi và tuyến bã nhờn. Màng đàn hồi cơ nằm dưới da và hình thành vách ngăn bìu, do đó khoang nội tạng được chia thành hai phần. Cơ bắp của bìu cung cấp kéo tinh hoàn lên ống bẹn ở nhiệt độ bên ngoài thấp.

Các ống dẫn chậm, hoặc ống dẫn tinh

Ống hạt là sự tiếp nối của ống dẫn tinh dịch dưới dạng một ống hẹp gồm ba vỏ. Nó bắt đầu từ phần đuôi của phần phụ. Là một phần của dây sinh tinh, nó đi qua ống bẹn vào khoang bụng, và từ đó vào xương chậu, nơi nó tạo thành một ống. Đằng sau cổ bàng quang, xuất tinh kết nối với ống dẫn tinh vào ống phóng tinh ngắn, mở ra ở đầu ống niệu sinh dục.

Kênh sinh dục hoặc niệu đạo nam

Phục vụ cho bài tiết nước tiểu và tinh trùng. Nó bắt đầu bằng việc mở niệu đạo từ cổ bàng quang và kết thúc bằng việc mở niệu đạo bên ngoài ở đầu dương vật. Phần ban đầu, rất ngắn của niệu đạo – từ cổ tử cung đến nơi hợp lưu của ống phóng tinh – chỉ có nước tiểu. Thành của niệu đạo nam được hình thành bởi một màng nhầy, một lớp xốp và một lớp cơ. Mucosa được tập hợp trong các nếp gấp. Lớp xốp có một mạng lưới các tĩnh mạch với phần mở rộng – lacunae. Khi lớp xốp chứa đầy máu, niêm mạc niệu đạo sẽ mở ra và tinh trùng chảy ra.

Dương vật hoặc dương vật

Dương vật thực hiện chức năng đưa tinh trùng của chó vào bộ phận sinh dục của chó cái, cũng như bài tiết nước tiểu. Nó bao gồm cơ thể hang của dương vật và phần tình dục (udovoy) của kênh niệu sinh dục.

Trên dương vật phân biệt gốc, thân và đầu. Rễ và cơ thể được bao phủ bằng da từ bên dưới, phần sau kéo dài đến đầu, tạo thành một nếp gấp trong quá trình chuyển đổi sang nó – bao quy đầu hoặc bao quy đầu.

Trong quá trình hưng phấn tình dục, các khoang của dương vật chứa đầy máu, kết quả là dương vật dài ra, dày lên và trở nên dày đặc, nghĩa là nó đến trạng thái cương cứng.

Trong trường hợp không ở trạng thái không cương cứng, dương vật chuẩn bị che kín hoàn toàn đầu của nó, bảo vệ nó khỏi bị hư hại. Nó được kéo qua dương vật của Glans với sự trợ giúp của cơ sọ trước và được kéo bởi máy rút dương vật.

Ở chó, đầu dương vật dài, hình trụ. Niệu đạo mở ra ở cuối đầu. Dưới chân đầu là xương. Chiều dài của nó ở những con chó lớn đạt 8-10 cm.

Lượng tinh trùng do chó tiết ra thay đổi khoảng 15 ml. Trong 1 mm 3 tinh trùng có khoảng 6000 tinh trùng. Bên trong tử cung tinh trùng tồn tại trong 8-12 giờ.

Sau khi chó con được sinh ra, khối lượng tuyệt đối của tinh hoàn tăng lên trong 6 tháng đầu đời khoảng 16-17 lần, khối lượng của các tuyến tình dục phụ kiện tăng lên, đặc biệt là ở tuổi dậy thì.

Sự trưởng thành về tình dục và sinh lý là khả năng của động vật sinh ra con cái. Nó được đặc trưng bởi sự giải phóng tinh trùng ở chó, sự hình thành của hormone giới tính, gây ra sự phát triển của các đặc điểm tình dục thứ cấp. Trưởng thành tình dục và sinh lý xảy ra trong 6-8 tháng.

Cơ quan tình dục

Cơ quan sinh sản của con cái bao gồm các cơ quan được ghép nối: buồng trứng, ống dẫn trứng và không ghép đôi: tử cung, âm đạo, tiền đình của âm đạo và cơ quan sinh dục ngoài (Hình 17).

Buồng trứng là một cơ quan hình bầu dục trong đó các tế bào sinh dục nữ phát triển – trứng, cũng như các hormone giới tính nữ được hình thành. Trên buồng trứng, có hai đầu: ống dẫn trứng và tử cung. Phễu của ống tử cung được gắn vào đầu ống và với ống tử cung – dây chằng riêng của buồng trứng. Hầu hết buồng trứng được bao phủ bởi một biểu mô trước, dưới đó có một khu vực nang trứng, nơi các nang trứng phát triển với trứng được bao bọc trong đó. Thành của nang trứng trưởng thành vỡ ra, và dịch nang, cùng với tế bào trứng, chảy ra. Khoảnh khắc này được gọi là rụng trứng. Thay vì một nang vỡ, một hoàng thể được hình thành, nó tiết ra một loại hormone ức chế sự phát triển của các nang mới. Trong trường hợp không có thai, cũng như sau khi sinh con, hoàng thể được hấp thụ.

Con chó có buồng trứng nhỏ và nằm ngay sau thận trong khu vực của đốt sống thắt lưng thứ 3-4.

Ống dẫn trứng hoặc ống trứng

Ống dẫn trứng là một ống hẹp, cong mạnh nối với sừng tử cung. Nó đóng vai trò là nơi thụ tinh của trứng, dẫn trứng được thụ tinh đến tử cung, được thực hiện cả bằng sự co bóp của lớp cơ của ống dẫn trứng và bởi sự di chuyển của lông mao của biểu mô bị cắt dọc theo ống dẫn trứng. Đầu trước của ống dẫn trứng được mở rộng dưới dạng phễu và mở vào khoang bụng. Các cạnh không đều của phễu được gọi là rìa, nơi trứng trưởng thành có được. Ống tử cung mở cửa tử cung.

Hình. 17. Cơ quan sinh dục của con cái từ bề mặt lưng của chó: 1 – buồng trứng, 2 – ống dẫn trứng, 3 – sừng tử cung, cơ thể 4 – tử cung, 5 – cổ tử cung, 6 – mở ngoài tử cung, 7 – âm đạo, 8 – bao quy đầu âm đạo, 9 – nếp gấp tiền đình-âm đạo, 10 – mở ngoài niệu đạo, 11 – tiền đình tiền đình, 12 – tuyến trước nhỏ, 13 – âm vật, 14 – labia, 15 – bàng quang

Ở chó, chiều dài của ống dẫn trứng là 4-10 cm.

Đây là một cơ quan có màng rỗng trong đó thai nhi phát triển. Trong quá trình chuyển dạ, sau đó được đẩy ra khỏi tử cung qua kênh sinh ra bên ngoài. Trong tử cung, sừng, cơ thể và cổ được phân biệt. Sừng trên đỉnh bắt đầu từ ống dẫn trứng, và bên dưới chúng phát triển cùng nhau trong cơ thể. Tử cung đi vào ống hẹp của cổ tử cung mở vào âm đạo. Cơ thể và cổ của tử cung không mang thai nằm trong khoang chậu, bên cạnh bàng quang và sừng treo trong khoang bụng. Toàn bộ tử cung nằm trong khoang bụng, chủ yếu ở bên phải.

Chó có sừng tử cung dài, thẳng và mỏng, thân ngắn.

Nó là một cơ quan hình ống đóng vai trò là cơ quan giao hợp, và nằm giữa cổ tử cung và lỗ niệu sinh dục. Ở chó, nó dài hơn 2 lần so với ngưỡng.

Bộ phận sinh dục ngoài

Cơ quan sinh dục ngoài được đại diện bởi khu vực gây tranh cãi nữ, âm hộ, và bao gồm cả môi âm hộ, nằm giữa khe hở gây tranh cãi và âm vật.

Âm hộ nằm bên dưới hậu môn và được ngăn cách với nó bởi một đáy quần ngắn.

Đôi môi nhếch nhác bao quanh lối vào tiền đình của âm đạo. Da này gấp lại, đi vào màng nhầy của tiền đình.

Âm vật là một tương tự của dương vật của con đực, nó được xây dựng từ cơ thể hang động, nhưng kém phát triển.

Trưởng thành về tình dục và sinh lý

Đây là khả năng của động vật để sinh con. Ở nữ giới, nó được đặc trưng bởi sự hình thành trứng và biểu hiện của chu kỳ tình dục, sự hình thành của hormone giới tính, gây ra sự phát triển của các đặc điểm tình dục thứ cấp. Trưởng thành tình dục và sinh lý xảy ra trong 6-8 tháng. Thời gian dậy thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là giống, giới tính, khí hậu, cho ăn, điều kiện giam giữ và chăm sóc. Tuổi thọ của các đại diện của loài càng ngắn thì tuổi dậy thì càng sớm. Chó đến tuổi dậy thì sớm hơn so với họ hàng hoang dã của chúng trong tự nhiên – chó sói và chó rừng.

Săn bắn tình dục là một phản ứng tình dục tích cực của phụ nữ với nam giới, xuất phát từ sự kích thích thần kinh bên trong của hệ thống tuyến yên – tuyến yên. Đặc trưng bởi sự biểu hiện của phản xạ tình dục nữ, thể hiện ở hành vi kỳ dị của nó với sự hiện diện của nam giới. Ở chó, nó bắt đầu từ 8-10 tháng.

Sự xuất hiện đầu tiên của động dục không có nghĩa là chó cái đã sẵn sàng để sinh sản con cái. Cô vẫn chưa sẵn sàng cho việc sinh nở xương chậu, tuyến vú kém phát triển. Vào lúc 6-8 tháng, sự tăng trưởng của cơ thể vẫn chưa hoàn thành. Do đó, nên giao phối động vật không sớm hơn 1,5 năm.

Có hai loại thụ tinh: nhân tạo và tự nhiên. Thụ tinh tự nhiên được chia thành tự do (nam và chó cái độc lập sản xuất quá trình giao phối) và thủ công (nam và nữ được giữ trên dây xích). Đan lặp lại sau 1-2 ngày. Nên thực hiện vào buổi sáng, trước khi cho ăn, vào ngày thứ 14 của động dục. Một con chó trước tiên phải làm trống trực tràng.

Một con chó là một động vật một vòng. Chu kỳ tình dục là sự kết hợp của tất cả các thay đổi sinh lý xảy ra trong bộ máy tình dục của nữ từ lúc rụng trứng này sang ngày rụng trứng khác. Chu kỳ tình dục mà không cần thụ tinh bao gồm 4 giai đoạn: proestrum, động dục, metoestrum, aestrum.

Gon (giai đoạn kích thích) thường xảy ra hai lần một năm – vào mùa xuân và mùa thu, nhưng nó xảy ra vào những thời điểm khác trong năm. Từ những ngày đầu tiên của rut trong 8-14 ngày, một con chó cái bắt đầu nóng (proestrum). Nó biểu hiện ở chỗ bộ phận sinh dục bên ngoài đỏ và sưng, chất nhầy có mùi đặc biệt được tiết ra từ khe sinh dục (con đực có thể ngửi thấy nó ở khoảng cách rất xa). Con cái phát triển ham muốn tình dục để đáp ứng với phản ứng của con đực, nhưng nó không cho phép chúng đến với mình. Trong những ngày đầu tiên, chất nhầy có máu, do hết động dục – rõ ràng. Ngay khi dịch tiết ra không màu, giai đoạn 2 của chu kỳ tình dục bắt đầu – động dục, hoặc động dục, kéo dài 5 đến 10 ngày. Nữ có một hưng phấn tình dục mạnh mẽ, và cô ấy sẵn sàng thừa nhận nam. Ở động vật được nuôi dưỡng tốt, thời gian động dục có thể được kéo dài. Khi cô kết thúc, một con chó cái bắt đầu có một cuộc săn lùng tình dục. Điều này thường xảy ra vào ngày 9-21 sau khi động dục và kéo dài từ 1 đến 5 ngày. Nó kết thúc với sự chấm dứt của động dục. Bất kể sự hiện diện hay vắng mặt của quan hệ tình dục, từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 12 kể từ khi bắt đầu động dục, rụng trứng xảy ra cứ sau 3 giờ – mở nang trứng trưởng thành và giải phóng noãn bào, sau vài giờ đi xuống ống dẫn trứng và biến thành trứng trưởng thành.

Trong giai đoạn kích động, huyết áp tăng lên ở chó cái, thành phần của máu thay đổi và đôi khi phản xạ thức ăn bị ức chế hoàn toàn. Chó cái khao khát con đực, bỏ đuôi, không chống lại lồng. Có rất nhiều trứng trong buồng trứng, ở những con chó trẻ – hơn 2000.

