Top 21 # Xem Nhiều Nhất Các Kiểu Cấu Tạo Từ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Comforttinhdauthom.com

Các Kiểu Cấu·tạo Từ Tiếng Việt / 2023

Các Kiểu Cấu Tạo Từ Tiếng Việt

1. Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh,đỏ, vàng, tím,… – Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,… – Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,…

2. Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

2.1. Từ ghép đẳng lập: Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là: A. – Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng. B. – Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy: a.+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó: * Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt. Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,… * Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt. Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiên lợi, cốt nhục,… * Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt. Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,… * Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương. Ví dụ:Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,… b.+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau. Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,… c. + Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau. Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,…

C. – Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát ).

D. – Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.

E. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa. a. + Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo. Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con… b. + Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ. Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,… Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa ( chợ búa), pheo ( tre pheo) … chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này. Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, heo cúi, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, … Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập. Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau: d. + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán – Việt. Thí dụ: quần áo – áo quần, rủi may – may rủi, tươi tốt – tốt tươi,… e. + Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa. f. + Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu: * Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu. Ví dụ: đi lại – lại đi ; cơm nước – nước cơm khác nghĩa. * Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc. Ví dụ: nam nữ – nữ nam; ông bà – bà ông, anh em – em anh, vua quan – quan vua,… không hoán vị được. * Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.

2.2 Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau: A. – Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể. B. – Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó. C. – Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại: a. + Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại. Thí dụ : • máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,… • làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,… • vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,… Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán – Việt Việt hoá khác từ ghép Hán – Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước. Ví dụ: • vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,… • hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,… b. + Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, …

3. Từ láy: Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn là những vấn đề còn để ngỏ.Về phương thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý kiến khác nhau: a.Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa ; b. Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố. Theo ý kiến thứ nhất chỉ mới có thể lí giải được một số từ láy xác định được tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, bủn rủn, lã chã,…), hoặc những từ có dạng láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra từ phương thức ghép ( ví dụ: hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,…). Nhìn nhận từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu ra được những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức được rằng ngôn ngữ không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phát hiện và phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp. Gần đây trong nhiều bài viết, các tác giả đã khôi phục được nghĩa của nhiều từ ghép có dạng láy bị mất nghĩa. Dẫu sao những từ này hiện nay cũng đã mang nhiều đặc điểm của từ láy ( về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm). Trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đầy đủ hơn nữa, có thể xem chúng là từ láy. Do vậy, đứng tên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.

3.1. Ðặc điểm của từ láy: A. – Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện ở một trong các dạng sau : + Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu. Thí dụ: vắng vẻ, vui vẻ,… + Hoặc giống nhau ở phần vần. Thí dụ: co ro, lác đác, lung túng,… + Hoặc giống nhau ở cả phần phụ âm đầu lẫn phần vần. Thí dụ: đo đỏ, hao hao,… + Riêng thanh điệu, ở từ láy đôi thường tuân theo quy tắc biến thanh sau: Cao _ / ? Thấp . ~ B. – Mối quan hệ về mặt ngữ âm trong từ láy tạo nên sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa ( Hoàng Văn Hành), tức là tạo ra một thứ ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải thuộc bản ngữ. Ðó là lí do giải thích vì sao trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ láy rất khó lòng giải nghĩa, nhưng người bản ngữ nói chung vẫn cảm nhận được cái hay, vẫn dùng đúng và hiểu đúng, nhưng khó có thể giải thích tính đúng, tính hay đó cho người ngoại quốc học tiếng Việt. Chính vì vậy ở những từ ghép có các thành tố còn rõ nghĩa và có hiện tượng lặp âm ngẫu nhiên như tươi tốt, nam nữ, mặt mũi, hầm hố,…nhưng người bản ngữ không hề nghĩ đến chúng như là từ láy. ở đây ý nghĩa của từng thành tố trong từ còn quá rõ, chúng đã cản trở việc tạo ra một thứ ý nghĩa vốn mơ hồ, yếu ớt, mặc dù khá ổn định. Và ngược lại, khi trong từ ghép đẳng lập có xuất hiện yếu tố mờ nghĩa, người ta dễ cảm thụ chúng như là từ láy. Ðó là lí do giải thích tại sao những từ chùa chiền, hỏi han, đất đai, chim chóc, tuổi tác được nhiều người lĩnh hội như là từ láy. C. – Từ đó dẫn đến đặc điểm thứ ba, trong từ láy phải có ít nhất một yếu tố không độc (mờ nghĩa hay mất nghĩa). Như vậy, từ láy trong tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp: a – Từ láy có một yếu tố độc lập ( hay tiếng gốc) và một yếu tố không độc lập ( hay tiếng láy); b – Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập ( hay từ láy không có tiếng gốc).

3.2 . Phân loại từ láy: Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân từ láy thành các loại sau: A. – Từ láy đôi là từ láy gồm có 2 tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi sau: a. + Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu. b. + Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn. Cụ thể gồm các dạng sau: * Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu. Thí dụ: đùng đùng, lù lù, vàng vàng,… * Giống phần vần, phụ âm đầu, khác nhau thanh điệu. Thí dụ: đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tím tím,… * Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa. Thí dụ: đèm đẹp, bàng bạc,sành sạch, tôn tốt,… Dạng biến đổi này xảy ra trong các trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là -p, -t, -k ( thể hiện trên chữ viết là c và ch ). Trong trường hợp này, thanh điệu cũng biến đổi theo quy luật vừa nói trên. Còn phụ âm cuối biến đổi theo quy luật là tiếng gốc tận cùng bằng các phụ âm tắc-vô thanh sẽ được chuyển thành các phụ âm mũi-hữu thanh ở tiếng láy. Cụ thể: Tiếng gốc Tiếng láy ( Âm tắc, vô thanh) ( Âm mũi – hữu thanh) ăm ấp – p – m phơn phớt – t – n bàng bạc, sành sạch – k – ng ( thể hiện trên chữ ng và nh) B. – Từ láy ba và láy tư: Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn. Từ láy ba có kiểu phối thanh thường gặp là: -Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh ngang). -Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về bằng / trắc hoặc về âm vực cao / thấp. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất: dửng dừng dưng, cỏn còn con, sạch sành sanh, khỏe khòe khoe,… Ví dụ cho trường hợp thứ hai: khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,… Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít. Ví dụ: tơ lơ mơ, tù lù mù,… Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép. + Láy bộ phận kết hợp với đổi vần -a, -à hay -ơ. Ví dụ: ấm ớ — ấm a ấm ớ hì hục — hì hà hì hục sớn sát — sớn sơ sớn sát + Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh. Ví dụ: bồi hồi — bổi hổi bồi hồi lảm nhảm — lảm nhảm làm nhàm + Láy bộ phận kết hợp với tách, xen . Ví dụ: thơ thẩn — lơ thơ lẩn thẩn nhồm nhoàm — lồm nhồm loàm nhoàm + Láy toàn bộ kết hợp với tách, xen Ví dụ: hăm hở — hăm hăm hở hở vội vàng — vội vội vàng vàng

