Đề Xuất 12/2022 # Tỉnh Táo Trong Quản Trị Công Ty: Cấu Trúc Sở Hữu Và Khả Năng Thao Túng / 2023 # Top 17 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Tỉnh Táo Trong Quản Trị Công Ty: Cấu Trúc Sở Hữu Và Khả Năng Thao Túng / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tỉnh Táo Trong Quản Trị Công Ty: Cấu Trúc Sở Hữu Và Khả Năng Thao Túng / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vì thế, cần có sự kiểm tra, giám sát tính minh bạch trong công bố thông tin, nhằm giúp cổ đông có thể nhận diện được mức độ sở hữu và kiểm soát của những người kiểm soát thực sự trong công ty đại chúng.

Đi tìm người kiểm soát thực sự

Trong nhiều thông tin quan trọng về hoạt động của doanh nghiệp, để phần nào đo lường được mức độ chính trực và minh bạch của một công ty đại chúng, “Ai là người thực sự kiểm soát công ty?”là thông tin vô cùng quan trọng cho cổ đông, bởi chính người này sẽ là người đại diện cho tinh thần chính trực và minh bạch thông tin, cũng như có thể cho thấy liệu công ty có bị thao túng hay không. Tuy nhiên, không dễ nhận biết được người kiểm soát thực sự hay người kiểm soát sau cùng của một công ty đại chúng nếu cấu trúc sở hữu và liên kết sở hữu của các công ty không được công bố đầy đủ.

Có 2 loại cấu trúc sở hữu là phân tán và tập trung.

Trong

cấu trúc

sở hữu tập trung

,

cả

quyền sở hữu lẫn quyền kiểm soát công ty tập trung vào tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý, hoặc các định chế cho vay.

Những cá nhân và nhóm này (người bên trong) thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức công ty vận hành. Bởi vậy, cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ. Những cổ đông lớn kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp bằng cách tham gia hội đồng quản trị và ban điều hành. Cổ đông lớn có thể không sở hữu vốn toàn bộ nhưng có quyền biểu quyết đáng kể, nên vẫn có thể được kiểm soát doanh nghiệp. Trong

cấu trúc sở hữu phân tán

thì có

nhiều cổ đông, mỗi cổ đông sở hữu một số cổ phần doanh nghiệp, quyền kiểm soát hoạt động công ty do ban giám đốc nắm giữ.

Các cổ đông nhỏ ít có động lực để kiểm tra chặt chẽ hoạt động và không muốn tham gia điều hành công ty. Bởi vậy họ được gọi là người bên ngoài và cấu trúc phân tán được gọi là hệ thống bên ngoài. Cấu trúc sở hữu của 100 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa lớn nhất trên 2 sàn chứng khoán Hà Nội và chúng tôi năm 2010 cho thấy, tỉ lệ nắm giữ cổ phần bình quân của 10 cổ đông lớn nhất trong các công ty là 70% và của 5 cổ đông lớn nhất là 61%. Nếu xét đến tất cả các công ty trên sàn, tức bao gồm cả những công ty có quy mô nhỏ hơn, mức độ tập trung sở hữu này sẽ lớn hơn nhiều, vì đa phần các công ty niêm yết quy mô nhỏ đều đi lên từ công ty gia đình mà trong đó, người sở hữu cũng đồng thời nắm quyền kiểm soát. Điều này cho thấy cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất tập trung. Mỗi hệ thống cấu trúc sở hữu có những điểm thuận lợi và bất lợi cũng như tiềm ẩn những thách thức về quản trị doanh nghiệp. Đối với cấu trúc sở hữu tập trung, doanh nghiệp do những người bên trong kiểm soát có những điểm thuận lợi đáng chú ý. Những người này có quyền lực và động lực để kiểm soát doanh nghiệp chặt chẽ. Nhờ đó, giảm thiểu được tình trạng sai phạm hay gian dối trong quản trị và điều hành. Tuy nhiên, hệ thống này cũng dẫn doanh nghiệp đến những thất bại trong quản trị. Chẳng hạn, khi những người điều hành là các cổ đông lớn hay có quyền biểu quyết lớn, họ có thể dùng quyền của mình để tác động đến quyết định của hội đồng quản trị sao cho có lợi cho mình nhưng lại không có lợi cho công ty. Một trường hợp phổ biến là các nhà quản lý thuyết phục hội đồng quản trị trả lương và phúc lợi rất cao cho cấp quản lý hoặc phê duyệt việc mua bán yếu tố đầu vào giá cao từ các công ty mà họ có sở hữu hoặc có mối quan hệ. Nghiêm trọng hơn, họ có thể sử dụng những thông tin bí mật để trục lợi như giao dịch nội gián.