Ở tất cả các loài động vật, sự rụng trứng được tăng tốc nhờ hành động giao phối. Sự thụ tinh xảy ra tại thời điểm rụng trứng. Sau khi rụng trứng đến giai đoạn ức chế – metoestrum – kéo dài 30-60 ngày. Kích thích tình dục bị suy yếu, con vật bình tĩnh lại, sự thèm ăn của nó được thiết lập. Bitch trở nên hung dữ với con chó, cố gắng cắn anh ta. Có cái gọi là tiêu cực của phản ứng tình dục (phát hành). Rồi đến giai đoạn nghỉ ngơi: cổ tử cung bị đóng, chó cái thờ ơ với con chó. Anestrum đang đến (90-130 ngày). Trong trường hợp thụ tinh trong cơ thể của phụ nữ có sự tích lũy chất dinh dưỡng. Có một khoảng thời gian shchitnosti (thời kỳ mang thai), kéo dài 58-65 ngày (trung bình 61-63 ngày) và kết thúc bằng việc whelping (sinh con). Trước ngày thứ 57, chó con thường không thể sống được, nhưng vào ngày thứ 70 chúng vẫn có thể bình thường. У собак мелких и карликовых пород рождается 2-4 слепых, глухих и без зубов щенка, собак средних пород – 2-4, а у собак крупных пород – 8-12. Вес щенков приблизительно – 0,2-0,6 кг. В год собаки могут приносить щенков дважды (табл. 4).

Оплодотворение яйцеклетки происходит в верхней трети яйцепровода. Срок жизни спермы в генитальном тракте – до 6 дней. С этого момента оплодотворенное яйцо называют зиготой, которая асинхронно делится и превращается в зародышевый пузырек. Внедрение зародышевого пузырька в слизистую оболочку матки происходит на 21-22-й день. Вследствие развития оплодотворенных яйцеклеток происходит увеличение желтых тел, образовавшихся на месте разорвавшихся фолликулов яичника. Cơ thể màu vàng tiết ra progesterone trong máu, ức chế sự phát triển của các nang noãn mới và thúc đẩy việc đưa choroid Villi vào niêm mạc tử cung. Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển của phôi. Dần dần, mầm biến thành đĩa mầm, trở thành mầm. Sau giai đoạn phôi thai, giai đoạn phát triển sớm bắt đầu. Trong thời kỳ này, có một bộ phận của tất cả các cơ quan và bộ xương, cũng như nhau thai được hình thành (nhau thai, hoặc vị trí của trẻ em). Từ giờ trở đi, một sinh vật như vậy được gọi là bào thai, phát triển tuyến lông và tuyến mồ hôi, hệ thần kinh trung ương, cơ bắp và bộ phận sinh dục.

Một phụ nữ mang thai ngay sau khi thụ tinh thay đổi sự trao đổi chất và sự thèm ăn tốt. Nhu cầu năng lượng tăng gấp 4 lần. Lông trở nên mịn màng và sáng bóng, hình dáng cơ thể có hình dạng tròn. Trong nửa sau của whelp, mặc dù sự thèm ăn được bảo quản, con vật giảm cân, vì nó không có thời gian để đồng hóa một lượng chất dinh dưỡng đủ.

Lịch của chó con và chó con

Sinh con – đó là một quá trình sinh lý trong đó một bào thai trưởng thành, vỏ của nó và nước của thai nhi chứa trong chúng bị tống ra khỏi tử cung. Trong quá trình sinh nở, thai nhi trưởng thành đi từ trong tử cung đến cuộc sống tự lập. Khi bắt đầu sinh con đã báo trước sưng âm hộ, xuất hiện dịch nhầy từ ống cổ tử cung và giảm nhiệt độ cơ thể 1 ° C. Sự ra đời bắt đầu bằng việc mở ống cổ tử cung, kéo dài 6-12 giờ. Đồng thời, bàng quang của thai nhi của con chó con đầu tiên có thể được nhìn thấy từ lòng ống. Người phụ nữ tỏ ra lo lắng, thở dốc, sắp xếp một hang ổ cho mình ở những nơi hẻo lánh và thỉnh thoảng nằm xuống. Ngay khi chú chó con đầu tiên được đẩy vào ống cổ tử cung của người mẹ, cơ bụng được phản xạ bao gồm trong công việc, và việc sinh nở bước vào giai đoạn trục xuất của thai nhi. Thời gian chuyển dạ từ 1-6 giờ đến 1-2 ngày. Chúng được đi kèm với các cơn co thắt cơ bắp (chúng được gọi là các cơn co thắt) và cơ bụng (những chuyển động này được gọi là các nỗ lực). Cần lưu ý rằng ở động vật, áp lực bụng hoạt động mạnh hơn ở tư thế nằm ngửa so với ở tư thế đứng.

Kênh cổ tử cung được tiết lộ do sự đưa màng của thai nhi vào đó dưới dạng nước ối. Đi qua âm đạo, bàng quang mầm thường bị vỡ và các chi sau của thai nhi xuất hiện, vì khoảng 40% số chó con có biểu hiện vùng chậu. Khi vỡ màng bắt đầu, nước màu hơi đục không màu chảy ra và nếu nhau thai bị xáo trộn, nước có màu xanh lục chảy ra, chảy máu bắt đầu từ sự xói mòn hình thành trong thành tử cung. Sau khi con chó con tiếp theo được sinh ra, con cái liếm nó và cắn qua vết thương bằng răng cửa, nghĩa là, loại bỏ lớp lông của thai nhi, đầu tiên là từ đầu và sau đó ra khỏi cơ thể. Khi chó con được giải phóng khỏi màng, con cái độc lập gặm dây rốn và phần còn lại sau khi ăn, điều này là cần thiết cho cô ấy vì có rất nhiều hormone kích thích có trong cô ấy cho lần chuyển dạ tiếp theo. Đôi khi hai chú chó con được sinh ra cùng một lúc, ngay lập tức lần lượt từng con, nhưng chủ yếu là sinh nở xảy ra trong khoảng thời gian khoảng 30 phút. Thông thường, khoảng thời gian này có thể từ vài phút đến vài giờ.

Hệ tim mạch

Hệ thống tim mạch trong cơ thể cung cấp sự trao đổi chất thông qua sự lưu thông liên tục thông qua các mạch máu và bạch huyết, đóng vai trò vận chuyển chất lỏng. Quá trình này được gọi là lưu thông máu-bạch huyết. Với sự trợ giúp của lưu thông máu, nguồn cung cấp tế bào và mô của cơ thể không bị gián đoạn với oxy, chất dinh dưỡng, nước, được hấp thụ vào máu hoặc bạch huyết thông qua các bức tường của bộ máy hô hấp và tiêu hóa, và giải phóng carbon dioxide và các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất có hại cho cơ thể. Hormone, kháng thể và các hoạt chất sinh lý khác được mang trong máu, do đó hệ thống miễn dịch hoạt động và điều hòa nội tiết tố của các quá trình diễn ra trong cơ thể với vai trò hàng đầu của hệ thần kinh. Tuần hoàn máu – yếu tố quan trọng nhất trong sự thích nghi của sinh vật với các điều kiện thay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong – đóng vai trò hàng đầu trong việc duy trì cân bằng nội môi (cấu tạo và thành phần của sinh vật). Rối loạn tuần hoàn chủ yếu dẫn đến rối loạn chuyển hóa và chức năng chức năng của các cơ quan trên toàn cơ thể.

Hệ thống tim mạch được đại diện bởi một mạng lưới kín với một cơ quan trung tâm – tim. Theo bản chất của chất lỏng lưu thông, nó được chia thành máu và bạch huyết.

HỆ THỐNG MÁU

Hệ thống tuần hoàn bao gồm tim – cơ quan trung tâm thúc đẩy lưu lượng máu qua các mạch và mạch máu – các động mạch phân phối máu từ tim đến các cơ quan, tĩnh mạch đưa máu đến tim và mao mạch máu, qua đó cơ thể trao đổi các chất giữa máu và mô. Các tàu của cả ba loại đang giao tiếp với nhau bằng phương pháp anastomoses tồn tại giữa các tàu cùng loại và giữa các loại tàu khác nhau. Có anastomoses động mạch, tĩnh mạch hoặc động mạch. Với chi phí của họ, các mạng được hình thành (đặc biệt là giữa các mao quản), các nhà sưu tập, tài sản thế chấp, các tàu bên đi cùng với quá trình của tàu chính.

Trái tim là cơ quan trung tâm của hệ thống tim mạch, thúc đẩy, giống như một động cơ, máu qua các mạch. Ở chó, đây là một cơ quan cơ bắp rỗng hình tròn mạnh mẽ (Hình 18), nằm ở trung thất của khoang ngực, ở khu vực từ xương sườn thứ 3 đến xương sườn thứ 6, phía trước cơ hoành, trong khoang serous của chính nó. Nó phân biệt cơ sở và hàng đầu. Cơ sở của nó nằm ở độ cao giữa của xương sườn thứ 1, chóp nằm trong khoảng không gian liên sườn thứ 5 gần xương ức, và do đó, đầu mũi là dễ tiếp cận nhất cho nghiên cứu lâm sàng. Vị trí của cơ thể này là cos-dọc.

Trái tim của động vật có vú là bốn buồng, từ bên trong được phân chia hoàn toàn bởi vách liên thất và liên thất thành hai nửa – phải và trái, mỗi buồng gồm hai buồng – tâm nhĩ và tâm thất. Nửa bên trái của bản chất của máu lưu thông là tĩnh mạch, và bên trái – động mạch. Tâm nhĩ và tâm thất giao tiếp với nhau thông qua các lỗ thông liên nhĩ. Phôi thai (thai nhi), có một lỗ thông qua đó tâm nhĩ giao tiếp, và cũng có một ống động mạch (botal) qua đó máu từ thân phổi và động mạch chủ trộn lẫn. Đến khi sinh ra, những lỗ hổng này đã phát triển quá mức. Nếu điều này không xảy ra một cách kịp thời, máu sẽ trộn lẫn, dẫn đến rối loạn nghiêm trọng trong hoạt động của hệ thống tim mạch.

Tâm nhĩ nằm ở đáy tim. Đây là những buồng có thành mỏng nhận máu từ các tĩnh mạch rỗng, chảy vào tâm nhĩ phải và từ các tĩnh mạch phổi mang máu đến tâm nhĩ trái.

Tâm thất chiếm phần lớn trái tim. Từ các buồng này, máu được chưng cất vào động mạch chủ (từ tâm thất trái) và thân phổi (từ bên phải).

Chức năng chính của tim là cung cấp một dòng máu chảy liên tục trong các mạch của vòng tuần hoàn máu. Đồng thời, máu trong tim chỉ di chuyển theo một hướng – từ tâm nhĩ đến tâm thất, và của chúng vào các mạch máu lớn. Điều này được đảm bảo bởi các van đặc biệt và các cơn co thắt nhịp nhàng của cơ tim – đầu tiên là tâm nhĩ, sau đó là tâm thất, sau đó là tạm dừng và mọi thứ lặp lại từ đầu.

Bộ máy van của tim bao gồm van nhĩ thất và bán nguyệt. Đầu tiên là trong khu vực của foramoventricular foramen. Chúng được hình thành bởi các nếp gấp của nội tâm mạc, gân và cơ bắp. Vì vậy, mở nhĩ phải đóng van ba lá và van trái – hai lần, hoặc hai lá ,. Với sự co thắt (tâm thu) của tâm nhĩ do áp lực của máu, sash tăng lên. Các gân và cơ đồng thời ngăn chúng biến thành khoang tâm nhĩ. Điều này đảm bảo rằng máu chỉ chảy theo một hướng. Semilunar hoặc van túi được đặt ở đáy của hai mạch máu lớn nổi lên từ tâm thất – động mạch chủ và thân phổi. Chức năng của chúng là sau khi tâm trương (thư giãn) của tâm thất, máu từ các động mạch sẽ chảy ngược về tim dưới áp lực cao, và các van, chạm vào các cạnh của chúng, đóng lối vào tâm thất.

Thành của trái tim bao gồm ba lớp vỏ (lớp): nội tâm mạc, cơ tim và tầng sinh môn. Nội tâm mạc là lớp lót bên trong của tim, cơ tim là cơ tim (khác với mô cơ xương bởi sự hiện diện của các thanh ngang giữa các sợi riêng lẻ), lớp biểu mô là màng tế bào ngoài của tim. Trái tim được đặt trong túi màng ngoài tim (màng ngoài tim), cách ly nó với các khoang màng phổi, cố định cơ quan ở một vị trí nhất định và tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động. Thành của tâm thất trái dày hơn 2 – 3 lần so với bên phải.

Kích thước của trái tim phụ thuộc vào độ tuổi, động vật, giới tính, độ béo và cường độ làm việc của cơ bắp. Thai nhi có khối lượng tim tương đối so với khối lượng cơ thể nhiều hơn so với trẻ sơ sinh. Điều này là do tải trọng chức năng lớn hơn của cơ thể do dòng máu đi qua các mao mạch (cơ thể và nhau thai) hai lần. Trọng lượng của tim ở nam chiếm ưu thế so với nữ. Với hoạt động thể chất tăng lên, khối lượng tim tăng lên.

Nhịp tim chủ yếu phụ thuộc vào trạng thái của động vật và tuổi của nó, công việc được thực hiện và nhiệt độ môi trường. Dưới ảnh hưởng của các cơn co thắt của tim (do lưu lượng máu), có sự co bóp nhất quán của các mạch và sự thư giãn của chúng. Quá trình này được gọi là xung máu, hoặc mạch. Số lượng nhịp đập mỗi phút tương ứng với số lượng nhịp tim. Máu di chuyển qua các động mạch với tốc độ 0,5 m / s và sóng xung truyền với tốc độ 9 m / s, nhưng vì cơ thể động vật có kích thước nhỏ, chúng tôi kiểm tra tim bằng cách kiểm tra mạch. Xung được xác định bởi động mạch đùi hoặc cánh tay.