3 3. ý nghĩa của từ láy. ở đây, ta chủ yếu bàn về từ láy đôi. Xét tác dụng của các tiếng tham gia cấu tạo nghĩa của từ láy, có thể chia từ láy nói chung thành 3 nhóm : A. Từ láy phỏng thanh: là từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc, các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự mô phỏng âm thanh của các sự sật, hiện tượng trong thực tế. Cụ thể, đấy có thể là sự nhại lại âm thanh của đối tượng. Ví dụ: oa oa, gâu gâu, đùng đùng,…; hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng. Thí dụ: con bìm bịp, xe cút kít, chim tu hú,… B. Từ láy sắc thái hóa: là những từ mà trong đó có một yếu tố gốc và một hoặc hơn một yếu tố láy . Yếu tố gốc chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với phần gốc khi nó đứng một mình và khác với từ láy khác có cùng yếu tố gốc. Ví dụ, so sánh bối rối với rối rắc rối, rối ren, rối rít; dễ dãi với dễ, dễ dàng; xanh xanh với xanh và xanh xao,…Xét về mặt phạm vi biểu vật của từ láy so với tiếng gốc, cần phân biệt hai trường hợp: thứ nhất là từ láy phi cá thể hóa – những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật rộng hơn so với tiếng gốc; thứ hai là từ láy cụ thể hóa những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật hẹp hơn so với tiếng gốc. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất như: chim chóc, mùa màng, hội hè,…Ví dụ cho trường hợp thứ hai như: dễ dàng, dễ dãi, bối rối, rắc rối, rối rít, xanh xanh, xanh xao,… Có thể nêu ra một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của một số kiểu láy như sau: – Kiểu từ láy toàn bộ: + Tiếng gốc gốc tính từ, kiểu L( láy).G( gốc). * L. có thanh bằng: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm mang ý nghĩa giảm nhẹ. Ví dụ: kha khá, đo đỏ, tôn tốt,… * L. có thanh trắc: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm có cường độ gia tăng. Ví dụ: cỏn con, tẻo teo,… + Tiếng gốc gốc động từ: thường diễn đạt các hành động lặp đi lặp lại một cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, cường độ của hành động mang tính chất giảm nhẹ. Ví dụ: gật gật, lắc lắc, rung rung,… + Tiếng gốc gốc danh từ: thường diễn tả sự lặp đi lặp lại của các sự kiện, hiện tượng. Ví dụ: ngày ngày, người người, nhà nhà,… – Kiểu láy âm: * Kiểu G. L( -ăn): thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực. Ví dụ: đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,… * Kiểu L (-âp). G ( gốc động từ) : thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo tình thế hiện ra biến mất. Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,… C. Từ láy âm cách điệu: là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác dụng làm cơ sở nghĩa của toàn từ nữa. Ví dụ: bâng khuâng, linh tinh, thình lình,…Lọai này hiện chiếm một số lượng khá lớn trong tiếng Việt. Theo Diệp Quang Ban, đây là kiểu láy thuần khiết nhất, tiêu biểu cho toàn bộ từ láy – một kiểu cấu tạo từ lấy sự hòa phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trưng làm cơ sở. Về mô hình ngữ nghĩa của kiểu từ láy này vẫn là một vấn đề còn đang để ngỏ. Phi Tuyết Hinh trong bài Từ láy không rõ thành tố gốc và vấn đề biểu trưng ngữ âm trong từ biểu tượng tiếng Việt đã cố gắng mô hình hóa nghĩa của kiểu từ này dựa vào các đặc điểm cấu âm – âm học của chúng.

4. Từ ngẫu hợp : Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp. Ðấy là trừơng hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa. Thí dụ: cà phê, a xít, a pa tít,…cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,… • Chú ý: 1. Hiện tượng chuyển di kiểu cẩu tạo từ trong tiếng Việt: Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ cơ bản cùng với các kiểu nhỏ là: – Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa. – Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hoá. – Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu. Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói, việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể di chuyển khá phức tạp, làm cho con đường phân giới giữa chúng có thể bị nhòe đi. Trong những trường hợp đó, nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác. Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa ( nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị mờ nghĩa. Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy. Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu, trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành, hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài,…Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát. Trong khi chờ đợi những phát hiện mới mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định kiểu cấu tạo của từ.

Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói. Trong sử dụng có thể xảy ra hiện tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể. Ví dụ: – Cửa hàng ăn uống ( gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật ( rất có thể là đơn nghĩa, chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể). – Cơm nước đã sẵn sàng ( gộp nghĩa); cơm nước chán quá ( rất có thể đơn nghĩa). – Ăn ở dơ dáy ( gộp nghĩa); ăn ở với nhau được hai mụn con ( chỉ sự chung sống với nhau ), ăn ở chí tình sự ( chỉ sự cư xử với nhau trong xã hội). Hai trường hợp sau này chúng được chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa thứ nhất. Do đó muốn xác định được kiểu cấu tạo của chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh cụ thể và biện luận rõ ràng. 2. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt. Như ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định. Các kiểu cấu tạo từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ. Chính vì vậy, trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở và trung học, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất được những nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên ở các cấp học này vấn đề tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ không phải đã sáng rõ, đặc biệt là ranh giới giữa từ láy và từ ghép. Ðể có thể xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt một cách nhất quán, cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng. Dựa vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt đã nêu, ta có thể nêu lên và áp dụng một cách tuần tự các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt sau dây: – Về góc nhìn, trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đủ rõ, ta có thể xét từ tiếng Việt dựa trên quan điểm đồng đại, tức dựa vào sự nhận thức chung của người bản ngữ đương đại về nghĩa của các yếu tố cấu tạo từ. – Dựa vào số lượng tiếng trong từ. Nếu từ có một tiếng ( dĩ nhiên là tiếng độc lập) thì đó là từ đơn. Nếu từ có hơn một tiếng thì đó là từ phức. – ở những từ phức, để xác định cụ thể các kiểu cấu tạo từ, ta lại tiếp tục dựa vào quan hệ giữa các thành tố. + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, đồng thời trong đó có yếu tố không độc lập và không mang nghĩa thực thì đó là từ láy ( Ví dụ: vắng vẻ, dễ dàng, sạch sẽ,…). Tiêu chí này sẽ loại trừ các trường hợp các từ ghép có quan hệ ngẫu nhiên về mặt ngữ âm ( như hầm hố, máu mủ, tốt tươi,…). ở những từ láy ta lại tiếp tục dựa vào số lượng tiếng, dựa vào các bộ phận giống nhau trong từ để xác định các từ láy đôi, láy ba, các từ láy bộ phận hay hoàn toàn, láy âm hay láy vần. + Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mật ngữ nghĩa thì đó là từ ghép. ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể. Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập. Còn nếu một tổ hợp nêu lên một phạm vi sự vật mang ý nghĩa cụ thể thì đó là từ ghép chính- phụ. + Nếu giữa các thành tố không có quan hệ ngữ âm hoặc ngữ nghĩa thì đó là từ ngẫu hợp.

Nguồn: http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=841:cac-kiu-cu-to-t-ting-vit&catid=63:th-ng&Itemid=91

Bình chọn

Chia sẻ:

Facebook

Twitter

Thư điện tử

Tumblr

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Các Phương Thức Cấu Tạo Từ Mới / 2023

Các từ mới không phải là những từ được tạo ra một cách lẻ tẻ, rời rạc, ngẫu nhiên mà thường được tạo ra theo những khuôn mẫu cấu tạo nhất định và làm thành những hệ thống hay kiểu từ có chung đặc điểm cấu trúc và nghĩa. Đó chính là các hệ thống cấu tạo từ hay kiểu cấu tạo từ

1. Hệ thống cấu tạo từ (kiểu cấu tạo từ)

Hệ thống cấu tạo từ là tập hợp những từ có chung một khuôn hình cấu tạo (ví dụ: có chung một kiểu phụ tố, tính chất của căn tố giống nhau) và ý nghĩa cấu tạo giống nhau. Chẳng hạn, các từ worker (người lao động, công nhân), writer (người viết, nhà văn), singer (người hát, ca sĩ), reader (người đọc, độc giả) của tiếng Anh làm thành một hệ thống cấu tạo từ, vì chúng có chung một kiểu phụ tố (ở đây là hậu tố -er), tính chất của căn tố trong các từ này giống nhau (đó là căn tố động từ) và ý nghĩa cấu tạo của chúng giống nhau (người thực hiện một hành động hoặc một hoạt động nào đó). Tuy nhiên, do sự phát triển của ngôn ngữ nói chung và của vốn từ vựng nói riêng, các hệ thống cấu tạo từ có thể bị phân hoá. Một số từ trong hệ thống cấu tạo từ bị mất nghĩa ban đầu và nhận thêm nghĩa mới hoặc ý nghĩa cấu tạo đã khác đi. Do đó trong các hệ thống cấu tạo từ, ta có thể phân biệt những kiểu nhỏ hơn, dựa trên cơ sở ý nghĩa cấu tạo. Chẳng hạn, trong kiểu ‘phó + danh từ’ trong tiếng Việt, ta có thể phân biệt ít nhất ba kiểu nhỏ, chẳng hạn:

Phó giám đốc / Phó giáo sư / Phó mộcPhó hiệu trưởng / Phó tiến sĩ / Phó nề

Trong các kiểu cấu tạo từ, ta còn nhận thấy rằng, có những kiểu bao gồm nhiều từ thuộc loại và có cấu trúc hình vị giống nhau, chẳng hạn như kiểu ‘căn tố động từ + phụ tố -er’ trong tiếng Anh hay kiểu ‘nhà + danh từ’ trong tiếng Việt. Đó là những kiểu cấu tạo từ đều đặn. Thường thì những kiểu này có tính sinh sản cao, tức là được sử dụng nhiều để tạo ra từ mới và hiện vẫn còn được sử dụng. Bên cạnh đó, có những kiểu chỉ bao gồm rất ít từ hoặc thậm chí chỉ gồm một từ duy nhất thuộc loại, như trường hợp kiểu ‘danh từ + hấu’ trong tiếng Việt; nó chỉ gồm có một từ thuộc loại là dưa hấu. Kiểu này không có tính sinh sản và hiện nay không còn được sử dụng để tạo thêm từ mới.

2. Các phương thức cấu tạo từ

Trước hết cần phải nói rằng, tất cả các từ trong ngôn ngữ đều được tạo ra theo một phương thức nào đấy. Song, đối với những từ gốc có cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ, ta không thể giải thích được lý do cấu tạo của chúng, do đó không thể nói đến phương thức cấu tạo của chúng. Các từ gốc nguyên cấp đều là những từ được cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ nên thường được gọi là từ đơn. Như vậy, các từ đơn là những từ không thể giải thích được về mặt cấu tạo, trừ một số từ tượng thanh và tượng hình. Mỗi từ đơn là một đơn vị duy nhất trong ngôn ngữ, xét về cách cấu tạo, và về cơ bản mang tính võ đoán. Chính vì vậy, khi nói đến các phương thức cấu tạo từ, người ta chỉ đề cập đến những cách thức mà các ngôn ngữ sử dụng để tạo ra những từ có thể giải thích được về mặt cấu tạo (tức là các từ tạo). Những từ được tạo ra theo cách đó thường mang tính hệ thống: Chúng tập hợp thành những nhóm có chung một kiểu cấu tạo. Do vậy:

Phương thức cấu tạo từ là cách thức và phương tiện mà các ngôn ngữ sử dụng để tạo ra các kiểu cấu tạo từ.