Liên kết sở hữu

Sở hữu kim tự tháp

là hình thức sở hữu bởi một người kiểm soát thực sự thông qua nhiều tầng nấc sở hữu tại các công ty khác. Chẳng hạn, A nắm 20% vốn của B, B lại nắm 10% vốn của C. A được gọi là chủ sở hữu sau cùng của C, vì A kiểm soát C thông qua B. A có thể tác động lên một quyết định nào đó của C nhưng chỉ chịu 2% (= 20% x 10%) mức độ ảnh hưởng (hoặc mức độ thiệt hại) của quyết định đó. Điều đó có nghĩa hình thức

sở hữu kim tự tháp có khả năng xâm phạm quyền lợi của các cổ đông khác.

Bởi lẽ, A có thể vì tư lợi mà ra những quyết định có lợi cho mình nhưng có hại cho công ty C, trong khi chỉ chịu thiệt hại không đáng kể trên phần vốn góp của mình. Nghiên cứu cấu trúc sở hữu của 100 công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam năm 2010 chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu của các công ty niêm yết khá phức tạp. Trong một số trường hợp, chủ sở hữu sau cùng nắm quyền kiểm soát chi phối một công ty thông qua đến 4-5 nấc sở hữu. Hình thức thứ hai,

cấu trúc sở hữu chéo

, xuất hiện khi A kiểm soát B (trong ví dụ trên) nhưng trong trường hợp này, B cũng nắm quyền kiểm soát tại A. Mặc dù với tỉ lệ sở hữu chéo không cao, nhưng sự ràng buộc sở hữu chéo này lại làm gia tăng mức độ liên kết của A và B trong việc kiểm soát C. Về nguyên tắc,

cấu trúc sở hữu chéo giúp các công ty gia tăng mức độ liên kết, cam kết và hợp tác thực hiện chiến lược, nhưng nếu năng lực kiểm soát việc thực thi pháp luật không cao có thể sẽ dẫn đến tình trạng các công ty liên kết vi phạm quyền lợi cổ đông nhỏ

. Có thể thấy, hình thức cấu trúc kim tự tháp và sở hữu chéo tồn tại ở hơn 13 trong số 100 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất nói trên. Các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng 2 hình thức sở hữu này tồn tại phổ biến ở các nước có chỉ số bảo vệ quyền cổ đông thấp. Trong đó, sở hữu kim tự tháp có mức độ phổ biến cao hơn vì nó giúp cổ đông lớn dễ dàng hơn trong việc ảnh hưởng lên cổ đông nhỏ trong các quyết định chỉ có lợi cho họ. Cấu trúc sở hữu tập trung hay phân tán đều có điểm mạnh và điểm yếu, nhưng

điều quan trọng là cần tuân thủ những nguyên tắc cốt lõi của quản trị doanh nghiệp. Đó là tính chính trực, trách nhiệm và minh bạch.

Quản trị công ty là một chặng đường dài nhiều trở lực. Trước mắt, tính minh bạch và công khai thể hiện qua việc công bố thông tin là khởi đầu cho những nỗ lực hoàn thiện quản trị doanh nghiệp.

  Theo NCĐT

Cấu Trúc Sở Hữu Của Doanh Nghiệp Quản Lý / 2023

Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp quản lý

Cùng với sự tách rời quyền sở hữu và quyền quản lý, yêu cầu về phát triển về quy mô cũng như đầu áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất khiến nhu cầu về vốn của doanh nghiệp tăng mạnh vượt khỏi khả năng tài chính của một cá nhân. Điều này dẫn đến thực tế là một doanh nghiệp có thể có nhiều chủ sở hữu hay cổ đông, mỗi cổ đông chiếm một tỉ lệ nhất định, gọi là phần trăm cổ phần, trong tổng số vốn của doanh nghiệp; tỉ lệ này sẽ quyết định vai trò và vị thế của cổ đông cũng như loại hình cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp.