Mạch máu

Theo chức năng và cấu trúc của chúng, các mạch máu được chia thành các mạch dẫn và cho ăn. Dẫn điện – động mạch (mang máu từ tim), tĩnh mạch (đưa máu đến tim), và nuôi dưỡng, hoặc trophic, – mao mạch (mạch siêu nhỏ nằm trong các mô của các cơ quan). Chức năng chính của giường mạch là hai mặt – dẫn máu (thông qua các động mạch và tĩnh mạch), cũng như đảm bảo sự trao đổi chất giữa máu và các mô (liên kết của giường vi mạch) và phân phối lại máu. Đi vào cơ quan, các động mạch liên tục phân nhánh thành các tiểu động mạch, tiền chất, đi vào các mao mạch, sau đó vào các tế bào sau và tĩnh mạch. Các tĩnh mạch, là liên kết cuối cùng trên giường vi mô, hợp nhất với nhau và mở rộng, tạo thành các tĩnh mạch mang máu từ cơ quan.

Động mạch tùy thuộc vào tầm cỡ được chia thành lớn, vừa và nhỏ. Chúng nằm sâu hơn trong cơ thể của động vật, dưới các tĩnh mạch. Máu trong chúng đỏ tươi, sáng, vì nó được bão hòa oxy. Các bức tường của các động mạch được tạo thành từ các màng: bên trong (lớp nội mạc – một lớp tế bào lót tất cả các mạch), trung bình (cơ bắp) và bên ngoài (đàn hồi), sau đó cố định các động mạch ở một vị trí nhất định và hạn chế sự kéo dài của chúng.

Mao mạch – các mạch nhỏ nhất nằm giữa các tiểu động mạch và tĩnh mạch là con đường lưu thông máu của các tổ chức. Bức tường của họ bao gồm một lớp tế bào. Một con chó có công suất lên tới 2650 mao mạch trên mm 2. Trong trạng thái nghỉ của các cơ quan, khoảng 10% tổng số loại chức năng tàu này.

Viên – mạch mang máu và bạch huyết đến tim. Máu trong chúng tối màu vì nó bão hòa với các sản phẩm trao đổi chất từ ​​các cơ quan. Các bức tường của các tĩnh mạch được xây dựng giống như các bức tường của các động mạch, nhưng chúng mỏng hơn, chúng có ít mô đàn hồi và cơ bắp, do đó các tĩnh mạch trống rơi xuống. Các tĩnh mạch nằm gần bề mặt của cơ thể.

Tuần hoàn máu xảy ra trong một hệ thống khép kín bao gồm các vòng tròn lớn và nhỏ. Tốc độ của nó ở chó là 13-26 giây.

Vòng tròn lớn, hoặc có hệ thống, bắt đầu từ tâm thất trái của tim. Máu dưới áp suất cao (lên tới 120 mm Hg) được đẩy ra khỏi động mạch chủ (động mạch lớn nhất), qua đó nó di chuyển với tốc độ trung bình 25 m / s. Các động mạch khởi hành từ động mạch chủ, đi vào cơ quan, vỡ ra thành vô số mao mạch tạo thành giường vi mạch của cơ quan, nơi xảy ra quá trình trao đổi chất. Các mao mạch của cơ thể tạo thành các tĩnh mạch, khi các mạch nhỏ hợp nhất, tạo thành hai tĩnh mạch rỗng. Theo anh, máu lại quay trở lại tim, đến tâm nhĩ phải.

Vòng tròn nhỏ bắt đầu từ tâm thất phải, từ đó máu được đưa vào thân phổi. Trên thân cây này, được chia thành các động mạch phổi phải và trái, máu được dẫn vào các vi mạch của phổi. Tại đây, nó được giải phóng từ carbon dioxide và trở lại qua các tĩnh mạch phổi đến tâm nhĩ trái của tim, nơi lưu thông phổi kết thúc. Từ tâm nhĩ trái máu đi vào tâm thất trái, và từ đó vào vòng tròn lớn.

Máu là một mô chất lỏng lưu thông trong hệ thống tuần hoàn. Nó là một loại mô liên kết, cùng với bạch huyết và dịch mô, tạo nên môi trường bên trong cơ thể. Nó mang oxy từ phế nang phổi đến các mô (do sắc tố hô hấp của hemoglobin có trong tế bào hồng cầu) và carbon dioxide từ các mô đến hệ hô hấp (điều này được thực hiện bởi muối hòa tan trong huyết tương). Máu cũng mang các chất dinh dưỡng (glucose, axit amin, axit béo, muối và các chất khác) đến các mô và các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa (urê, axit uric, amoniac, creatine) từ các mô đến các cơ quan bài tiết và cũng vận chuyển các hoạt chất sinh học (hormone, chất trung gian, chất điện giải, sản phẩm chuyển hóa – chất chuyển hóa). Nó không tiếp xúc với các tế bào của cơ thể, các chất dinh dưỡng truyền từ nó đến các tế bào thông qua chất lỏng mô lấp đầy không gian ngoại bào. Máu tham gia vào quá trình điều hòa chuyển hóa muối-nước và cân bằng axit-bazơ trong cơ thể, duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định, đồng thời bảo vệ cơ thể khỏi tác động của vi khuẩn, vi rút, độc tố, protein ngoại lai. Số lượng của nó trong cơ thể của con chó là 1/13 trọng lượng cơ thể (5,6-13,0% trọng lượng cơ thể).

Sơ đồ hệ tuần hoàn máu và bạch huyết

Máu bao gồm hai thành phần quan trọng – tế bào máu và huyết tương. Tỷ lệ các yếu tố đồng nhất chiếm khoảng 30-40%, huyết tương – 70% tổng lượng máu. Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu là một trong những yếu tố.

Hồng cầu, hay hồng cầu, hình thành trong tủy xương đỏ và bị phá hủy trong lá lách. 90% chất đỏ là chất khô là huyết sắc tố. Chức năng chính của chúng là vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan và mô. Chúng gây ra các đặc điểm miễn dịch của máu, do sự kết hợp của các kháng nguyên hồng cầu, đó là nhóm máu. Những con chó có một số lượng lớn.

Bạch cầu, hay bạch cầu, hình thành ở tủy xương đỏ, hạch bạch huyết, lá lách và tuyến ức (chỉ ở những người trẻ tuổi). Tùy thuộc vào cấu trúc, chúng được chia thành dạng hạt (bạch cầu ái toan, basophils và bạch cầu trung tính) và không hạt. Tỷ lệ phần trăm của các dạng bạch cầu riêng lẻ là dạng bạch cầu của máu. Tất cả các loại tế bào bạch cầu đều tham gia vào các phản ứng bảo vệ của cơ thể.

Tiểu cầu, hoặc tiểu cầu, hình thành trong tủy xương đỏ. Khi bị phá hủy, thromboplastin được giải phóng – một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình đông máu, do đó tiểu cầu tham gia vào quá trình đông máu.

Huyết tương – nó là phần lỏng của nó, bao gồm nước (91-92%) và các chất hữu cơ và khoáng chất hòa tan trong đó. Tỷ lệ thể tích tính theo phần trăm của các yếu tố hình thành và huyết tương được gọi là số hematocrit.

Máu được đặc trưng bởi một mức độ không đổi của các yếu tố hình thành (Bảng 5). Các tế bào hồng cầu được cập nhật trong 3-4 tháng, bạch cầu và tiểu cầu – trong một vài ngày, protein huyết tương – trong 2 tuần.

HỆ THỐNG LYMPHATIC

Đây là một phần chuyên biệt của hệ thống tim mạch. Nó bao gồm bạch huyết, mạch bạch huyết và các hạch bạch huyết. Nó thực hiện hai chức năng chính: thoát nước và bảo vệ.

Thành phần máu của chó

Nó là một chất lỏng màu vàng trong suốt. Образуется в результате выхода через стенки капилляров в окружающие ткани части плазмы крови из кровеносного русла. Из тканей она поступает в лимфатические сосуды. Вместе с лимфой, оттекающей от тканей, удаляются продукты обмена веществ, остатки отмирающих клеток, микроорганизмы. В лимфоузлах в лимфу попадают лимфоциты из крови. Она течет, как и венозная кровь, центростремительно, по направлению к сердцу, изливаясь в крупные вены.

Они разделяются на:

* лимфатические капилляры – похожие по строению на кровеносные капилляры, но отличающиеся более широким просветом. Они повсюду сопровождают кровеносные капилляры,

* лимфатические посткапилляры – отличаются от капилляров наличием клапанов. Это более крупные капилляры,

* внутриорганные лимфатические сосуды – бывают поверхностные или подкожные и глубокие,

* внеорганные приносящие (афферентные) и выносящие (эфферентные) лимфатические сосуды лимфатических узлов,

* лимфатические стволы и лимфатические протоки – это крупные лимфатических сосуды. В их стенках имеются артерии и вены.

Các hạch bạch huyết là các cơ quan hình hạt đậu nhỏ gọn bao gồm mô võng mạc (một loại mô liên kết). Vô số hạch bạch huyết, nằm trên đường chảy của bạch huyết, là cơ quan lọc hàng rào quan trọng nhất, trong đó các vi sinh vật, các hạt lạ, các tế bào sụp đổ kéo dài và trải qua quá trình thực bào (tiêu hóa). Vai trò này được thực hiện bởi các tế bào lympho. Do chức năng bảo vệ của các hạch bạch huyết có thể trải qua những thay đổi đáng kể. Ở chó, có tới 60 hạch bạch huyết hình trung bình. Tùy thuộc vào vị trí, họ hời hợt, sâu sắc và nội bộ.

Các yếu tố máu và bạch huyết là ngắn ngủi. Chúng được hình thành trong các cơ quan tạo máu đặc biệt. Chúng bao gồm:

* tủy xương đỏ (tế bào hồng cầu, bạch cầu hạt, tiểu cầu được hình thành trong đó), nằm trong xương ống,

* lá lách (tế bào lympho và bạch cầu hạt được hình thành trong đó, làm chết các tế bào máu, chủ yếu là hồng cầu, bị phá hủy). Cơ quan không ghép đôi này, nằm ở vùng hạ vị bên trái,

* hạch bạch huyết (nơi tế bào lympho được hình thành),

* Tuyến ức, hoặc tuyến ức (nơi tế bào lympho được hình thành).

Nó có một phần cổ tử cung được ghép nối, nằm ở hai bên của khí quản đến thanh quản, và một ngực không ghép đôi, nằm trong khoang ngực trước tim. Ở chó, tuyến ức phát triển kém.

Các tuyến nội tiết

Các tuyến nội tiết bao gồm các cơ quan, mô, nhóm tế bào giải phóng hormone vào máu thông qua thành mao mạch – các chất điều chỉnh sinh học tích cực cao về chuyển hóa, chức năng và sự phát triển của động vật. Trong các tuyến nội tiết không có ống bài tiết.

Ở dạng nội tạng, có các tuyến nội tiết sau: tuyến yên, tuyến tùng (tuyến lệ), tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục (ở nam giới – tinh hoàn).

Tuyến yên nằm ở đáy xương sphenoid. Phân bổ một số loại hormone: thyrotropic – kích thích sự phát triển và hoạt động của tuyến giáp, tuyến thượng thận – tăng cường sự phát triển của các tế bào vỏ thượng thận và sự tiết ra của các tế bào vỏ của cơ quan sinh dục, sự kích thích của các tế bào vỏ của cơ quan sinh dục. quá trình tăng trưởng mô, prolactin – tham gia cho con bú, oxytocin – gây giảm cơ trơn của tử cung, vasopssin – kích thích sự hấp thụ nước ở thận và huyết áp tăng. Sự gián đoạn của tuyến yên gây ra chứng khổng lồ (aclicgaly) hoặc lùn (nanism), khả năng tình dục, kiệt sức, rụng tóc, răng.

Tuyến giáp

Tuyến giáp được chia bởi một eo ở bên phải và thùy trái nằm phía sau khí quản ở cổ. Chó có thể có thêm tuyến giáp. Các hormone thyroxin và triiodothyronine điều chỉnh các quá trình oxy hóa trong cơ thể, ảnh hưởng đến tất cả các loại chuyển hóa, các quá trình enzyme. Chúng chứa iốt. Calcitonin, chống lại hormone tuyến cận giáp, làm giảm canxi trong máu. Tuyến giáp cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển và biệt hóa của các mô (Hình 19).

Các tuyến Parashitovida

Các tuyến này nằm gần thành của tuyến giáp. Hormon tuyến cận giáp do chúng tiết ra sẽ điều chỉnh hàm lượng canxi trong xương, tăng cường hấp thu canxi trong ruột và bài tiết phốt phát ở thận.

Tuyến tụy

Tuyến này có chức năng kép. Là một tuyến nội tiết, nó sản xuất insulin, một loại hormone điều chỉnh lượng đường trong máu. Với bệnh tuyến tụy ở chó, đái tháo đường thường được quan sát nhiều hơn, kèm theo sự gia tăng lượng đường trong máu từ 0,1% đến 0,6-0,8%. Sự gia tăng lượng đường trong máu dẫn đến sự gia tăng hàm lượng của nó trong nước tiểu, vì cơ thể cố gắng giảm lượng đường.