Các kiểu cấu tạo từ trong các ngôn ngữ có thể được mô tả ở những cấp độ khác nhau, và do đó số lượng các phương thức cấu tạo từ có thể rất lớn, song xét ở cấp độ chung nhất, có thể nêu ba phương thức cấu tạo từ chủ yếu sau đây:

Ghép là phương thức kết hợp các hình vị cùng tính chất với nhau (chủ yếu là các căn tố với nhau) theo một trật tự nhất định để tạo ra từ mới – ví dụ: trong tiếng Việt: trong tiếng Anh: trong tiếng Pháp: từ ghép. Đây là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ, mua bán, thiệt hơn, thay đổi, được mất, xe hơi, blackboard (bảng đen), inkpot (lọ mực), vinaigre (giấm), sous-marin (tàu ngầm), manpower (nhân lực),

Trong số các loại từ tạo thì từ ghép thường gây nên sự nghi ngờ và bất đồng ý kiến, vì rằng chúng dễ bị nhầm lẫn với cụm từ tự do. Vì vậy, người ta phải đưa ra các tiêu chuẩn nhận diện từ ghép. Ngoài các tiêu chuẩn áp dụng đối với các từ nói chung là:

– Phải có nghĩa hoàn chỉnh, nghĩa là biểu thị một nội dung khái niệm độc lập, hoàn chỉnh.

– Có cấu trúc hình thức chặt chẽ, nghĩa là không thể bỏ đi một hình vị (từ tố) mà nghĩa của từ vẫn được giữ nguyên, hoặc không thể chêm các thành phần khác vào giữa hình vị hay chêm các thành phần phụ cho từng hình vị riêng lẻ,

còn có thể nêu thêm hai tiêu chuẩn sau đây:

– Phải có dấu hiệu hình thức, chẳng hạn như có hình vị nối ( liên tố) giữa các căn tố, ví dụ: hình vị nối -o- trong zvuk/ o/operator (người thu thanh) của tiếng Nga, hay speed/ o/meter (đồng hồ tốc độ) của tiếng Anh.

– Phải có sự biến âm (gọi là biến âm sandhi), nghĩa là các hình vị được ghép với nhau bị thay đổi hình thức ngữ âm, ví dụ: nguyên âm ‘e mũi’ của hình vị vin (rượu vang) biến thành [i] khi có được kết hợp với aigre (chua) thành vinaigre (giấm) trong tiếng Pháp, hay nguyên âm [o] của hình vị po trong từ potomu (vì vậy) trong tiếng Nga được phát âm ngắn hơn bình thường, do trọng âm của từ ghép này rơi vào âm tiết cuối.

Láy là phương thức lặp lại toàn bộ hay một bộ phận từ gốc để tạo ra từ mới – gọi là ‘ từ láy‘. Ví dụ: đen đen, trăng trắng, sành sạch trong tiếng Việt. Phương thức láy là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ không biến hình, ví dụ như tiếng Việt, Lào, Khơme, tiếng Inđônêxia, v.v… Trong nhiều ngôn ngữ, phương thức này chỉ được sử dụng rất hạn chế, và điều quan trọng là ở đó, các kiểu cấu tạo láy không có tính sinh sản, do đó thường chỉ gồm một từ duy nhất thuộc loại, chứ không bao gồm nhiều từ thuộc loại như trong các ngôn ngữ không biến hình, ví dụ như: tiptop (đỉnh cao) so-so (tàm tạm) trong tiếng Anh hay ‘ chut-chut‘ (xuýt nữa) trong tiếng Nga. Hơn nữa, nhiều khi các từ láy ở những ngôn ngữ này lại có quan hệ với hiện tượng tượng thanh hay tượng hình, ví dụ như murmur (rì rầm) hay zigzag (ngoằn ngoèo) trong tiếng Anh, và do đó, thực ra chúng không phải là những từ tạo mà là từ gốc.

Ngoài ra, láy còn là phương thức để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, ví dụ: ‘ rénrén‘ trong tiếng Trung và ‘ người người‘ trong tiếng Việt không phải là từ mới mà là dạng số nhiều của từ ‘ rén‘ và ‘ người ‘. Bởi vậy, khi xác định phương thức láy cần phân biệt các dạng láy và từ láy, cũng như từ láy nguyên cấp (từ gốc) và từ láy thứ cấp – tức từ mới được tạo ra theo phương thức láy.

Nguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 23:33 23/11/2012 Số lượt xem: 524

Các Phương Thức Cấu Tạo Từ Trong Tiếng Anh / 2023

Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh là kiến thức nền cơ bản nhất của ngữ pháp tiếng Anh. Trong đó, các nội dung chính của phương thức cấu tạo từ gồm:

Cấu tạo từ loại đơn lẻ: danh từ, tính từ, trạng từ

Cấu tạo từ ghép: danh từ ghép, tính từ ghép.

Thay đổi hậu tố hay cách nhận biết từng loại từ

2. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh – Tính từ

3. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh – Trạng từ

Các phương thức thông thường nhất là sự ghép tự do hai danh từ với nhau để tạo thành danh từ mới. Cách ghép tự do này có thể áp dụng đối với nhiều trường hợp và danh từ ghép có thể là hai từ hoặc một từ, đôi khi mang một nghĩa mới. A tennis club: câu lạc bộ quần vợt A swimming pool: hồ bơi A greenhouse: nhà kình Merry- go- round (trò chơi ngựa quay)Trong cấu tạo “danh từ + danh từ”, danh từ đi trước thường có dạng số ít nhưng cũng có trường hợp ở dạng số nhiều:

A telephone bill: hóa đơn điện thoại A sleeping bag: túi ngủ A blackboard: bảng viết Quicksilver: thủy ngân Forget- me- not (hoa lưu li) Mother- in- law (mẹ chồng/ mẹ vợ) A vegetable garden (vườn rau) An eye test (kiểm tra mắt) A sports shop (cửa hàng bán đồ thể thao) A goods train (tàu chở hàng)