1. Phân loại sở hữu của cổ đông

Trong nghiên cứu của mình, Berle & Means (1932) phân tích sự xuất hiện phổ biến của mô hình “doanh nghiệp quản lý” trong các doanh nghiệp lớn tại Mỹ. Tùy theo mức độ hay tỉ lệ phân chia vốn giữa các cổ đông, tác giả đã phân rõ 5 loại hình sở hữu cơ bản của cổ đông trong doanh nghiệp quản lý, cụ thể gồm:

Sở hữu hầu như toàn bộ (Control through almost complete ownership): khi một cá nhân hay một nhóm nhỏ cổ các đông sở hữu toàn bộ hay hầu như toàn bộ số cổ phần (trên 80%) đang lưu hành của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, các chủ sở hữu sẽ nằm quyền lựa chọn người (ban) điều hành doanh nghiệp và chi phối ban lãnh đạo doanh nghiệp;

Cổ đông lớn (Majority control): khi một cá nhân hay một nhóm nhỏ các cổ đông sở hữu phần lớn cổ phần (từ 50% đến 80%) của doanh nghiệp; cá nhân hay nhóm nhỏ này sẽ nắm hầu hết quyền lực hợp pháp trong doanh nghiệp;

Quyền sở hữu có được thông qua các quy trình hợp pháp (Control through a legal device without majority ownership) theo kiểu tích lũy hình chóp (Pyramiding), sử dụng cổ phần không có quyền biểu quyết (Non-voting stock) hoặc cổ phần ưu đãi biểu quyết (Shares having excessive voting power) hoặc bầu trên cơ sở lòng tin (Voting Trust). Ví dụ, sự tập hợp các cổ đông nhỏ, đặc biệt dưới dạng holdings (Pyramiding), sẽ cho phép các chủ sở hữu quyền kiểm tra, giám sát những người đại diện cầm quyền điều hành và quản lý doanh nghiệp;

Cổ đông nhỏ (Minority control): khi một cá nhân hay một nhóm nhỏ các cổ đông nắm một số lượng cổ phần nhất định (từ 20% đến 50%), đủ để chi phối hoạt động điều hành và quản lý doanh nghiệp. Về cơ bản, doanh nghiệp càng lớn, số lượng cổ đông càng tăng, sẽ càng khó để để đạt được một nhóm cổ đông đủ lớn để chi phối sự điều hành doanh nghiệp;

Sở hữu rải rác: khi không một cá nhân hay một nhóm nhỏ nào đạt số vốn hay tỉ lệ cổ phần vừa đủ (dưới 20%) để có thể chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp dưới quyền kiểm soát của các nhà quản lý (Management control) nên được gọi là doanh nghiệp quản lý.

Nghiên cứu về cấu trúc sở hữu, các học giả chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa mức độ phân tán về sở hữu (vốn) của các cổ đông và quyền lực của nhà quản lý trong doanh nghiệp (Berle và Means, 1932; Larner, 1966). Trong các doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu tập trung (tùy theo các học giả là trên 20%, 10% hay 5%), nói cách khác sở hữu tập trung chủ yếu trong tay một hay một nhóm cổ đông, theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận của chủ doanh nghiệp, nhóm này sẽ giám sát chặt chẽ hoạt động điều hành và quản lý doanh nghiệp của nhà quản lý nhằm đạt được lợi ích cao nhất. Họ cũng là người có quyền lực cao nhất trong quy trình ra quyết định và vì vậy có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nhà quản lý.

Ngược lại, doanh nghiệp sở hữu rải rác hay dưới quyền kiểm soát của các nhà quản lý (Management control) (tùy theo các học giả là dưới 20%, 10% hay 5%) cho phép các nhà quản lý xem nhẹ lợi ích của các cổ đông, do ít bị khống chế bởi các cổ đông, họ thường ưu tiên các mục tiêu của mình hơn là của các cổ đông. Vì trong trường hợp này, cổ đông không có nhiều động lực để tham gia vào HĐCĐ vì hiểu rằng họ hầu như không có quyền lực, vốn tỉ lệ với cổ phần cũng hạn chế của họ, đối với doanh nghiệp. Đối với HĐQT, về bản chất, họ cũng là một nhóm cổ đông, thường chiếm tỉ lệ cổ phần cao nhất, được các cổ đông khác ủy quyền để đại diện giám sát hoạt động điều hành và quản lý của nhà quản lý. Nói cách khác, HĐQT là nhóm cổ đông có quyền lợi và quyền hạn cao nhất gắn với doanh nghiệp. Tuy nhiên, tỉ lệ cổ phần gắn liền với lợi ích và quyền ra quyết định của mỗi cá nhân hay nhóm cổ đông; tỉ lệ này càng cao thì cổ đông hay nhóm cổ đông (HĐQT) sẽ càng có trách nhiệm và quyền giám sát hoạt động điều hành và quản lý doanh nghiệp chặt chẽ hơn, và ngược lại. Vì vậy, nếu sở hữu của các cổ đông càng phân tán rải rác (nhiều cổ đông) thì số lượng cổ đông (gắn liền với tỉ lệ cổ phần của họ) bị mất quyền giám sát doanh nghiệp sẽ càng cao; đồng thời, hoạt động giám sát của HĐQT cũng hạn chế do tổng lợi ích nhóm nhỏ và vì thực chất họ cũng chỉ là người đại diện, nắm giữ một số lượng cổ phần và quyền hạn hạn chế. Lúc này, các cổ đông chỉ có quyền sở hữu giới hạn: quyền thu lợi nhuận từ cổ phần và quyền chuyển, nhượng quyền này cho người khác.