QUẢNG CÁO

Tuyến thượng thận là các cơ quan được ghép nối trong nang mỡ của thận, nặng 0,6 g. Chúng tổng hợp các hormone aldosterone, corticosterone và cortisone, điều chỉnh huyết áp, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa chất béo và carbohydrate, phát triển tình dục và hoạt động của tuyến vú. Adrenaline thu hẹp mạnh mạch máu, tăng cường hoạt động của tim, tăng số lần co bóp. Trong ảnh hưởng đến chuyển hóa carbohydrate, nó ngược lại với insulin.

Làm thế nào để bộ xương bên trong của một con chó

Cột sống trên (cổ). Nó bao gồm bảy xương đốt sống. Đầu tiên được gọi là “Atlas” (dịch từ tiếng Latin “Atlant”). Nó khác với những cái khác ở dạng vòng và cung cấp khả năng di chuyển của đầu theo chiều dọc. Các đốt sống thứ hai được gọi là “Epistrophy” (“Epistrophy”), nó chịu trách nhiệm cho các chuyển động ngang của đầu của động vật.

Xương sườn được gắn vào các quá trình ngang của đốt sống của phần này. Các quá trình gai từ 1 đến 10 đốt sống được hướng vào đuôi, nhưng thứ mười một được gọi là quá trình cơ hoành. Quá trình gai góc của nó được hướng lên trên. Các quá trình tương tự từ 12 đến 13 đốt sống được hướng vào đầu của động vật.

So sánh bộ xương của người và chó

Loin hoặc thắt lưng. Những đốt sống này có hình bầu dục. Các quá trình của họ là các khớp nối ngang dài, phẳng, hình băng được phát triển tuyệt vời.

Các quá trình gai của cột sống thắt lưng ở đốt sống được hướng vào đầu. Độ dài của mỗi (đến thứ năm) tăng dần, và sau đó giảm ngay lập tức.

Sacrum là sự hợp nhất của ba hoặc bốn đốt sống xương thành một xương. Chức năng chính của phần này của cột sống là một liên kết mạnh mẽ của cột sống với các chi sau.

Ở nữ giới, vùng sacral dài hơn và rộng hơn so với nam giới. Kích thước như vậy là do chức năng sinh sản của nữ giới. Trong phần này của cột sống, các quá trình sau được hợp nhất thành một sườn núi cùng tên.

Trong chấn thương tủy sống hoặc bất thường bẩm sinh, thú cưng sẽ trải qua MRI và kê đơn điều trị.

Các dây đeo vai bao gồm scapula và xương đòn thô lỗ. Xương đòn được gắn vào cơ thể của con chó gần cặp xương sườn đầu tiên. Nhờ vành đai này, các chi trước được gắn vào bộ xương.

So sánh xương động vật

Tay chân. Những con chó chỉ có bốn chân.

Vòng ngực bao gồm:

  1. Vai, bao gồm các humerus.
  2. Cẳng tay bao gồm ulna và bán kính.
  3. Bàn chải Nó bao gồm bảy xương ống cổ tay, năm metacarpals và phalang của ngón tay. Con chó có năm ngón tay, bao gồm ba phalang.

Vành đai của các chi chậu bao gồm:

  1. Xương chậu (hồi tràng, xương mu, đau thần kinh tọa).
  2. Hông bao gồm xương đùi và xương bánh chè.
  3. Ống chân bao gồm xương chày và xương chày.
  4. Dừng lại Nó bao gồm bảy xương của vương miện và năm xương đại tràng. Các phalang của ngón tay và cấu trúc của chúng giống với vùng ngực.

Chó xương chậu

Giải phẫu sọ chó

Sọ và răng. Sự kết nối của xương sọ là di động. Nó cung cấp cho thú cưng khả năng nhai, nhấm nháp, v.v.

Công thức của răng bao gồm: răng nanh, răng cửa, răng hàm và răng hàm.

Cắn bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn giống và giống.

Hình dạng cho chó

  • Kéo Ở đây, những cái thấp hơn nằm dưới răng cửa trên, và cũng có một kết nối chặt chẽ với nhau.
  • Kìm – hình thức cắn này xảy ra khi các răng cửa được đóng lại với nhau.
  • Trực tiếp. Các răng cửa đứng trên nhau.
  • Ăn nhẹ. Hàm dưới phình ra phía trước và răng không khớp.

Cấu trúc của hộp sọ

Sọ của con chó mặt dài Bịt kín.

Sọ Pug

Đối với xương không ghép đôi bao gồm “ppetgoid”, “chẩm”, xương hyoid, cũng như “mở”. Ngoài ra, bộ xương bao gồm và không có một cặp xương ethmoid và hình nêm với các hạt.

Hai xương hàm trên, xương gò má, xương hàm, mũi, vòm miệng và hai xương hàm dưới, trán, thân răng và thái dương có thể được quy cho những người được ghép nối.

Đặc điểm cấu trúc

Bộ xương của bất kỳ giống nào thực hiện chức năng quan trọng nhất. Nó không chỉ là nền tảng cho toàn bộ sinh vật, nó là một đòn bẩy cung cấp chuyển động, nó còn thực hiện chức năng hỗ trợ cho tất cả các cơ quan, cơ bắp và hệ thống của động vật.

Mô xương rất bền và nhẹ khi so sánh với các hệ thống khác trong cơ thể thú cưng.

Có bao nhiêu xương

Ở người, tổng cộng có từ 205 đến 207 xương, khoảng hai trăm khớp. Con mèo có cùng số lượng xương khoảng 244 mảnh.

Bộ xương của chó là duy nhất trong thành phần và chức năng của nó. Nhờ có anh, những con vật này di động và hoạt động. Chỉ huy và phối hợp tốt và có thể rất khỏe mạnh.

Buồng trứng ở nữ

Hormone được sản xuất bởi các tuyến nội tiết, có đặc tính có tác động mạnh đến quá trình trao đổi chất và một số quá trình quan trọng quan trọng trong cơ thể động vật. Khi chức năng bài tiết của nhóm tuyến này bị suy giảm, các bệnh cụ thể phát sinh ở chó: rối loạn chuyển hóa, tăng trưởng bất thường và phát triển tình dục, và một số bệnh khác.

Cơ bắp bề ngoài của chó:

【#9】Cấu Tạo Vòng Bạch Huyết Và Chức Năng Bảo Vệ Cơ Thể

Vòng bạc huyết hay còn gọi là vòng Waldayer Nằm ở ngã tư hầu họng gồm 1 tuyến hạnh nhân hầu, 2 tuyến hạch nhân vòi, 2 tuyến hạch nhân khẩu cái, 1 tuyến lưỡi tạo thành hàng rào bảo vệ cơ thể.

Vòng bạch huyết chống lại tác nhân có hại cho cơ thể xâm nhập từ bên ngoài vào như: virus, vi khuẩn, nấm…

Vòng bạch huyết Waldayer

Cấu tạo của vòng bạch huyết

1. Amidan vòm (VA)

Là khối tổ chức bạch huyết hình tam giác có các rãnh nằm trong lớp dưới niêm mạc của nóc vòm và thành sau của vòm mũi họng, phía trên lưỡi gà và sau mũi. Chỉ có thể nhìn thấy VA bằng gương đặc biệt hay các dụng cụ được đưa qua mũi. VA gồm các tế bào lympho tập trung lại và có chức năng tạo kháng thể chống lại tác nhân xâm nhập qua mũi.

Bình thường VA Dày khoảng 2mm VA được hình thành từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 7 của thai kì và phát triển đầy đủ ở trẻ sơ sinh. VA trở thành nơi cư trú của vi khuẩn ngay từ tuần lễ đầu tiên sau khi sinh. VA to lên trong thời kì phát triển của trẻ cho đến 6 – 7 tuổi sau đó VA thường thoái triển dần đến tuổi dậy thì và teo lại.

VA đóng vai trò quan trọng trong các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên. Phì đại VA ở trẻ em có thể gây bít tắc cửa mũi sau, dẫn tới các biểu hiện bệnh như: thở miệng, chảy nước mũi, ngạt thở khi ngủ, nói kém, khó ăn, viêm xoang mạn tính, viêm tai giữa mủ hoặc viêm tai giữa thanh dịch cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển bất thường của xương mặt.

2. Amidan vòi

Là 2 amidan, nằm ở hai bên phải và trái, quanh lỗ vòi tai. Ngăn sự xâm nhập nhập của virus vi khuẩn, khi viêm vòi quanh tai dễ dẫn đến viêm tai giữa hoặc ngược lại.

3. Amidan khẩu cái

Amidan là những khối mô màu hồng hình ô van ở cả hai phía của họng. Amidan có thể lớn nhỏ nhau tùy theo trẻ, không có kích thước chuẩn cho tất cả các bé.

Khi dùng đèn chiếu, ta có thể nhìn thấy 2 amidan khẩu cái ở phía sau họng. Đè lưỡi có thể giúp nhìn thấy amidan rõ hơn, những động tác này dễ khiến kích thích nôn.

Với cấu trúc các khe ăn sâu vào trong amiđan thành các nhánh làm bề mặt tiếp xúc của amiđan được tăng lên. Diện tích lớp biểu mô của các khe amidan khẩu cái là 300cm 2.

4. Amidan lưỡi

Amidan lưỡi là một tổ chức lympho nằm phía dưới đáy lưỡi. Viêm amidan lưỡi xuất hiện do tình trạng các tổ chức lympho nằm dưới đáy lưỡi bị tấn công bởi nấm hoặc virut, vi khuẩn gây viêm nhiễm.

Tuy biểu hiện bệnh có phần khác so với những loại viêm amidan còn lại nhưng về cách điều trị thì hoàn toàn giống nhau.

Viêm Amidan lưỡi gây cảm giác vô cùng khó chịu với biểu hiện đau khi nuốt thức ăn hoặc nước bọt, có cảm giác nóng rát và ho khan. Thở khò khè, lưỡi trắng bệch, niêm mạc họng xuất hiện xưng đỏ. Viêm kết mạc nổi, hạch góc hàm bị sưng to, kèm theo khàn tiếng.

Chức năng bảo vệ cơ thể của chúng:

1. Chức năng miễn dịch của vòng Waldayer

Các amiđan của vòng waldayer được sinh ra từ bào thai nhưng các cấu trúc miễn dịch đặc hiệu chỉ xuất hiện sau 3 tháng tuổi.

Cũng như các tổ chức lympho khác, lớp biểu mô của amidan cũng sinh ra các lympho có khả năng miễn dịch tuýp B và T.

2. Chức năng bảo vệ

khi tiếp xúc với các vật lạ (kháng nguyên) có trong môi trường như virus, vi khuẩn. Amiđan giúp cho cơ thể nhận dạng được kháng nguyên và sinh ra lympho bào, kháng thể đặc hiệu tương ứng (giai đoạn tập duyệt miễn dịch). Nhờ vậy trẻ em có thể thích nghi với môi trường bên ngoài.

Hiểu được cấu tạo và chức năng của Vòng Bạch Huyết nếu các bạn để bị viêm lâu ngày gây ra các biến chứng áp xe họng, viêm tai giữa ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn hô hấp. Bảo vệ cửa ngõ quan trọng này là bạn bảo vệ cơ thể tránh khỏi các tác nhân gây bệnh ban đầu xâm nhập vào cơ thể.

Hãy để Vòng Bạch Huyết của bạn luôn được khỏe mạnh. Thực hiện các biện pháp giữ gìn vệ sinh răng miệng, súc miệng họng bằng nước muối sinh lý hoặc nước muối pha loãng ( chú ý khi pha bằng một lượng vừa đủ tránh quá nhạt sẽ không sát khuẩn tốt hoặc quá mặn sẽ làm tổn thương niêm mạc họng ).

Giữ ấm vùng mũi họng, tránh tiếp xúc trực tiếp với khói bụi, ôi nhiễm môi trường phải có các phương tiện khẩu trang bảo hộ lao động để đảm bảo sức khỏe.

【#10】Sơ Đồ Cấu Tạo Hệ Hô Hấp Của Người. Các Giai Đoạn Của Quá Trình Thở

Tốt đến mức bạn và tôi không cần phải suy nghĩ để thở hay cung cấp oxy riêng cho từng cơ quan. Mọi thứ từ lâu đã được tính toán và phát triển, nó tự diễn ra. Và một người chỉ đơn giản là hoàn toàn vô thức hít vào và sau đó thở ra khoảng bốn giây một lần. Thoạt nhìn, mọi thứ đều là sơ đẳng. Tuy nhiên, các cơ quan hô hấp trong cơ thể được hệ thống phức tạp nơi mỗi phần tử thực hiện những chức năng cực kỳ quan trọng.

Và, có lẽ, chính cô ấy có thể được gọi là quan trọng nhất đối với một người. Các yếu tố của hệ thống này là đường dẫn khí trên (khoang miệng và mũi, cũng như hầu) và dưới (thanh quản, khí quản, cũng như phế quản) và tất nhiên, phổi. Điều này cũng bao gồm các mạch máu và một số cơ. Theo thông lệ, hệ thống hô hấp là tổng thể đầu dây thần kinh tạo điều kiện trao đổi khí.