Danh từ ghép có thể được viết như: A black sheep: kẻ hư hỏng Washing powder: bột giặt A train journey: chuyến đi bằng tàu hỏa Phần lớn danh từ ghép được tạo thành bởi:

Một số ít danh từ ghép có thể gồm ba từ hoặc nhiều hơn:

Hai từ rời: book seller (người bán sách), dog trainer (người huấn luyện chó)

Hai từ có gạch nối ở giữa: waste- bin (giỏ rác), living-room (phòng khách)

Một từ duy nhất: watchmaker (thợ chế tạo đồng hồ), schoolchildren (học sinh), chairman (chủ tọa).

b. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh – Tính từ ghép

– ise/ -ize: modernize, popularize, industrialize… Bằng cách thêm phụ tố (affixation) bao gồm tiền tố (prefixes) vào đầu một từ gốc hoặc hậu tố (suffixes) vào cuối từ gốc ta có cách cấu tạo một hình thái từ mới rất phổ biến trong tiếng Anh. – ify: beautify, purify, simplify

-y: bushy, dirty, hairy… Lưu ý: Đối với các tiền tố in-, im-, ngoài ý nghĩa phủ định chúng còn mang nghĩa ‘bên trong; vào trong”, Ví dụ: internal, income, import..

Các tiền tố un- và dis- còn được dùng để thành lập từ trái nghĩa của động từ: tie/untie, appear/disappear..hoặc đảo ngược hành động hành động của động từ: disbelieve, disconnect, dislike, disqualify, unbend, undo, undress, unfold, unload, unlock, unwrap..

Ngoài ra ra còn có tiền tố phủ định de- và non: decentralize, nonsense… -ic: atomic, economic, poetic -al: cultural, agricultural, environmental -ical: biological, grammatical -ful: painful, hopeful, careful -less: painless, hopeless, careless -able: loveable, washable, breakable -ive: productive, active -ous: poisonous, outrageous * Hậu tố tạo danh từ:

Các hậu tố hình thành danh từ thường gặp.

– chỉ người thực hiện một hành động – ta còn dùng hậu tố này cho rất nhiều động từ để hình thành danh từ

Writer, painter, worker, actor, operator

Dùng chỉ vật thực hiện một công việc nhất định

Pencil- sharpener, grater Bottle-opener, projector

Chỉ người Chỉ hoạt động hoặc hệ tư tưởng (hai hậu tố này dùng cho chính trị , niềm tin và hệ tư tưởng hoặc ý thức hệ của con người)

Buddhist, Marxist Buddhism, communism

Còn dùng để chỉ người chơi một loại nhạc cụ, chuyên gia một lĩnh vực…

Guitarist, violinist, pianist Economist, biologist

Chỉ trạng thái, phẩm chất, tình trạng, khả năng hoặc nhóm

Friendship, citizenship, musicianship, membership

cautious B. cautiously C. cautional D. cautionally

Các Kiểu Lát Sàn Gỗ Xương Cá Đẹp / 2023

Từ những năm gần đây, khi sàn gỗ xương cá đang được ưa chuộng và rất thịnh hành tại các nước Châu Âu thì đến nay, sàn gỗ lát xương cá chính thức được quan tâm và dường như trở thành trào lưu tại Việt Nam. Xu hướng này ngày càng được ưa chuộng bởi nó mang lại vẻ đẹp rất lạ, vừa mang khuynh hướng Tây Âu lại vừa cổ điển, không kém phần sang trọng.

Sàn nhà được ốp bằng kiểu xương cá mang lại sự sang trọng, mới mẻ cho không gian sử dụng

Sàn gỗ xương cá là gì?

Sàn gỗ kiểu xương cá là một loại sàn được lát theo kiểu so le hoặc vân gỗ theo hình xương cá, sử dụng sàn gỗ tự nhiên với các tấm gỗ có kích thước phù hợp đan chéo với nhau theo một trật tự như khung xương cá. Nó được xem là một thiết kế mang phong cách cổ điển phương Tây, được ưa chuộng và sử dụng nhiều trong các công trình dân dụng và thương mại. Cách lát sàn xương cá này tuy không mới nhưng luôn được yêu thích trong mọi thời đại bởi sở hữu giá trị thẩm mỹ vượt trội cho không gian sử dụng.

Lamton là một trong những dòng sàn gỗ công nghiệp xương cá rất được ưa chuộng trên thị trường hiện nay

Cấu tạo của sàn gỗ lát xương cá

Tương tự như các loại gỗ sàn công nghiệp khác, sàn gỗ xương cá công nghiệp gồm 4 lớp:

Lớp phủ bề mặt: phủ 1 lớp Oxit kim loại trong suốt có tác dụng chống mài mòn.

Lớp vân gỗ: được thiết kế tinh xảo tạo cảm giác như vân gỗ tự nhiên, nhập trực tiếp tại Đức .

Lớp HDF: 100% lõi gỗ cứng HDF không pha trộn tạp chất khác.

Lớp màng nhựa: tạo sự cân bằng và vững chắc cho sàn gỗ giúp chống lại ẩm mốc, hạn chế cong vênh cho sàn.

Cấu tạo của sàn gỗ vân xương cá công nghiệp với 4 lớp có kết cấu chặt chẽ.

Kích thước sàn gỗ xương cá

Thành công lớn nhất của sàn gỗ công nghiệp lát xương cá đó chính là tích hợp ứng dụng “công nghệ bề mặt EIR” tạo đường vân gỗ hoàn hảo từng chi tiết nhỏ cho cảm giác như đi trên mặt gỗ thật. Quy cách tấm sàn vân gỗ xương cá có kích thước 1218 x 300 x 12mm mang đến sự vững chắc, thoải mái, yên tâm, thỏa mãn người dùng yêu thích mẫu sàn gỗ này. Kích thước sàn gỗ xương cá đạt tiêu chuẩn là chiều dài nhỏ hơn 90cm và chiều rộng nhỏ hơn 10cm là đạt yêu cầu.