2. Phân loại cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp

Hai ngưỡng sở hữu được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến là 20% và 10%, để phân hai loại cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp là cấu trúc rải rác ( widely held) hay cấu trúc chủ sở hữu ( controlling shareholder or ultimate owner). Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, phải căn cứ vào tỉ lệ quyền biểu quyết chứ không phải tỉ lệ thực sở hữu của cổ đông trong doanh nghiệp (La Porta và các cộng sự, 1999). Bởi vì, trên thực tế, tồn tại doanh nghiệp có 50% vốn đại diện 100% quyền biểu quyết, 50% vốn còn lại dưới dạng cổ phiếu không có quyền biểu quyết; như vậy nếu một cổ đông có 10% vốn có quyền biểu quyết, thực chất anh ta đã nắm 20% quyền biểu quyết trong doanh nghiệp; ngược lại, một cổ đông có 20% vốn không có quyền biểu quyết thức chất lại không có vai trò gì trong quá trình điều hành và quản lý doanh nghiệp.

Trích dẫn 1: Thực trạng thống kê phân loại doanh nghiệp theo quyền sở hữu

Hiện nay, xu hướng phát triển doanh nghiệp quản lý đã trở nên phổ biến trên thế giới. Từ năm 1932, Berle & Means (1932) đã chỉ ra rằng 40% trong 200 doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ dưới quyền kiểm soát của các nhà quản lý hay cấu trúc rải rác. Nhiều tác giả cho rằng giới hạn 20% vốn góp để phân biệt quyền sở hữu rải rác là tương đối lớn, và nên hạ thấp xuống 10%. Với giới hạn 10% này, tính đến năm 1963, đã có đến 85% trong 200 doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ dưới quyền kiểm soát của các nhà quản lý (Larner, 1966). Một số nghiên cứu khác còn hạ thấp giới hạn sở hữu rải rác xuống còn 3% hay 5%, và cũng đều xác nhận sự tồn tại của loại hình doanh nghiệp dưới quyền kiểm soát của các nhà quản lý.

Trong nghiên cứu mới đây của Gadhoum (2005) về cấu trúc sở hữu của 13.969 doanh nghiệp Mỹ: tại ngưỡng sở hữu 10% (và 20%), có 38,97% (và 69,27%) trên tổng số dưới quyền kiểm soát của các nhà quản lý hay cấu trúc rải rác; đối với nhóm doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ, con số này lên đến 59,11% (81,48%). Tại các nước khác như tại Canada tỉ lệ này là 17,79% (và 36,35%) (Gadhoum, 2005), tại các nước Tây Âu (Anh, Pháp, Đức …) là 15,13% (và 38,34%) (Faccio và Lang, 2002), tại một số nước châu Á như Nhật Bản là 42% (và 79,8%), Hàn Quốc là 14,3% (và 43,2%), tại các nước Đông Nam Á tỉ lệ này dưới rất thấp dưới 5% (và 20%) (Claessens và các cộng sự, 2000). Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của chúng tôi từ 710 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh, tính đến hết năm 2014, tỷ lệ này tại ngưỡng sở hữu 10% (và 20%) là 25.35% (và 41.27%) doanh nghiệp có cấu trúc rải rác dưới quyền của các nhà quản lý.