Phổi

Xét tất cả các cơ quan hô hấp của một người, cơ quan này có thể được gọi là cơ quan chính. Phổi nằm trong lồng ngực ở hai bên tim. Ở họ, chính quá trình trao đổi khí của một người với môi trường… Nhờ vào một số lượng lớn phế nang – những quả bóng nhỏ ở đầu các nhánh của phế quản – toàn bộ cơ thể được cung cấp oxy. Khí sinh ra từ đây được máu đưa đến tất cả các mô và cơ quan. Chính vì tầm quan trọng to lớn của phổi mà bệnh của chúng vô cùng nguy hiểm.

Các cơ quan hô hấp khác

Hãy bắt đầu từ việc hít vào. Thông thường, chúng ta lấy không khí từ môi trường bằng mũi. Tuy nhiên, bạn có thể làm điều này bằng miệng. Không khí đi vào khoang mũi (miệng). Trong trường hợp đầu tiên, nó là tốt hơn nhiều. Điều này là do thực tế là trong khoang mũi không khí được làm sạch các hạt bụi và các vi khuẩn khác nhau. Điều này là do sự hiện diện của chất nhầy đặc biệt và nhung mao nhỏ – lông mao. Ngoài ra, không khí được làm ấm lên ở đây. Sau mũi (miệng), nó rơi vào yết hầu, nơi kết nối các khoang này. Từ đó đến thanh quản. Ở đây người có một bộ máy phát âm. Từ thanh quản, không khí di chuyển vào khí quản. Nó là một ống mềm dài tới 15 cm. Khí quản kết nối thanh quản và phế quản của con người. Từ ống mềm này, không khí đi vào chúng. Phế quản được gọi là phân đôi của khí quản và phân nhánh thêm. Và “cái cây” này kết thúc bằng các phế nang, điều này đã được đề cập.

Chúng nhỏ đến mức trong cả hai lá phổi có tới bảy trăm triệu. Mỗi phế nang được bao phủ bởi một mạng lưới dày đặc các mao mạch nhỏ, cung cấp cho quá trình trao đổi khí.

Cơ quan hô hấp của động vật: đặc điểm

Ở các đại diện khác của hệ động vật, hệ thống trao đổi khí có thể khác nhau (ít hoặc nhiều). Vì vậy, ở cá, cơ quan hô hấp chính là mang. Ở giun và động vật lưỡng cư, đây thường là toàn bộ bề mặt của cơ thể. Cơ quan hô hấp chính của côn trùng là khí quản, ở bò sát là túi phổi. Hệ thống trao đổi khí trở nên phức tạp hơn tùy thuộc vào kích thước của động vật. Ở mức độ nhẹ hơn, tùy thuộc vào môi trường và “cách sống”. Nhưng có một điều là bất biến: không một đại diện nào của thế giới động vật trên hành tinh của chúng ta có thể sống mà không có oxy.

Hệ hô hấp – Đây là một tập hợp các cơ quan và cấu trúc giải phẫu đảm bảo sự di chuyển của không khí từ khí quyển đến phổi và ngược lại (chu kỳ thở hít vào – thở ra), cũng như trao đổi khí giữa không khí đi vào phổi và máu.

Cơ quan hô hấp là đường hô hấp trên và dưới và phổi, bao gồm các tiểu phế quản và túi phế nang, cũng như các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch của tuần hoàn phổi.

Ngoài ra, hệ thống hô hấp bao gồm lồng ngực và các cơ hô hấp (hoạt động của nó cung cấp sự kéo giãn của phổi với sự hình thành các giai đoạn hít vào và thở ra và sự thay đổi áp suất trong khoang màng phổi), và ngoài ra – trung tâm hô hấp nằm trong não, dây thần kinh ngoại biên và các thụ thể tham gia vào quá trình điều hòa hô hấp.

Chức năng chính của cơ quan hô hấp là đảm bảo trao đổi khí giữa không khí và máu bằng cách khuếch tán oxy và khí cacbonic qua thành phế nang phổi vào mao mạch máu.

Khuếch tán – một quá trình là kết quả của việc khí từ khu vực có nồng độ cao hơn có xu hướng đến khu vực có nồng độ thấp.

Một tính năng đặc trưng của cấu trúc đường thở là sự hiện diện của lớp sụn trong thành của chúng, do đó chúng không bị sụp đổ.

Ngoài ra, các cơ quan hô hấp tham gia vào quá trình tạo ra âm thanh, phát hiện mùi, sản xuất một số chất giống như hormone, trong lipid và chuyển hóa nước-muối, trong việc duy trì khả năng miễn dịch của cơ thể. Trong đường hô hấp, có sự thanh lọc, làm ẩm, ấm lên không khí hít vào, cũng như cảm nhận về nhiệt độ và các kích thích cơ học.

Hàng không

Đường dẫn khí của hệ hô hấp bắt đầu từ mũi ngoài và hốc mũi. Hốc mũi được chia thành hai phần: bên phải và bên trái. Bề mặt bên trong của khoang, được lót bằng màng nhầy, có lông mao và thấm các mạch máu, được bao phủ bởi chất nhầy, có tác dụng giữ lại (và trung hòa một phần) vi khuẩn và bụi. Nhờ đó, không khí trong khoang mũi được làm sạch, khử độc, làm ấm và tạo độ ẩm. Đây là lý do tại sao bạn cần thở bằng mũi.

Suốt cuộc đời khoang mũi giữ lại tới 5 kg bụi

Đã qua yết hầu đường thở, không khí đi vào cơ quan tiếp theo thanh quản, trông giống như một cái phễu và được hình thành bởi một số sụn: sụn tuyến giáp bảo vệ thanh quản ở phía trước, sụn nắp thanh quản đóng lối vào thanh quản khi thức ăn được nuốt vào. Nếu bạn cố gắng nói trong khi nuốt thức ăn, nó có thể đi vào đường thở và gây ngạt thở.

Khi nuốt, sụn di chuyển lên trên, sau đó trở lại vị trí ban đầu. Với chuyển động này, nắp thanh quản đóng cửa vào thanh quản, nước bọt hoặc thức ăn đi vào thực quản. Còn gì nữa trong thanh quản? Dây thanh. Khi một người im lặng dây thanh phân kỳ khi anh ta nói lớn, dây thanh âm đóng lại, nếu anh ta buộc phải nói nhỏ, dây thanh âm là ajar.

  1. Khí quản;
  2. Động mạch chủ;
  3. Phế quản chính bên trái;
  4. Phế quản chính bên phải;
  5. Ống phế nang.

Khí quản người dài khoảng 10 cm, đường kính khoảng 2,5 cm

Từ thanh quản, không khí qua khí quản và phế quản đi vào phổi. Khí quản được hình thành bởi nhiều nửa vòng sụn, nằm trên nửa vòng sụn và nối với nhau bằng cơ và mô liên kết… Các đầu mở của nửa vòng tiếp giáp với thực quản. Trong lồng ngực, khí quản được chia thành hai phế quản chính, từ đó các phế quản phụ phân nhánh, tiếp tục phân nhánh xa hơn đến các tiểu phế quản (các ống mỏng có đường kính khoảng 1 mm). Các nhánh của phế quản là một mạng lưới khá phức tạp được gọi là cây phế quản.

Các tiểu phế quản được chia thành các ống thậm chí còn mỏng hơn – các ống dẫn phế nang, kết thúc bằng các túi nhỏ có thành mỏng (độ dày thành một tế bào) – các phế nang, tập hợp thành chùm giống như chùm nho.

Thở bằng miệng gây biến dạng lồng ngực, suy giảm thính lực, phá vỡ vị trí bình thường của vách ngăn mũi và hình dạng của hàm dưới.

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp

Các chức năng quan trọng nhất của phổi là trao đổi khí, cung cấp oxy cho hemoglobin, loại bỏ carbon dioxide, hoặc carbon dioxide, là sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên, các chức năng của phổi không chỉ giới hạn ở điều này.

Thông thường, phổi có thể được chia thành 3 phần:

  1. qua không khí (cây phế quản), qua đó không khí, như qua một hệ thống các kênh, đến các phế nang;
  2. hệ thống phế nang, trong đó xảy ra trao đổi khí;
  3. hệ thống tuần hoàn của phổi.

Thể tích không khí hít vào ở một người trưởng thành vào khoảng 0 4 – 0,5 lít, và dung tích sống của phổi, tức là thể tích tối đa, gấp khoảng 7 – 8 lần – thường là 3 – 4 lít (phụ nữ có ít hơn nam giới), mặc dù ở các vận động viên, nó có thể vượt quá 6 lít

Trong một số bệnh (viêm phổi, lao), lớp thành của màng phổi có thể phát triển cùng với lớp phổi, tạo thành cái gọi là kết dính. Khi nào bệnh viêm nhiễm kèm theo sự tích tụ quá nhiều chất lỏng hoặc không khí trong vết nứt màng phổi, nó mở rộng mạnh, biến thành một khoang

Vòng quay của phổi nhô ra 2-3 cm trên xương đòn, ngoài vùng dưới cổ. Bề mặt tiếp giáp với xương sườn lồi và có mức độ lớn nhất. Mặt trong lõm, tiếp giáp với tim và các cơ quan khác, lồi và có chiều dài lớn nhất. Mặt trong lõm, tiếp giáp với tim và các cơ quan khác nằm giữa các túi màng phổi. Trên đó có một cổng của phổi, nơi mà phế quản và động mạch phổi chính đi vào phổi và hai tĩnh mạch phổi đi ra.

Mỗi phổi được chia thành hai thùy bởi các rãnh màng phổi (trên và dưới), bên phải thành ba (trên, giữa và dưới).

Mô phổi được hình thành bởi các tiểu phế quản và nhiều túi phế nang phổi nhỏ, trông giống như những lồi bán cầu của tiểu phế quản. Thành mỏng nhất của phế nang là một màng thấm sinh học (bao gồm một lớp tế bào biểu mô được bao quanh bởi một mạng lưới dày đặc các mao mạch máu), qua đó sự trao đổi khí diễn ra giữa máu trong mao mạch và không khí tràn vào phế nang. Từ bên trong, các phế nang được bao phủ bởi một chất hoạt động bề mặt dạng lỏng (chất hoạt động bề mặt), giúp làm suy yếu lực căng bề mặt và ngăn không cho phế nang xẹp hoàn toàn trong quá trình thoát ra ngoài.

So với thể tích phổi của trẻ sơ sinh, đến 12 tuổi thể tích phổi tăng gấp 10 lần, đến cuối tuổi dậy thì – 20 lần.

Tổng chiều dày của thành phế nang và mao mạch chỉ vài micromet. Do đó, oxy dễ dàng xâm nhập từ không khí phế nang vào máu, và carbon dioxide từ máu vào phế nang.

Quá trình hô hấp

Hít thở là một quá trình trao đổi khí phức tạp giữa môi trường bên ngoài và cơ thể. Không khí hít vào khác nhiều về thành phần so với không khí thở ra: oxy, một nguyên tố cần thiết cho quá trình trao đổi chất, đi vào cơ thể từ môi trường bên ngoài, và carbon dioxide được thải ra bên ngoài.

Các giai đoạn của quá trình hô hấp

  • lấp đầy phổi bằng không khí trong khí quyển (thông khí phổi)
  • sự chuyển oxy từ phế nang phổi đến máu chảy qua mao mạch phổi, và từ máu được giải phóng vào phế nang, và sau đó vào bầu khí quyển của carbon dioxide
  • cung cấp oxy theo máu đến các mô và carbon dioxide từ các mô đến phổi
  • tiêu thụ oxy của tế bào

Quá trình không khí đi vào phổi và trao đổi khí ở phổi được gọi là quá trình hô hấp ngoài phổi. Máu mang oxy đến các tế bào và mô, và carbon dioxide từ các mô đến phổi. Liên tục lưu thông giữa phổi và các mô, do đó máu đảm bảo quá trình liên tục cung cấp oxy cho các tế bào và mô và loại bỏ carbon dioxide. Trong các mô, oxy từ máu đi đến các tế bào, và carbon dioxide được chuyển từ các mô vào máu. Quá trình hô hấp mô này xảy ra với sự tham gia của các enzym hô hấp đặc biệt.

Ý nghĩa sinh học của hô hấp

  • cung cấp oxy cho cơ thể
  • loại bỏ carbon dioxide
  • quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ với việc giải phóng năng lượng, cần thiết cho một người cho cuộc sống
  • loại bỏ các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất (hơi nước, amoniac, hydro sunfua, v.v.)

Cơ chế hít vào thở ra… Hít vào và thở ra xảy ra do chuyển động của lồng ngực ( thở bằng ngực) và cơ hoành (thở bụng). Các xương sườn của lồng ngực thả lỏng đi xuống, do đó làm giảm thể tích bên trong của nó. Không khí được tống ra khỏi phổi, giống như không khí có áp suất từ u200bu200bgối hoặc nệm bơm hơi. Bằng cách co bóp, các cơ liên sườn hô hấp nâng cao xương sườn. Lồng ngực nở ra. Nằm giữa ngực và khoang bụng Cơ hoành co lại, các nốt sần của nó được làm mịn, thể tích lồng ngực tăng lên. Cả hai tấm màng phổi (màng phổi và màng phổi bên), giữa đó không có không khí, truyền chuyển động này đến phổi. Có một khoảng chân không trong mô phổi, như thế xuất hiện khi đàn accordion được kéo căng. Không khí đi vào phổi.