Đối với sàn gỗ tự nhiên xương cá, kích thước chung phù hợp ở khoảng 600mm. Với sàn gỗ công nghiệp, tùy vào các loại mà sẽ có kích thước cũng khác nhau. Bạn có thể tham khảo một số thương hiệu sàn xương cá được đánh giá cao như: Lamton, Ekogreen,…. Ngoài ra, việc lựa chọn độ dày của ván sàn cũng rất quan trong, bạn có thể an tâm sử dụng khi lựa chọn 8mm hay 12mm đều phù hợp cho việc ốp sàn.

Kích thước chuẩn của thanh sàn gỗ dùng để ốp kiểu xương cá

Ưu điểm – Nhược điểm khi ốp sàn xương cá

Ưu điểm khi ốp sàn gỗ vân xương cá

Về mặt thẩm mỹ

Ốp sàn xương cá là kiểu mới lạ, độc đáo. Sau khi ốp xong ngôi nhà của bạn sẽ trở nên mới mẻ, hiện đại hơn so với kiểu ốp sàn thông thường.

Kiểu ốp này chưa phổ biến nên ngôi nhà của bạn sẽ không bị đụng hàng với đại đa số những ngôi nhà khác. Thể hiện được cá tính và đẳng cấp riêng cho ngôi nhà.

Mang lại sự sang chảnh, cầu kỳ hơn cho không gian sử dụng. Kiểu ốp xương cá này lấy cảm hứng từ các nước phương Tây nên đã chinh phục được không ít nhóm khách hàng tầm cao, có điều kiện mê mẩn vì nó mang lại giá trị cao quý, độc đáo, mang lại chất riêng tại Việt Nam.

Thường sử dụng từ các loại gỗ quý như Giáng Hương, Chiu Liu, Gõ Đỏ, Pơ Mu,… những loại cây mang giá trị cao về giá thành và chất lượng.

Ốp sàn gỗ kiểu xương cá thể hiện được cá tính và đẳng cấp riêng cho ngôi nhà

Về mặt kỹ thuật

Cấu trúc ốp so le chặt chẽ giúp bề mặt sàn chắc chắn hơn, không bị xê dịch bởi tác động của ngoại lực và thời tiết. Vì áp dụng với cấu trúc lát chéo giúp cho gỗ có độ giản nỡ cân bằng, ít bị cong phồng.

Cốt gỗ đạt tiêu chuẩn Châu Âu nên rất thân thiện với môi trường, an toàn sức khỏe người tiêu dùng.

Di chuyển thoải mái trên bề mặt, tạo cảm giác nhẹ nhàng, êm chân khi bước trên nền sàn.

Màu sắc, kiểu dáng đa dạng và độc lạ phù hợp với mọi công trình dân cư, dân dụng và thương mại.

Dễ dàng lau chùi, vệ sinh trong quá trình sử dụng.

Một số loại sàn gỗ tự nhiên xương cá có mùi hương đặc trưng mang đến cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái cho người sử dụng.

Tạo giá trị khác biệt cho ngôi nhà và người sở hữu

Người dùng khi lựa chọn kiểu lát sàn gỗ kiểu xương cá chắc chắn sẽ không bị trùng lặp với các kiểu ốp thông thường, tạo nên giá trị chuyên biệt cho ngôi nhà của bạn. Ngoài ra, kiểu ốp này rất độc lạ mang lại sự sang trọng, độc đáo, thể hiện cá tính riêng của người sử dụng. Đặc biệt nó góp phần mang lại giá trị cá nhân, nâng cao vị thế cho ngôi nhà.

Nhược điểm khi ốp sàn gỗ kiểu xương cá

Quá trình thi công sàn gỗ xương cá rất công phụ, đòi hỏi đội ngũ thợ phải có tay nghề cao và tỉ mỉ. Khi việc thi công đúng tiêu chuẩn thì sàn gỗ mới đảm bảo các góc cạnh được ốp chặt chẽ và sàn nhà phẳng, không bong.

Khi sàn gặp sự cố hay bị hư hỏng, tốn rất nhiều thời gian, chi phí cao và khá khó khăn trong việc sửa chữa, bảo trì lại.

Khi thi công, số lượng gỗ hao hụt sẽ cao hơn so với kiểu lắp đặt sàn gỗ thông thường khác.

Nếu không sử dụng nữa thì việc tháo dỡ để dùng lại rất khó, thậm chí phải bỏ đi.

Không thể mua các loại ván lát sàn công nghiệp thông thường để lát theo kiểu xương cá được. Bất kể là gỗ tự nhiên hay công nghiệp. Sản phẩm cần được thiết kế theo quy cách riêng mới có thể thi công – lắp đặt kiểu xương cá.

Các loại sàn xương cá đang được ưa chuộng trên thị trường

Sàn gỗ tự nhiên lát kiểu xương cá

Với việc lựa chọn ốp xương cá bằng ván sàn tự nhiên, trước tiên bạn sẽ an tâm về chất lượng gỗ vì được làm từ các loại gỗ quý như Căm xe, Giáng Hương, Ốc Chó, Chiu Liu, Gõ Đỏ, …

Khi lựa chọn kiểu ốp này, trước khi tiến hành thi công họ phải lấy được thiết kế hèm. Hèm trái phải có bộ riêng của nó, không thể dùng loại khác để thay thế và quy cách tấm ván bạn lựa chọn. Do đó, bạn cần yêu cầu với đơn vị cung cấp loại gỗ và loại ván mà bạn thích. Sau đó bạn cập nhật báo giá và tiến hành thi công theo kiểu xương cá.

Thông thường, sản phẩm gỗ tự nhiên dùng để ốp kiểu xương cá sẽ có quy cách kích thước tấm gỗ ngắn, khoảng 600mm.

Với kiểu ốp xương cá, sàn gỗ tự nhiên mang lại bề mặt sàn thẩm mỹ cao, độc đáo, sang trọng hơn so với các kiểu ốp thông thường. Sàn ốp kiểu xương cá thực sự đã trở thành một khuynh hướng nghệ thuật hoàn mỹ.

Dòng sàn gỗ xương cá tự nhiên đang được ưa chuộng nhất hiện nay là Ekogreen, với kích thước lớn W125 x L1870, độ dày 13.5mm và độ bền hiện đang đứng đầu trên thị trường.

Ốp sàn kiểu xương cá bằng ván gỗ tự nhiên mang lại cảm giác chân thực cho không gian sống.