Như vậy, các doanh nghiệp không có cổ đông nào nắm quyền biểu quyết (tính cả trực tiếp và gián tiếp) trên ngưỡng quy định (nhỏ hơn 10% hoặc 20%) được coi là có cấu trúc sở hữu rải rác ( widely held). Ngược lại, một doanh nghiệp được gọi là có cấu trúc chủ sở hữu hay dưới quyền kiểm soát của chủ sở hữu ( controlling shareholder or ultimate owner) nếu quyền biểu quyết (trực tiếp và gián tiếp) của ít nhất một cổ đông bằng hoặc vượt quá ngưỡng nhất định (thường là 10% hoặc 20%). Theo các nhà nghiên cứu, ngưỡng 10% hoặc 20% là đủ để đảm bảo quyền kiểm soát doanh nghiệp của cổ đông (Berle và Means, 1932; Larner, 1966; La Porta và các cộng sự, 1999; Gadhoum, 2005); và thực tế là các cổ đông có quyền biểu quyết trên ngưỡng này thường cũng tham gia điều hành và quản lý doanh nghiệp (La Porta và các cộng sự, 1999; Claessens và các cộng sự, 2000; Faccio và Lang, 2002; Gadhoum, 2005).

Doanh nghiệp có cấu trúc chủ sở hữu tiếp tục được phân thành nhiều loại cụ thể hơn:

Sở hữu cá nhân hoặc gia đình: khi chủ sở hữu là một cá nhân hoặc một nhóm các các nhân (có thể có quan hệ họ hàng hoặc không);

Sở hữu bởi doanh nghiệp quản lý khác như ngân hàng, bảo hiểm, doanh nghiệp … có cấu trúc sở hữu rải rác (widely held corporations as owners). Theo các định nghĩa này, nếu doanh nghiệp B sở hữu 23% quyền biểu quyết trong doanh nghiệp A, cổ đông cá nhân C nắm 9% quyền biểu quyết trong doanh nghiệp B, thì doanh nghiệp A thuộc cấu trúc sở hữu bởi doanh nghiệp quản lý;

Sở hữu bởi Nhà nước: đây được coi là một nhóm riêng biệt vì các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước thường theo đuổi các mục tiêu chính trị và được nhà nước bù lỗ (Shleifer và Vishny, 1994)

Sở hữu hỗn hợp thông qua các quyền biểu quyết tập thể, biểu quyết tín nhiệm, ủy quyền …

Như đã trình bày, ngưỡng sở hữu (10% hay 20%) được xác định bằng tổng sở hữu trực tiếp và gián tiếp của cổ đông. Nếu khái niệm “sở hữu trực tiếp” được hiểu là tỉ lệ biểu quyết thức có mà cổ đông đại diện thông qua sở hữu vốn, thì khái niệm “sở hữu gián tiếp” a% doanh nghiệp A của một cổ đông được hiểu là khi: (1) cổ đông đó kiểm soát trực tiếp doanh nghiệp B và doanh nghiệp B kiểm soát trực tiếp doanh nghiệp A với tỉ lệ biểu quyết a%; hoặc khi (2) cổ đông đó kiểm soát trực tiếp doanh nghiệp C, doanh nghiệp C kiểm soát trực tiếp doanh nghiệp B (hoặc một chuỗi kiểm soát các doanh nghiệp có vai trò như B) và doanh nghiệp B kiểm soát trực tiếp doanh nghiệp A với tỉ lệ biểu quyết a%.

Khái niệm “sở hữu gián tiếp” cho phép phân loại một cấu trúc sở hữu đặc biệt, gọi là “cấu trúc sở hữu kim tự tháp” ( pyramid ownership structure), xuất hiện khi thỏa mãn hai điều kiện sau:

Doanh nghiệp có chủ sở hữu, tức không phải thuộc cấu trúc rải rác; và

Chủ sở hữu trên nắm quyền biểu quyết trên ngưỡng quy định trong doanh nghiệp này gián tiếp thông qua ít nhất một doanh nghiệp cổ phần khác.

Ví dụ, doanh nghiệp B nắm 43% quyền biểu quyết trong doanh nghiệp A, cá nhân C nắm 27% quyền biểu quyết của B, như vậy C nắm quyền kiểm soát A theo cấu trúc sở hữu kim tự tháp. Tuy nhiên, nếu C nắm 100% quyền biểu quyết B, tức B là doanh nghiệp tư nhân, A sẽ vẫn được gọi là thuộc cấu trúc chủ sở hữu, nhưng không phải theo cấu trúc kim tự tháp (La Porta và các cộng sự, 1999).