Tốc độ hô hấp ở một người trưởng thành bình thường là 14-20 nhịp thở mỗi phút, nhưng với sự gắng sức đáng kể, nó có thể lên đến 80 nhịp thở mỗi phút.

Khi các cơ hô hấp giãn ra, các xương sườn trở lại vị trí ban đầu và cơ hoành mất sức căng. Phổi co lại, giải phóng khí thở ra. Trong trường hợp này, chỉ xảy ra sự trao đổi một phần, vì không thể thở hết không khí ra khỏi phổi.

Với nhịp thở bình tĩnh, một người hít vào và thở ra khoảng 500 cm 3 không khí. Lượng không khí này là thể tích thủy triều của phổi. Nếu bạn hít thêm một hơi sâu, khoảng 1500 cm 3 không khí, được gọi là thể tích dự trữ của cảm hứng, sẽ đi vào phổi. Sau khi thở ra bình tĩnh, một người có thể thở ra khoảng 1500 cm 3 không khí – thể tích thở ra dự trữ. Lượng không khí (3500 cm 3), bao gồm thể tích thủy triều (500 cm 3), thể tích dự trữ hứng (1500 cm 3), thể tích dự trữ khi thở ra (1500 cm 3), được gọi là dung tích sống của phổi.

Từ 500 cm 3 không khí hít vào, chỉ có 360 cm 3 đi vào phế nang và cung cấp oxy cho máu. 140 cm 3 còn lại nằm trong đường thở và không tham gia trao đổi khí. Do đó, các đường thở được gọi là “không gian chết”.

Sau khi một người thở ra 500 cm 3 thể tích thủy triều), và sau đó thở ra sâu (1500 cm 3), vẫn còn khoảng 1200 cm 3 thể tích không khí còn lại trong phổi của anh ta, mà hầu như không thể loại bỏ được. Do đó, mô phổi không chìm trong nước.

Trong vòng 1 phút, một người hít vào và thở ra 5-8 lít không khí. Đây là thể tích hô hấp theo phút, với hoạt động thể chất cường độ cao, có thể đạt 80-120 lít mỗi phút.

Đối với những người được đào tạo, phát triển về thể chất, dung tích sống của phổi có thể lớn hơn đáng kể và đạt 7000-7500 cm 3. Phụ nữ có dung tích phổi kém hơn nam giới

Trao đổi khí ở phổi và vận chuyển khí theo máu

Máu chảy từ tim vào các mao mạch bao quanh phế nang phổi chứa nhiều khí cacbonic. Và trong các phế nang phổi, nó rất nhỏ, do đó, do sự khuếch tán, nó rời khỏi dòng máu và đi vào các phế nang. Điều này cũng được tạo điều kiện thuận lợi bởi các bức tường của phế nang và mao mạch, ẩm từ bên trong, chỉ bao gồm một lớp tế bào.

Oxy đi vào máu cũng thông qua quá trình khuếch tán. Có rất ít oxy tự do trong máu, vì hemoglobin trong hồng cầu liên tục liên kết với nó, biến thành oxyhemoglbin. Máu đã trở thành động mạch rời khỏi phế nang và đi qua tĩnh mạch phổi đến tim.

Để quá trình trao đổi khí diễn ra liên tục, thành phần các chất khí trong phế nang phổi phải không đổi, được duy trì bằng quá trình hô hấp ở phổi: khí cacbonic dư thừa được thải ra bên ngoài và oxy được máu hấp thụ được thay thế bằng oxy từ một phần không khí trong lành bên ngoài.

Hô hấp mô xảy ra trong các mao mạch của hệ tuần hoàn, nơi máu cung cấp oxy và nhận carbon dioxide. Có rất ít oxy trong các mô, và do đó oxyhemoglobin phân hủy thành hemoglobin và oxy, đi vào dịch mô và được tế bào sử dụng ở đó để oxy hóa sinh học các chất hữu cơ. Năng lượng được giải phóng cùng một lúc dành cho các quá trình quan trọng của tế bào và mô.

Rất nhiều carbon dioxide tích tụ trong các mô. Nó xâm nhập vào chất lỏng mô và từ nó vào máu. Tại đây, carbon dioxide được bắt giữ một phần bởi hemoglobin, và một phần được hòa tan hoặc liên kết hóa học bởi muối huyết tương. Ô xy trong máu đưa nó đến tâm nhĩ phải, từ đó nó đi vào tâm thất phải, động mạch phổi đẩy ra ngoài vòng tĩnh mạch bị đóng. Trong phổi, máu trở lại thành động mạch và trở lại tâm nhĩ trái, đi vào tâm thất trái, và từ đó vào vòng tròn lớn tuần hoàn máu.

Càng tiêu thụ nhiều oxy trong các mô, càng cần nhiều oxy từ không khí để bù đắp chi phí. Đó là lý do tại sao khi công việc tay chân đồng thời hoạt động của tim và hô hấp ở phổi đều tăng.

Nhờ vào tài sản tuyệt vời hemoglobin kết hợp với oxy và carbon dioxide trong máu có thể hấp thụ các khí này với số lượng đáng kể

Trong 100 ml máu động mạch chứa đến 20 ml oxy và 52 ml carbon dioxide

Ảnh hưởng của carbon monoxide đối với cơ thể… Erythrocyte hemoglobin có thể kết hợp với các khí khác. Vì vậy, với carbon monoxide (CO) – carbon monoxide được hình thành trong quá trình đốt cháy nhiên liệu không hoàn toàn, hemoglobin kết hợp nhanh hơn và mạnh hơn 150 – 300 lần so với oxy. Do đó, ngay cả với một hàm lượng nhỏ carbon monoxide trong không khí, hemoglobin không kết hợp với oxy mà kết hợp với carbon monoxide. Trong trường hợp này, việc cung cấp oxy cho cơ thể ngừng lại, và người bệnh bắt đầu bị nghẹt thở.

Khi có khí carbon monoxide trong phòng, một người sẽ chết ngạt vì oxy không đi vào các mô cơ thể

Đói oxy – thiếu oxy – cũng có thể xảy ra khi giảm hàm lượng hemoglobin trong máu (mất máu đáng kể), thiếu ôxy trong không khí (trên núi cao).

Nếu dị vật xâm nhập vào đường hô hấp kèm theo sưng dây thanh do bệnh có thể bị ngừng hô hấp. Ngạt thở phát triển – sự ngộp thở… Khi ngừng thở, hãy làm hô hấp nhân tạo thông qua thiết bị đặc biệt, và khi không có – bằng phương pháp “miệng đối miệng”, “miệng đối mũi” hoặc các kỹ thuật đặc biệt.

Quy định về hô hấp… Sự luân phiên nhịp nhàng, tự động của hít vào và thở ra được điều chỉnh từ trung tâm hô hấp nằm ở tủy sống… Từ trung tâm này, các xung động: đi đến các tế bào thần kinh vận động của dây thần kinh phế vị và dây thần kinh liên sườn, giúp kích hoạt cơ hoành và các cơ hô hấp khác. Công việc của trung tâm hô hấp được điều phối bởi các bộ phận cao hơn của não. Do đó, một người có thể nín thở hoặc tăng cường nhịp thở trong một thời gian ngắn, chẳng hạn như khi nói chuyện.

Độ sâu và tần số của hô hấp bị ảnh hưởng bởi hàm lượng CO 2 và O 2 trong máu, những chất này gây kích thích các cơ quan thụ cảm hóa học trong thành mạch máu lớn, và các xung thần kinh từ chúng đi vào trung tâm hô hấp. Với sự gia tăng hàm lượng CO2 trong máu, nhịp thở sâu hơn, với sự giảm xuống 0 2, nhịp thở trở nên thường xuyên hơn.

Hô hấp là một quá trình sinh học phức tạp và liên tục, do đó cơ thể tiêu thụ các điện tử và oxy tự do từ môi trường bên ngoài, đồng thời giải phóng carbon dioxide và nước bão hòa với các ion hydro.

Hệ hô hấp của con người là một tập hợp các cơ quan thực hiện chức năng hô hấp ngoài của con người (trao đổi khí giữa khí trời hít vào và máu lưu thông trong tuần hoàn phổi).

Trao đổi khí được thực hiện trong các phế nang của phổi, và thông thường nhằm mục đích thu nhận oxy từ không khí hít vào và giải phóng carbon dioxide hình thành trong cơ thể ra môi trường bên ngoài.

Một người trưởng thành đang nghỉ ngơi, trung bình thở 15-17 lần mỗi phút, và một đứa trẻ sơ sinh thở 1 lần mỗi giây.

Các phế nang được thông khí bằng cách hít vào và thở ra xen kẽ. Khi bạn hít vào, không khí trong khí quyển đi vào các phế nang, và khi bạn thở ra, không khí bão hòa với carbon dioxide sẽ được loại bỏ khỏi các phế nang.

Hơi thở êm đềm thông thường gắn liền với hoạt động của cơ hoành và cơ liên sườn ngoài. Khi bạn hít vào, cơ hoành hạ xuống, xương sườn tăng lên, khoảng cách giữa chúng tăng lên. Sự thở ra bình tĩnh thông thường xảy ra ở mức độ lớn một cách thụ động, trong khi các cơ liên sườn bên trong và một số cơ bụng đang hoạt động tích cực. Khi bạn thở ra, cơ hoành tăng lên, các xương sườn di chuyển xuống, khoảng cách giữa chúng giảm xuống.

Các kiểu thở

Hệ hô hấp chỉ thực hiện phần đầu của quá trình trao đổi khí. Phần còn lại do hệ tuần hoàn thực hiện. Có một mối quan hệ sâu sắc giữa hệ thống hô hấp và tuần hoàn.

Phân biệt hô hấp ở phổi là nơi thực hiện trao đổi khí giữa không khí và máu và hô hấp ở mô thực hiện trao đổi khí giữa máu và mô. Nó được thực hiện hệ thống tuần hoàn bởi vì máu cung cấp oxy đến các cơ quan và mang đi các sản phẩm phân hủy và carbon dioxide từ chúng.

Hô hấp bằng phổi. Sự trao đổi khí ở phổi xảy ra do quá trình khuếch tán. Máu từ tim đi vào mao mạch bao quanh phế nang phổi chứa nhiều khí cacbonic, khí này có ít trong không khí của phế nang phổi nên nó rời ra. mạch máu và đi vào các phế nang.

Oxy đi vào máu cũng thông qua quá trình khuếch tán. Nhưng để quá trình trao đổi khí này diễn ra liên tục, thì thành phần các khí trong phế nang phổi phải không đổi. Tính nhất quán này được duy trì hô hấp bằng phổi: Carbon dioxide dư thừa được loại bỏ ra bên ngoài, và oxy được hấp thụ bởi máu được thay thế bằng oxy từ một phần không khí trong lành bên ngoài.

Hô hấp mô. Quá trình hô hấp ở mô xảy ra trong các mao mạch, nơi máu cung cấp oxy và nhận carbon dioxide. Có rất ít oxy trong các mô, do đó, oxyhemoglobin phân hủy thành hemoglobin và oxy. Oxy đi vào dịch mô và được tế bào sử dụng ở đó để oxy hóa sinh học các chất hữu cơ. Năng lượng giải phóng trong quá trình này được sử dụng cho các quá trình quan trọng của tế bào và mô.

Với việc cung cấp không đủ oxy cho các mô: chức năng của mô bị gián đoạn, do quá trình phân hủy và oxy hóa các chất hữu cơ ngừng lại, năng lượng không còn được giải phóng và các tế bào bị thiếu năng lượng sẽ chết.

Càng tiêu thụ nhiều oxy trong các mô, càng cần nhiều oxy từ không khí để bù đắp chi phí. Đó là lý do tại sao trong quá trình làm việc thể chất, cả hoạt động của tim và hô hấp của phổi đều tăng đồng thời.

Các kiểu thở

Bằng cách mở rộng lồng ngực, hai kiểu thở được phân biệt:

  • thở bằng ngực (sự mở rộng của lồng ngực được thực hiện bằng cách nâng cao xương sườn), thường được quan sát thấy ở phụ nữ;
  • thở bụng (sự giãn nở của lồng ngực được thực hiện bằng cách làm phẳng cơ hoành) phổ biến hơn ở nam giới.

Quá trình thở xảy ra:

Các kiểu chuyển động hô hấp đặc biệt được quan sát bằng tiếng nấc và tiếng cười. Khi thở nông và thường xuyên, khả năng hưng phấn của các trung khu thần kinh tăng lên, ngược lại khi thở sâu, nó giảm.

Hệ thống hô hấp và cấu trúc

Hệ thống hô hấp bao gồm:

  • đường hô hấp trên: hốc mũi, vòm họng, hầu;
  • đường hô hấp dưới: thanh quản, khí quản, phế quản chính và phổi, được bao phủ bởi màng phổi phổi.

Sự chuyển đổi biểu tượng của đường hô hấp trên xuống dưới được thực hiện ở giao điểm của hệ thống tiêu hóa và hô hấp ở phần trên của thanh quản. Hàng không cung cấp kết nối giữa môi trường và các cơ quan chính của hệ hô hấp – phổi.

Phổi nằm trong khoang ngực, được bao quanh bởi xương và cơ của lồng ngực. Phổi nằm trong các khoang kín, thành của chúng được lót bằng màng phổi đỉnh. Giữa màng phổi đỉnh và màng phổi là một khoang màng phổi dạng khe. Áp suất trong đó thấp hơn trong phổi, và do đó phổi luôn bị ép vào thành của khoang ngực và có hình dạng.