Sàn gỗ công nghiệp xương cá

Trước đây, sàn công nghiệp không đạt tiêu chuẩn về chất lượng cốt gỗ để dùng lát sàn xương cá. Tuy nhiên, do nhu cầu đa dạng của người dùng ngày càng tăng kèm theo việc áp dụng công nghệ hiện đại nên ván lót công nghiệp hoàn toàn có thể dùng làm ván sàn ốp kiểu xương cá.

So với sàn gỗ tự nhiên, sàn gỗ công nghiệp sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội hơn về màu sàn gỗ, kiểu dáng, mẫu vân gỗ, kích thước và giá thành nhiều mức để bạn lựa chọn.

Đặc biệt, hiện nay tại nhiều đơn vị uy tín không ngừng cập nhật xu hướng, cho ra mắt nhiều bộ sưu tập ván sàn công nghiệp độc đáo, mới lạ có thể ghép theo kiểu xương cá, đẹp đến bất ngờ.

Theo đánh giá người dùng, lát sàn gỗ kiểu xương cá đang được tin chọn là mẫu sàn gỗ công nghiệp Lamton, AC4 – AC5, Class 32, độ dày 8mm hoặc 12mm, 1218 x 300 x 8mm/12mm đi đầu về xu hướng và giá thành phù hợp.

Sàn gỗ công nghiệp xương cá sở hữu phong cách hiện đại, đa dạng cho người dùng.

Sàn gỗ kỹ thuật xương cá

Là kiểu ốp sàn với cấu trúc kết hợp gỗ tự nhiên và gỗ công nghiệp. Có cấu tạo 2 lớp rất đặc biệt gồm:

Lớp bề mặt: có độ dày khoảng 3mm là gỗ tự nhiên mang đến cảm giác chân thực, tươi mới cho người dùng.

Lớp đế: có độ dày khoảng 12mm được cấu tạo với cấu trúc dày đặc , gồm 7 – 9 lớp gỗ chồng lên nhau giúp cho sản phẩm ván sàn được tạo ra có chất lượng bền, chịu được tác động ngoại lực cao và tính chống mài mòn tốt.

Sàn gỗ kỹ thuật xương cá được xem là bước đột phá, sáng tạo trong thiết kế ốp lát sàn gỗ. Nó mang lại giá trị thẩm mỹ cao, gần giống với sàn tự nhiên sau khi lắp đặt gần 100%. Chính vì vậy, đang được đại đa số khách hàng tìm kiếm và lựa chọn vì nó mang khuynh hướng thiết kế hiện đại.

Không gian nhà trở nên sống động hơn khi ốp bằng sàn gỗ kỹ thuật xương cá.

Nên dùng loại sàn gỗ xương cá nào tốt ?

Trong nhiều năm trước, sàn gỗ lát xương cá còn chưa được thịnh hành tại Việt Nam vì kiểu dáng của nó còn quá mới mẻ và không gần gũi thì hiện nay, nó nhanh chóng trở thành mẫu ốp sàn gỗ được rất nhiều nhóm khách hàng yêu thích. Trước đây, sàn gỗ lát xương cá cao cấp chỉ làm từ một số loại gỗ quý phổ biến như sàn gỗ chiu liu xương cá, sàn gỗ căm xe xương cá, …thì bây giờ, các đơn vị uy tín đã và đang nổ lực cho ra mắt rất nhiều thương hiệu sàn gỗ vân xương cá đảm bảo được cả về chất lượng và giá thành như: Ekogreen – Thương hiệu sàn gỗ Malaysia chính hãng, Lamton, …và với hai thương hiệu này lại cho ra đời hàng chục kiểu dáng, màu sắc khác nhau. Chúng được ưa chuộng vì sở hữu những đặc tính vượt trội sau:

Siêu chịu nước, không bắt lửa, chịu lực tốt.

Chống trầy xước, chống mài mòn.

Khả năng chống mối mọt, ẩm ướt cao.

Không chứa hàm lượng độc hại Formaldehyde và các chất kim loại nặng khác.

Giá thành tốt, chỉ khoảng bằng 1/3 so với sàn gỗ xương cá tự nhiên.

Độ bền vượt thời gian, thời gian bảo hành 25 năm trong quy định.

Thời gian thi công nhanh hơn so với kiểu ốp xương cá sàn tự nhiên.

Cách lát sàn gỗ xương cá

Video hướng dẫn quy trình thi công, lát sàn gỗ kiểu xương cá chi tiết

Bước 1: Kiểm tra, xử lý bề mặt sàn

Để sàn gỗ không bị cong vênh, lồi lõm hay bị lún sau thời gian đã thi công cần kiểm tra và xử lý chặt chẽ bề mặt của sàn. Nếu bề mặt ghồ ghề cần xử lý ngay bằng cách đổ bê tông hay san bằng lại với xi măng. Sau đó, khi bề mặt đã phẳng tiến hành quét dọn sạch sẽ để tránh bụi bẩn bám lại trong quá trình thi công.

Bước 2: Phủ lớp lót sàn Silhero chuyên dụng

Khi phủ miếng xốp, lưu ý phải trải thật phẳng, không được gấp khúc ở bất cứ vị trí nào, cách chân tường khoảng 2 – 3cm và dùng băng dính, keo chuyên dụng để cố định chúng lại với nhau.

Bước 3: Tiến hành thi công, lát sàn gỗ kiểu xương cá

Màu gỗ được nổi bật nhất khi đúng với hướng ánh sáng. Do vậy, bạn cần quan sát hướng ánh sáng của ngôi nhà. Đầu tiên, nối 2 thanh gỗ lại với nhau theo hình mũi nhọn với độ chéo khoảng 45 độ theo hình xương cá. Lưu ý giữ khoảng cách từ mép sàn đến chân tường một khoảng cố định. Tiếp tục công đoạn này cho đến cuối chân tường. Kích thước thanh gỗ thường không đều nhau, dùng thước đo và thêm bớt sao cho hợp lý và chính xác về độ dài với nhau.