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp, tập đoàn, công ty mẹ con … nắm quyền sở hữu đan chéo nhau, như công ty mẹ nắm % sở hữu công ty con, công ty con cũng nắm % sở hữu trong công ty mẹ. Các tác giả tiếp tục phân biệt loại hình sở hữu cá biệt này, gọi là cấu trúc sở hữu chéo ( cross-shareholding or cross-holdings): doanh nghiệp A thuộc cấu trúc sở hữu chéo khi A nắm quyền biểu quyết (ít hay nhiều) (1) trong chính doanh nghiệp chủ sở hữu C của A hoặc (2) trong một doanh nghiệp B là trung gian sở hữu giữa A và C. Ví dụ, doanh nghiệp B nắm 20% quyền biểu quyết trong A; C nắm 20% trong B, và A sở hữu 2% trong C; khi đó C là chủ sở hữu của A, A thuộc cấu trúc sở hữu kim tự tháp và tồn tại cấu trúc sở hữu chéo tại A. Tương tự nếu A, thay vì sở hữu C, nắm 2% trong B. Tuy nhiên, nếu A không có quan hệ sở hữu với B và C, mà là trường hợp B nắm 2% trong C, thì sẽ không tồn tại cấu trúc sở hữu chéo tại A, mà tại B (La Porta và các cộng sự, 1999; Claessens và các cộng sự, 2000; Faccio và Lang, 2002; Gadhoum, 2005).

Trích dẫn 2: Cấu trúc sở hữu của một số doanh nghiệp lớn năm 1999

Microsoft có 3 cổ đổng chính: cổ đông sáng lập Bill Gates (chiếm 23,7% quyền biểu quyết cũng như quyền sở hữu), cổ đông sáng lập Paul Allen (chiếm 9%) và cổ đông Steven Ballmer (chiếm 5%). Như vậy, Microsoft thuộc cấu trúc chủ sở hữu (ultimate owner) là Bill Gates hay còn gọi là cấu trúc sở hữu gia đình, tại ngưỡng quy định 20% (cũng như 10%).

Toyota Motor là doanh nghiệp lớn thứ hai của Nhật Bản, với nhiều cổ đông đặc biệt, những không cổ đông nào thực sự lớn. Cổ đông lớn nhất là Mitsui Group nắm 12,1% trong Toyota, Mitsui Group lại do bốn cổ đông chính là Sakura Bank, Mitsui Fire and Marine, Mitsui T & B, và Mitsui Life góp vốn; trong ba doanh nghiệp đầu, Toyota lại nắm một lượng cổ phần nhất định. Đây là mô hình phổ biến của các doanh nghiệp Nhật. Ở ngưỡng 20%, Toyota thuộc cấu trúc sở hữu bởi các doanh nghiệp quản lý ( widely held corporation). Nhưng ở ngưỡng 10%, Toyota thuộc cấu trúc sở hữu hỗn hợp, do không có cổ đông nào có sở hữu đủ lớn, trong khi chính Toyota lại nắm quyền sở hữu gián tiếp của chính mình thông qua ba cổ đông của Mitsui Group. Tại HĐQT của Toyota, sẽ hình thành các nhóm cổ đông đại diện hoặc biểu quyết tín nhiệm. Trong trường hợp này, cấu trúc sở hữu kim tự tháp không tồn tại, nhưng Toyota chính là cổ đông chéo (cross-shareholdings) của Mitsui Group.

Cấu trúc sở hữu trong các doanh nghiệp Hàn Quốc cũng tương tự như Nhật, điển hình là của Samsung Electronics. Cổ đông sáng lập của doanh nghiệp là Mr. Lee Kun-Hee nắm trực tiếp 8,3%, nhưng Mr. Lee cũng nắm gián tiếp Samsung Electronics thông qua:

15% của Samsung Life, Samsung Life lại nắm trực tiếp 8,7% của Samsung Electronics

14,1% của Cheil Jedang, Cheil Jedang lại nắm trực tiếp 3,2% của Samsung Electronics và gián tiếp 11,5% của Samsung Life.

Lee Kun-Hee còn sở hữu gián tiếp Samsung Life qua nhiều công ty khác

Khi tính gộp sở hữu trực tiếp và gián tiếp qua một hoặc nhiều doanh nghiệp khác, Samsung Electronics sẽ thuộc cấu trúc sở hữu cá nhân hay gia đình, cụ thể của Mr. Lee tại ngưỡng 10% cũng như 20%. Samsung Electronics cũng thuộc cấu trúc sở hữu kim tự tháp thông qua nhiều công ty khác nhau.