Sau khi vào phổi, các phế quản chính phân nhánh ra ngoài, tạo thành một cây phế quản, ở tận cùng của chúng có các túi phổi, các phế nang. Bởi cây phế quản không khí đến các phế nang, nơi trao đổi khí diễn ra giữa không khí đã đến phế nang phổi (nhu mô phổi), và máu chảy qua các mao mạch phổi, cung cấp oxy cho cơ thể và loại bỏ các chất thải dạng khí khỏi nó, bao gồm cả carbon dioxide.

Quá trình thở

Hít vào và thở ra được thực hiện bằng cách thay đổi kích thước của lồng ngực bằng cách sử dụng các cơ hô hấp. Trong vòng một hơi thở (trong trạng thái bình tĩnh) 400-500 ml không khí đi vào phổi. Thể tích không khí này được gọi là thể tích thủy triều (TO). Cùng một lượng không khí đi vào bầu khí quyển từ phổi trong quá trình thở ra bình tĩnh.

Hơi thở sâu tối đa là khoảng 2.000 ml không khí. Sau khi hết hạn tối đa trong phổi, không khí vẫn còn trong một lượng khoảng 1 200 ml, được gọi là thể tích còn lại của phổi. Sau khi thở ra bình tĩnh, khoảng 1.600 ml còn lại trong phổi. Thể tích không khí này được gọi là dung tích dư chức năng (FRL) của phổi.

Do khả năng tồn lưu chức năng (FRC) của phổi trong không khí phế nang, một tỷ lệ tương đối ổn định giữa hàm lượng oxy và carbon dioxide được duy trì, vì FRC lớn hơn nhiều lần so với thể tích thủy triều (RC). Chỉ 2/3 DO đến phế nang, được gọi là thể tích thông khí phế nang.

Không có hơi thở bên ngoài cơ thể con người thường có thể sống đến 5-7 phút (cái gọi là chết lâm sàng), tiếp theo là mất ý thức, những thay đổi không thể đảo ngược trong não và cái chết của nó (cái chết sinh học).

Hít thở là một trong số ít các chức năng của cơ thể có thể được kiểm soát một cách có ý thức và vô thức.

Chức năng hệ hô hấp

  • Sự thở, sự trao đổi khí. Chức năng chính cơ quan hô hấp – để duy trì sự ổn định của thành phần khí trong không khí trong phế nang: để loại bỏ carbon dioxide dư thừa và bổ sung oxy do máu mang đi. Điều này đạt được thông qua chuyển động thở. Khi hít vào, các cơ xương mở rộng khoang ngực, kéo theo đó là phổi nở ra, áp suất trong phế nang giảm xuống và không khí bên ngoài đi vào phổi. Khi bạn thở ra, khoang ngực giảm đi, các bức tường của nó ép phổi và không khí thoát ra khỏi chúng.
  • Điều nhiệt. Ngoài việc đảm bảo trao đổi khí, cơ quan hô hấp còn thực hiện một chức năng quan trọng khác: chúng tham gia vào quá trình điều nhiệt. Khi thở, nước bốc hơi từ bề mặt phổi, dẫn đến làm mát máu và toàn bộ cơ thể.
  • Thanh lọc không khí. Bề mặt bên trong của khoang mũi được lót bằng biểu mô có lông. Nó tiết ra chất nhờn để làm ẩm không khí đi vào. Do đó, đường hô hấp trên thực hiện các chức năng quan trọng: làm ấm, giữ ẩm và lọc không khí, cũng như bảo vệ cơ thể khỏi tác hại qua không khí.

Mô phổi cũng phát vai trò quan trọng trong các quá trình như: tổng hợp hormone, muối nước và chuyển hóa lipid… Phát triển phong phú hệ thống mạch máu phổi, máu bị lắng đọng. Hệ thống hô hấp cũng cung cấp sự bảo vệ cơ học và miễn dịch chống lại các yếu tố môi trường.

Quy định về hô hấp

Thần kinh điều hòa nhịp thở. Điều hòa hơi thở được thực hiện tự động – bởi trung tâm hô hấp, được đại diện bởi một bộ các tế bào thần kinhnằm ở các phòng ban khác nhau Trung tâm hệ thần kinh… Phần chính của trung tâm hô hấp nằm trong tủy sống. Trung tâm hô hấp bao gồm các trung tâm hít vào và thở ra, có chức năng điều hòa công việc của các cơ hô hấp.

Sự điều hòa thần kinh có tác dụng phản xạ hô hấp. Sự xẹp của phế nang phổi xảy ra trong quá trình thở ra theo phản xạ gây ra hít vào, và sự giãn nở của các phế nang theo phản xạ gây ra thở ra. Hoạt động của nó phụ thuộc vào nồng độ carbon dioxide (CO2) trong máu và vào các xung thần kinh đến từ các thụ thể khác nhau Chất kích thích nóng hoặc lạnh ( cơ quan nội tạng và da. hệ thống giác quan) da, đau, sợ hãi, tức giận, vui mừng (và các cảm xúc khác và các yếu tố gây căng thẳng), hoạt động thể chất nhanh chóng thay đổi bản chất của các chuyển động hô hấp.

Cần lưu ý rằng không có thụ thể đau trong phổi, do đó, để ngăn ngừa bệnh tật, nên kiểm tra khí tượng phổi định kỳ.

Thể dịch điều hòa hô hấp. Với công việc cơ bắp, quá trình oxy hóa được tăng cường. Do đó, nhiều carbon dioxide được thải vào máu. Khi máu có dư carbon dioxide đến trung tâm hô hấp và bắt đầu kích thích nó, hoạt động của trung tâm này tăng lên. Người đó bắt đầu thở sâu. Kết quả là, carbon dioxide dư thừa được loại bỏ, và lượng oxy thiếu được bổ sung.

Nếu nồng độ carbon dioxide trong máu giảm, công việc của trung tâm hô hấp bị ức chế và xảy ra tình trạng nín thở không tự chủ.

Nhờ sự điều hòa thần kinh và thể dịch, nồng độ carbon dioxide và oxy trong máu được duy trì ở một mức độ nhất định trong bất kỳ điều kiện nào.

Với các vấn đề với hơi thở bên ngoài, nhất định

Khả năng sống của phổi

Khả năng quan trọng của phổi là chỉ số quan trọng thở. Nếu một người hít thở sâu nhất, và sau đó thở ra càng nhiều càng tốt, thì sự trao đổi khí thở ra sẽ tạo nên sức chứa quan trọng của phổi. Dung tích sống của phổi phụ thuộc vào tuổi, giới tính, chiều cao, và cả mức độ thể chất của một người.

Để đo sức chứa quan trọng của phổi, một thiết bị như SPIROMETER được sử dụng. Đối với một người, không chỉ sức sống của phổi là quan trọng, mà còn là sức chịu đựng của các cơ hô hấp. Một người có dung tích sống của phổi nhỏ, thậm chí cơ hô hấp cũng yếu, phải thở thường xuyên và nông. Điều này dẫn đến thực tế là không khí trong lành chủ yếu lưu lại trong đường thở và chỉ một phần nhỏ đến phế nang.

Hít thở và tập thể dục

Khi nào hoạt động thể chất nhịp thở, như một quy luật, tăng lên. Quá trình trao đổi chất được đẩy nhanh, cơ bắp cần nhiều oxy hơn.

Các thông số hô hấp

  • Capnographer – thiết bị đo và hiển thị đồ thị hàm lượng carbon dioxide trong không khí mà bệnh nhân thở ra trong một thời kỳ nhất định thời gian.
  • Pneumograph – một thiết bị để đo và hiển thị bằng đồ thị tần số, biên độ và hình dạng của chuyển động hô hấp trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Spirograph – một thiết bị để đo và hiển thị bằng đồ thị các đặc tính động của nhịp thở.
  • Máy đo xoắn ốc – một thiết bị để đo VC (dung tích sống của phổi).

TÌNH YÊU ĐÈN CỦA CHÚNG TÔI:

1. Không khí trong lành (với sự cung cấp không đủ oxy cho các mô: chức năng của mô bị gián đoạn, do quá trình phân hủy và oxy hóa các chất hữu cơ ngừng lại, năng lượng không còn được giải phóng và các tế bào bị thiếu năng lượng sẽ chết. Do đó, ở phòng ngột ngạt dẫn đến đau đầu, hôn mê, giảm hiệu suất).

2. Bài tập (trong quá trình làm việc của cơ bắp, quá trình oxy hóa được tăng cường).

LUNGS CỦA CHÚNG TÔI KHÔNG THÍCH:

1. Truyền nhiễm và bệnh mãn tính đường hô hấp (viêm xoang, viêm xoang trán, viêm amidan, bạch hầu, cúm, viêm amidan, viêm đường hô hấp cấp, lao phổi, ung thư phổi).

2. Ô nhiễm không khí (khói xe, bụi, không khí ô nhiễm khí, khói, khói vodka, carbon monoxide – tất cả những thành phần này có ảnh hưởng xấu đến cơ thể. Các phân tử hemoglobin đã bắt giữ carbon monoxide bị tước mất khả năng vận chuyển oxy từ phổi đến các mô trong thời gian dài. Thiếu oxy trong máu và các mô, ảnh hưởng đến hoạt động của não và các cơ quan khác).

3. Hút thuốc (các chất ma tuý có trong nicotine được bao gồm trong quá trình trao đổi chất và can thiệp vào thần kinh và quy định về thể chất, vi phạm cả hai. Ngoài ra, chất khói thuốc lá kích thích màng nhầy của đường hô hấp, dẫn đến tăng chất nhầy do nó tiết ra).

Hệ thống dẫn không khí qua cơ thể chúng ta có cấu trúc phức tạp. Thiên nhiên đã tạo ra một cơ chế vận chuyển oxy đến phổi, nơi nó đi vào máu, để có thể trao đổi khí giữa môi trường và tất cả các tế bào của cơ thể chúng ta.

Theo sơ đồ của hệ thống hô hấp của con người, chúng có nghĩa là đường hô hấp – trên và dưới:

  • Những cái phía trên là khoang mũi, bao gồm các xoang cạnh mũi, và thanh quản là cơ quan hình thành giọng nói.
  • Những cây thấp hơn là cây khí quản và cây phế quản.
  • Cơ quan hô hấp – phổi.

Mỗi thành phần này là duy nhất trong chức năng của nó. Cùng với nhau, tất cả các cấu trúc này hoạt động như một cơ chế phối hợp nhịp nhàng.

Khoang mũi

Cấu trúc đầu tiên mà không khí đi qua khi hít vào là mũi. Cấu trúc của nó:

  1. Khung bao gồm nhiều xương nhỏ trên đó gắn sụn. Nó phụ thuộc vào hình dạng và kích thước của chúng xuất hiện mũi người.
  2. Theo giải phẫu học, khoang của nó thông với môi trường bên ngoài qua lỗ mũi, trong khi với vòm họng thông qua các lỗ đặc biệt ở đáy xương của mũi (choana).
  3. Ở thành ngoài của cả hai nửa hốc mũi, 3 lỗ thông mũi nằm từ trên xuống dưới. Thông qua các lỗ trong chúng, khoang mũi thông với các xoang cạnh mũi và ống lệ đôi mắt.
  4. Từ bên trong, khoang mũi được bao phủ bởi một màng nhầy với một lớp biểu mô duy nhất. Nó có nhiều lông và lông mao. Trong khu vực này, không khí được hút vào, đồng thời cũng được làm ấm và làm ẩm. Các sợi lông, lông mao và lớp chất nhầy trong mũi hoạt động như một bộ lọc không khí, giữ các hạt bụi và bẫy vi sinh vật. Chất nhầy do các tế bào biểu mô tiết ra có chứa các men diệt khuẩn có thể tiêu diệt vi khuẩn.

Một chức năng quan trọng khác của mũi là chức năng khứu giác. TRONG ngọn màng nhầy chứa các thụ thể cho bộ phân tích khứu giác. Khu vực này có màu khác với phần còn lại của màng nhầy.

Vùng khứu giác của màng nhầy có màu hơi vàng. Từ các thụ thể có bề dày của nó, một xung thần kinh được truyền đến các vùng chuyên biệt của vỏ não, nơi hình thành cảm giác về mùi.

Xoang cạnh mũi

Trong độ dày của xương, tham gia vào quá trình hình thành mũi, có các khoảng trống được lót bằng màng nhầy từ bên trong – các xoang cạnh mũi. Chúng chứa đầy không khí. Điều này làm giảm đáng kể trọng lượng của các xương hộp sọ.

Khoang mũi cùng với các xoang tham gia vào quá trình hình thành giọng nói (không khí cộng hưởng và âm thanh trở nên to hơn). Có các xoang cạnh mũi như vậy:

  • Hai hàm trên (hàm trên) – bên trong xương của hàm trên.
  • Hai trán (trán) – trong khoang của xương trán, phía trên đường viền chân mày.
  • Một hình nêm – ở chân xương hình cầu (nó nằm bên trong hộp sọ).
  • Các khoang bên trong xương ethmoid.