Bước làm này tiếp tục cho đến hàng thứ năm thì nên dừng lại, tránh hiện tượng bị lệch nếu không cân chỉnh kịp thời. Sau đó, tiếp tục dùng bút chì kẻ theo một đường thẳng lên thanh gỗ đã ghép nhằm cân chỉnh cho thật chính xác và điều chỉnh kịp thời. Sau đó, tách các thanh gỗ đã ghép, dùng cưa cắt phần gỗ thừa. Đẩy những thanh gỗ đã cắt vào sát mép tường. Lưu ý về độ giãn nở của gỗ mà để lại một khoảng cách nhất định.

Tiếp tục như vậy cho đến khi ốp xong diện tích. Những khoảng trống thừa thì cần dùng thước để đo chính xác kích thước rồi cắt các thanh gỗ sao cho phù hợp với khoảng trống đã đo và ốp vào.

Bước 4: Lắp các phụ kiện sàn gỗ

Sau khi đã ốp xong phần diện tích thi công, thợ dùng các phụ kiện như len, nẹp để cố định và che đi các khe hở nhằm đảm bảo độ bền cho bề mặt cũng như tăng tính thẩm mỹ cho sàn nhà. Sau đó, cố định mép của ván sàn và dùng búa cao su để cố định với mặt nền. Cuối cùng, dùng nẹp để kết thúc ở tấm ghép cuối cùng và quét dọn, vệ sinh sạch sẽ bề mặt sàn bằng các vật dụng chuyên dụng.

Báo giá sàn gỗ xương cá mới nhất

Trên thị trường hiện nay, sàn gỗ vân xương cá có rất nhiều thương hiệu với giá thành không giống nhau. Tùy vào chất lượng, xuất xứ, kiểu dáng mà giá của nó cũng có sự chênh lệch khá rõ ràng. Floordi xin cung cấp bảng báo giá được cập nhật mới và chính xác nhất 2020 như sau:

Các kiểu lát sàn gỗ xương cá đẹp

Hiện nay, xu hướng lựa chọn kiểu ốp xương cá rất đa dạng. Khách hàng ngày càng yêu cầu cao hơn về thiết kế và mẫu mã. Với nhu cầu ngày càng phát triển, vượt xa giới hạn truyền thống, các đơn vị đã cho ra đời nhiều kiểu ốp xương cá độc đáo và mới lại, phù hợp với hầu hết các nhóm khách hàng khác nhau.

Sàn gỗ lát xương cá không chỉ độc đáo về phong cách mà còn có thể thỏa mãn các nhu cầu ghép chéo. Nó dần hình thành thói quen lựa chọn kiểu dáng cao cấp mới cho khách hàng. Không chỉ mang lại lợi thế về kinh tế, lát sàn gỗ kiểu xương cá vượt trội hơn về chất lượng, đa dạng về mẫu mã, màu sắc. Đây dường như là một ưu điểm cực lớn khi lát sàn xương cá.

Ốp sàn gỗ xương cá kiểu sang trọng

Kiểu ốp xương cá theo khuynh hướng sang trọng sẽ phụ thuộc vào sự lựa chọn về màu sắc và vân gỗ. Màu phải theo tone màu trầm, vân gỗ sắt nét. Nó còn phụ thuộc vào sự kết hợp giữa khung màu sáng và tối cùng với đồ nội thất sao cho hài hòa. Phong cách này thường được lựa chọn cho nhữ ng khu vực như sảnh khách sạn, phòng khách, cửa hàng, quán ăn hay những căn hộ theo phong cách này.

Sự đẳng cấp được thể hiện rõ khi ốp với kiểu xương cá mang phong cách sang trọng.

Ốp sàn gỗ xương cá kiểu mộc mạc

Với kiểu dáng mộc mạc, cách ốp theo kiểu hình zích zắc sẽ mang lại cảm giác mộc mạc, giản dị cho không gian của bạn. Chúng ta nên chọn những màu gỗ trung tín, sáng đến sáng vừa. Khi lựa chọn đúng với tiêu chí này, không gian của bạn trông tự nhiên, nhẹ nhàng và ấm áp. Phù hợp với những lối không gian như hộ gia đình trẻ, những nhóm khách hàng ở độ tuổi trưởng thành và những khu vực cần ốp theo phong cách đơn giản, hòa quyện với thiên nhiên. Đây là kiểu ốp xương cá đang được lựa chọn rất nhiều của năm 2020.

Ốp sàn gỗ kiểu xương cá mộc mạc mang lại cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái cho người dùng.

Ốp sàn gỗ xương cá kiểu hiện đại

Với lối phong cách hiện đại, bạn vẫn có thể lựa chọn kiểu ốp hình zích zắc, các tấm ván sẽ được lắp xen kẽ song song hai màu sáng tối cạnh nhau, nhằm tạo nên không gian ấn tượng, bắt mắt.

Ốp sàn xương cá kiểu hiện đại mang lại không gian tràn đầy năng lượng cho ngôi nhà

Kiểu ốp này phù hợp với những khu vực ốp lát như văn phòng, nhà ở, căn hộ chung cư cao cấp, đòi hỏi tính sáng tạo cao. Dành cho những nhóm khách hàng năng động, trẻ trung và tràn đầy năng lượng. Đặc biệt với những nơi như các công ty, văn phòng hoạt động trong lĩnh vực giải trí, nghệ thuật sẽ có xu hướng thích chọn kiểu lát sàn xương cá hiện đại này.

Ốp sàn gỗ xương cá kiểu 3D

Kiểu ốp sàn xương cá 3D là sự kết hợp không theo quy định bắt buộc, phối hợp nhiều kiểu ốp thông thường lại với nhau.Với kiểu ốp này, không gian của bạn sẽ trở nên huyền ảo, rộng rãi, chất và thoáng hơn. Nó thường được sử dụng cho những căn hộ cao cấp, có thiết kế sẵn.

Nó không chỉ mang lại điểm nhấn mới mẻ, đặc sắc; sàn gỗ vân xương cá 3D còn giúp đơn giản hóa quy trình lắp đặt và bảo trì. Có thể thấy, lót sàn theo kiểu 3D này rất linh hoạt, vừa mang nét cổ điển lại vừa hiện đại. Tuy nhiên, không phải khách hàng nào cũng thích kiểu ốp này vì nó mang lại sự đột phá, phá cách rất riêng.