Nguồn: La Porta và các cộng sự (1999)

Để xác định quyền biểu quyết trong trường hợp sở hữu gián tiếp thông qua một hay một số doanh nghiệp, các học giả thường lấy giá trị biểu quyết nhỏ nhất trong chuỗi. Tuy nhiên, theo tác giả điều này phụ thuộc vào ngưỡng tỉ lệ mà cổ đông kiểm soát, cũng như tỉ lệ % của các doanh nghiệp trung gian.

Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu (ACB) là một trong những ngân hàng lớn trong top 10 tại Việt Nam có hình thức sở hữu gia đình bởi hai đại gia đình Ông Trần Hùng Huy (11,03%) và gia đình Ông Nguyễn Đức Kiên (9,73%). Ở ngưỡng 20%, ACB thuộc cấu trúc sở hữu bởi rải rác các doanh nghiệp quản lý (widely held corporation). Nhưng ở ngưỡng 10%, ACB thuộc cấu trúc có sở hữu bởi Standard Chartered và gia đình Ông Trần Hùng Huy. Có thể quan sát thấy cổ đông lớn nhất của ACB là cổ đông nước ngoài Standard Chartered Bank với tổng số vốn góp từ hai pháp nhân lên đến 15%. Như vậy, có thể thấy, để có thể “thao túng” được ngân hàng ABC như cáo buộc hiện nay, Ông Nguyễn Đức Kiên (hay Bầu Kiên) phải có sự tín nhiệm từ một nhóm cổ đông có tổng số cổ phần trên 6% của ngân hang ACB.

Nguồn: Vũ Mạnh Chiến và Phan Thanh Tú (2014)

Sở Hữu Cách Và Cấu Trúc Of + Danh Từ Trong Tiếng Anh / 2023

Danh từ (tiếng Anh là noun) là từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một người, một vật, một sự việc, một tình trạng hay một cảm xúc.

Chắc các bạn đã biết đến khái niệm tính từ sở hữu trong tiếng Anh (ví dụ my, your, his/her, …) để chỉ vật gì đó thuộc quyền sở hữu của ai đó. Vậy ngoài tính từ sở hữu ra, trong tiếng Anh còn có cách diễn đạt nào khác để chỉ quyền sở hữu không. Trong chương này, chúng ta cùng tìm hiểu về Sở hữu cách trong tiếng Anh, một cách khác để chỉ sự sở hữu. Vậy sở hữu cách trong tiếng Anh là gì?

Sở hữu cách là gì ?

Sở hữu cách là một hình thức chỉ ” sự sở hữu” của một người, một loài vật, hoặc một quốc gia, … đối với một người hay một vật nào đó. Cụm từ “sự sở hữu” ở đây được hiểu với ý nghĩa rất rộng rãi. Chẳng hạn, mẹ của Tom là khác với Tom “sở hữu” mẹ của anh ấy.

Trong tiếng Anh, từ of có nghĩa là của. Và để nói về “chiếc bút của Tom” chúng ta có hai cách diễn đạt. Đó là:

Trong chương này, mình tiếp tục trình bày về sở hữu cách trong tiếng Anh và cách sử dụng của cấu trúc of + danh từ để chỉ sự sở hữu.

Cách sử dụng của sở hữu cách trong tiếng Anh

Như phần định nghĩa đã nhắc đến, Sở hữu cách được sử dụng chủ yếu để chỉ sự sở hữu của người, của các loài vật, của các quốc gia. Ngoài ra, Sở hữu cách còn được sử dụng để chỉ sự sở hữu của:

Cách sử dụng của cấu trúc of + danh từ

Như phần đầu đã trình bày, cấu trúc of + danh từ cũng được sử dụng để chỉ sự sở hữu của ai, sự vật nào đó.

1. Khi danh từ chỉ sở hữu chủ được theo sau bởi một cụm từ hoặc một mệnh đề:

The boys ran about, obeying the directions of a man with a whistle.

2. Với các danh từ chỉ sở hữu chủ là danh từ dạng vô tính:

the walls of the town the roof of the church the keys of the car

Các loạt bài

Cấu Trúc Sở Hữu Và Giá Trị Doanh Nghiệp: Bằng Chứng Thực Nghiệm Tại Việt Nam / 2023

Posted on by Lê Văn Tuấn

Cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

(Nguồn: http://tapchicongthuong.vn/)

THS. NGUYỄN THỊ BÍCH THUẬN – THS. TRẦN NGỌC MỸ – THS. LÊ THỊ LOAN (Giảng viên Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Đồng Tháp)

TÓM TẮT:

Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 124 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2019. Đồng thời, sử dụng các kiểm định Hausman và Breusch and Pagan Lagrangian multiplier để lựa chọn mô hình giải thích tốt nhất mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp.