Tất cả các xoang này thông với đường mũi thông qua các lỗ thông và ống tủy. Điều này dẫn đến thực tế là dịch tiết viêm nhiễm từ mũi sẽ đi vào hốc xoang. Bệnh nhanh chóng lây lan sang các mô lân cận. Kết quả là, chứng viêm của họ phát triển: viêm xoang, viêm xoang trán, viêm màng nhện và viêm ethmoid. Những bệnh này có hậu quả nguy hiểm: trong những trường hợp nặng, mủ chảy ra thành xương, đi vào khoang sọ, gây ra những thay đổi không thể phục hồi trong hệ thần kinh.

Thanh quản

Đã đi qua khoang mũi và vòm họng (hoặc khoang miệng nếu một người thở bằng miệng), không khí đi vào thanh quản. Nó là một cơ quan hình ống có cấu tạo giải phẫu rất phức tạp, bao gồm sụn, dây chằng và cơ. Đây là nơi chứa các dây thanh âm, nhờ đó chúng ta có thể tạo ra âm thanh với các tần số khác nhau. Các chức năng của thanh quản là dẫn khí, hình thành giọng nói.

Kết cấu:

  1. Thanh quản nằm ở mức 4-6 đốt sống cổ.
  2. Mặt trước của nó được hình thành bởi tuyến giáp và sụn viền. Phần sau và phần trên là nắp thanh quản và các vòi nhỏ hình nêm.
  3. Nắp thanh quản là “nắp” bao phủ thanh quản trong hầu. Thiết bị này là cần thiết để thức ăn không đi vào đường thở.
  4. Từ bên trong, thanh quản được lót bởi một lớp biểu mô hô hấp, các tế bào trong đó có nhung mao mỏng… Chúng di chuyển bằng cách hướng chất nhầy và các hạt bụi vào cổ họng. Do đó, có một sự thanh lọc liên tục của đường thở. Chỉ có bề mặt của dây thanh được lót bằng biểu mô phân tầng, giúp chúng có khả năng chống lại tổn thương cao hơn.
  5. Có các thụ thể ở độ dày của niêm mạc thanh quản. Khi các thụ thể này bị kích thích bởi dị vật, chất nhầy dư thừa hoặc chất thải của vi sinh vật, phản xạ ho xảy ra. nó phản ứng phòng thủ thanh quản, nhằm mục đích làm sạch lòng của nó.

Khí quản

Từ cạnh dưới sụn quăn bắt đầu khí quản. Cơ thể này thuộc về phần dưới đường hô hấp. Nó kết thúc ở cấp độ 5-6 đốt sống ngực tại vị trí phân đôi của nó (phân đôi).

Cấu trúc của khí quản:

  1. Khung khí quản hình thành 15-20 bán sụn. Phía sau chúng được nối với nhau bằng một lớp màng tiếp giáp với thực quản.
  2. Ở nơi phân chia khí quản thành các phế quản chính, có một chỗ lồi của màng nhầy, lệch sang trái. Thực tế này xác định rằng các cơ quan nước ngoàiở đây thường được tìm thấy ở phế quản chính bên phải.
  3. Màng nhầy của khí quản có khả năng hấp thụ tốt. Nó được sử dụng trong y tế để thực hiện việc quản lý thuốc qua đường hô hấp trong khí quản.

Cây phế quản

Khí quản được chia thành hai phế quản chính – hình ống, bao gồm mô sụn đi vào phổi. Các bức tường của phế quản tạo thành các vòng sụn và các màng mô liên kết.

Bên trong phổi, các phế quản được chia thành các phế quản thuỳ (thuộc bậc thứ hai), các phế quản này lần lượt chia đôi nhiều lần thành các phế quản cấp thứ ba, thứ tư, v.v., cho đến bậc thứ mười – tiểu phế quản tận cùng. Chúng làm phát sinh các tiểu phế quản hô hấp – thành phần của acini phổi.

Các tiểu phế quản hô hấp đi vào đường thở. Các phế nang được gắn vào những đoạn này – những túi chứa đầy không khí. Chính ở mức độ này, quá trình trao đổi khí diễn ra, xuyên qua thành của các tiểu phế quản, không khí không thể thấm vào máu.

Xuyên suốt cây, các tiểu phế quản được lót từ bên trong bằng biểu mô hô hấp, và thành của chúng được hình thành bởi các phần tử sụn. Kích thước của phế quản càng nhỏ thì mô sụn trong thành của nó càng ít.

Tế bào cơ trơn xuất hiện trong các tiểu phế quản nhỏ. Điều này quyết định khả năng giãn nở và thu hẹp của các tiểu phế quản (trong một số trường hợp thậm chí co thắt). Điều này xảy ra dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, xung động của hệ thống thần kinh tự chủ và một số loại thuốc dược phẩm.

Phổi

Hệ thống hô hấp của con người cũng bao gồm phổi. Trong bề dày của các mô của các cơ quan này, xảy ra sự trao đổi khí giữa không khí và máu (hô hấp ngoài).

Theo con đường khuếch tán đơn giản, oxy di chuyển đến nơi có nồng độ thấp hơn (vào máu). Theo nguyên tắc tương tự, carbon monoxide được loại bỏ khỏi máu.

Sự trao đổi khí qua tế bào được thực hiện do sự chênh lệch áp suất riêng phần của các khí trong máu và khoang phế nang. Quá trình này dựa trên tính thấm sinh lý của thành phế nang và mao mạch đối với khí.

Đây là những cơ quan nhu mô nằm trong khoang ngực ở hai bên của trung thất. Trung thất chứa tim và các mạch lớn (thân phổi, động mạch chủ, tĩnh mạch chủ trên và dưới), thực quản, bạch huyết thân thần kinh và các cấu trúc khác.

Bên trong khoang ngực được lót bằng một lớp màng đặc biệt – màng phổi, một lớp khác của nó bao phủ mỗi lá phổi. Kết quả là, hai khoang màng phổi kín được hình thành, trong đó áp suất âm (so với khí quyển) được tạo ra. Điều này cung cấp cho người bệnh khả năng thở.

Ở bề mặt bên trong của phổi, cổng của nó nằm – bao gồm phế quản chính, mạch máu và dây thần kinh (tất cả những cấu trúc này tạo thành gốc của phổi). Đúng phổi người có ba thùy, và bên trái có hai. Điều này là do thực tế là tim chiếm vị trí của thùy thứ ba của phổi trái.

Nhu mô của phổi bao gồm các phế nang – các khoang chứa không khí có đường kính tới 1 mm. Các bức tường của phế nang được hình thành bởi mô liên kết và tế bào phế nang – những tế bào chuyên biệt có khả năng tự đưa các bong bóng khí oxy và carbon dioxide đi qua.

Từ bên trong, phế nang được bao phủ bởi một lớp mỏng chất nhớt – chất hoạt động bề mặt. Chất lỏng này bắt đầu được sản xuất trong bào thai ở tháng thứ 7 của sự phát triển trong tử cung. Nó tạo ra một lực căng bề mặt trong phế nang, giúp nó không bị xẹp xuống khi bạn thở ra.

Cùng với nhau, chất hoạt động bề mặt, tế bào phế nang, màng mà nó nằm trên đó và thành mao mạch tạo thành một hàng rào máu-không khí. Vi sinh vật không xâm nhập qua nó (bình thường). Nhưng nếu một quá trình viêm (viêm phổi) xảy ra, các bức tường của mao mạch trở nên dễ xâm nhập vào vi khuẩn.

Hít thở là quá trình các tế bào của cơ thể được cung cấp oxy, điều này kích thích các phản ứng trao đổi chất cần thiết cho quá trình đồng hóa chất dinh dưỡng… Các tế bào chuyển hóa oxy thành carbon dioxide (carbon dioxide) và đưa nó trở lại máu để thải ra ngoài cơ thể. Sự trao đổi khí này (oxy hít vào, khí cacbonic thở ra) là chính, sống còn chức năng quan trọng hệ thống hô hấp, ngoài ra, một số bộ phận của nó thực hiện một chức năng.

Hệ thống hô hấp bao gồm mũi, hầu, khí quản, phế quản và phổi.

Mũi là một cấu trúc của xương và sụn, bao gồm mô cơ và da. Bề mặt bên trong của mũi, được lót bởi một lớp màng nhầy, được nối với mũi họng bằng hai kênh của lỗ mũi. Không khí hít vào qua mũi được làm ấm, làm ẩm và lọc, đi qua ba lớp vỏ – lỗ thoát xương, được bao phủ bởi một màng nhầy, bao gồm các tế bào có thể giữ bụi và vi khuẩn.

Sau đó, không khí đã được lọc đi vào vòm họng, nằm ở phía sau khoang bên trong cái mũi. Từ vòm họng, không khí và chất nhầy đi xuống cổ họng, ngoài ra, nó được kết nối bởi các ống Eustachian với tai trongcho phép cân bằng áp lực ở cả hai bên tai màng nhĩ… Cổ họng có hình dạng giống như một “ống khói” và có ba chức năng: không khí và thức ăn đi qua nó, ngoài ra, nó còn chứa các dây thanh âm. Trong miệng, phần giữa của hầu họng, thức ăn, nước uống và không khí đi ra từ miệng, amidan (amidan) cũng nằm ở đây.

Phần dưới của hầu, hạ họng, cũng cho phép không khí, chất lỏng và thức ăn đi qua chính nó. Nó được ngăn cách với thanh quản bởi hai dây thanh âm. Luồng không khí rơi vào khoảng trống giữa chúng sẽ tạo ra rung động, do đó chúng ta nghe thấy chính mình và những người xung quanh.

Thanh quản là một sụn đàn hồi nằm ở đáy lưỡi và được nối bởi “thân” với quả táo Adam. Quá trình sụn này có thể di chuyển lên xuống tự do. Khi thức ăn được nuốt vào, thanh quản tăng lên, buộc “lưỡi” sụn của nắp thanh quản rơi xuống, dùng một loại nắp đậy lại. Điều này cho phép thức ăn đi vào thực quản chứ không phải đường hô hấp. Thanh quản tiếp nối với khí quản, hay nói cách khác – khí quản, dài khoảng 10 cm. Các thành của khí quản được nâng đỡ bởi các vòng sụn không hoàn chỉnh, giúp nó cứng và linh hoạt đồng thời; khi thức ăn đi dọc thực quản gần đó, khí quản hơi đưa vào, cúi gập người xuống.

Bề mặt bên trong của khí quản cũng được bao phủ bởi một lớp niêm mạc để giữ các hạt bụi và vi sinh vật, sau đó được loại bỏ ra ngoài. Các nhánh khí quản đổ vào phế quản màng phổi trái và phải, có cấu trúc tương tự như khí quản, lần lượt dẫn đến phổi trái và phổi phải. Các phế quản phân nhánh thành các ống nhỏ hơn, những ống này thậm chí còn nhỏ hơn, và cứ thế, cho đến khi các ống khí chuyển thành tiểu phế quản.

Phổi có hình nón, trải dài từ xương đòn đến cơ hoành. Bề mặt của mỗi lá phổi được làm tròn, cho phép chúng dính chặt vào các xương sườn và là màng phổi, một bề mặt tiếp xúc với các thành của khoang ngực, và bề mặt kia hướng trực tiếp đến phổi. Khoang màng phổi nằm sau màng ngăn tạo ra chất lỏng bôi trơn ngăn cản ma sát giữa hai màng ngăn. Dọc theo trục của phổi là một khu vực được gọi là cổng, ở đây các dây thần kinh, mạch máu và bạch huyết và phế quản chính đi vào phổi.

Mỗi lá phổi được chia thành các thùy: bên trái thành hai và bên phải thành ba, được chia thành các tiểu thùy nhỏ hơn (có mười trong mỗi phổi). Một tiểu động mạch, một tiểu tĩnh mạch, dẫn đến mỗi tiểu thùy phổi. tàu bạch huyết và một nhánh của tiểu phế quản. Sau đó, các tiểu phế quản phân nhánh ra các tiểu phế quản hô hấp, và chúng phân nhánh vào các đoạn phế nang, đến lượt chúng được chia thành các túi phế nang và các phế nang. Trong các phế nang diễn ra quá trình trao đổi khí. Khi các ống hô hấp di chuyển vào phổi, số lượng cơ và sụn giảm trong cấu trúc của chúng, được thay thế bằng mô liên kết mỏng.

Sinh lý hô hấp.

Khi không khí đến phế nang, quá trình trao đổi khí bắt đầu. Lớp niêm mạc của các phế nang có chứa các mao mạch nhỏ. Sự khuếch tán khí diễn ra trong thành mỏng của mao mạch và phế nang – oxy đi vào máu, sau đó chuyển nó đến các mô của cơ thể, và carbon dioxide đi từ mao mạch đến phế nang và được thải ra khỏi cơ thể trong quá trình thở ra. Người ta tin rằng mỗi lá phổi chứa khoảng 300 nghìn phế nang, tổng bề mặt của chúng đủ lớn để quá trình trao đổi khí diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.

Khi bạn thở ra, quá trình ngược lại xảy ra. Đầu tiên, cơ liên sườn giãn ra và xương sườn đi xuống, sau đó cơ hoành giãn ra và thể tích khoang ngực giảm xuống. Các sợi đàn hồi bao quanh phế nang và các sợi trong các đoạn phế nang và tiểu phế quản co lại, làm giảm thể tích của phổi, sau đó không khí bị “đẩy” ra khỏi cơ thể.