Từ khóa: Giá trị doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là mục tiêu cuối cùng của các công ty. Đây cũng chính là vấn đề được các nhà quản trị, nhà đầu tư và Chính phủ Việt Nam quan tâm nhiều nhất. Giá trị doanh nghiệp (DN) bị tác động bởi nhiều yếu tố như: Quy mô doanh nghiệp, năng lực nhà quản trị, năng lực cạnh tranh, chính sách thuế,… Trong đó, cấu trúc sở hữu được xem là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị DN. Bởi lẽ, các tổ chức nước ngoài thường có nhiều kinh nghiệm trong việc quản trị và định hướng chiến lược để góp phần nâng cao giá trị cho DN, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của công ty.

Do đó, việc nghiên cứu sự tác động cấu trúc sở hữu đến giá trị của các công ty luôn thu hút sự quan tâm của rất nhiều tác giả trong và ngoài nước. Có thể kể đến những nghiên cứu ở Trung Quốc của các tác giả: Wei, Z., & Varela, O. (2003)[1], Sun, Q., & Tong, W. H. (2003)[2], Tian, L., & Estrin, S. (2008)[3]; Hai nghiên cứu ở Việt Nam của Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011)[4], Phạm Hữu Hồng Thái (2013)[4]. Nghiên cứu Tian, L., & Estrin, S. (2008)[3] và Sun, Q., & Tong, W. H. (2003)[2] đã chứng minh sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến giá trị công ty nhưng sở hữu nước ngoài lại tác động tiêu cực, trong khi nghiên cứu của Wei, Z., & Varela, O. (2003)[1] lại cho rằng sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến giá trị DN. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa đi đến một kết luận thống nhất về sự ảnh hưởng giữa cấu trúc sở hữu và giá trị công ty. Chính vì lý do đó, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Cấu trúc sở hữu và giá trị doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” nhằm mục tiêu nghiên cứu ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước lên giá trị của DN. Từ đó giúp các nhà quản trị công ty có những chính sách nhằm tái cơ cấu sở hữu để gia tăng giá trị DN.

2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc sở hữu và giá trị công ty

2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài

Wei, Z., & Varela, O. (2003)[1] sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) cho dữ liệu chéo của các công ty Trung Quốc mới được tư nhân hóa vào 1994 (164 công ty), 1995 (175 công ty) và 1996 (252 công ty) nhằm xem xét mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và giá trị công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sở hữu nhà nước, quy mô có ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị công ty; tỷ lệ nợ, EPS, độ lệch chuẩn của giá trị thị trường lại có ảnh hưởng tích cực đến giá trị công ty.

Sun, Q., & Tong, W. H. (2003)[2] sử dụng phương pháp hồi quy Pooled OLS và Fixed effects model để thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị của 634 doanh nghiệp niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Trung Quốc giai đoạn từ 1994 – 1998. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sở hữu nhà nước, quy mô có mối quan hệ nghịch biến với giá trị doanh nghiệp; sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức, GDP và tỷ lệ nợ có mối quan hệ đồng biến với giá trị doanh nghiệp.

Tian, L., & Estrin, S. (2008)[3] tiến hành nghiên cứu 2.660 công ty trong 21 ngành công nghiệp trên sàn giao dịch PLC Trung Quốc trong giai đoạn từ 1994 – 1998. Nghiên cứu ước lượng mô hình Pooled OLS và MLP cho dữ liệu Bảng. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh sở hữu nhà nước, sở hữu quản trị, tuổi công ty và quy mô công ty có mối quan hệ nghịch biến với giá trị công ty; sở hữu tư nhân có mối quan hệ cùng  biến với giá trị công ty.

2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước

Phạm Hữu Hồng Thái (2013)[5] thực hiện nghiên cứu trên 646 công ty của 2 sàn chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2012. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu chéo OLS và tiến hành hồi quy bội để tìm ra những nhân tố tác động đến giá trị doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh, sở hữu nhà nước không ảnh hưởng đến giá trị công ty; sở hữu tư nhân ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị công ty. Tuy nhiên, sở hữu nước ngoài và quy mô lại có tác động tích cực đến giá trị công ty.

3. Dữ liệu, mô hình và phương pháp nghiên cứu

3.1. Mô tả dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 124 công ty phi tài chính niêm yết trên 2 sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2010 – 2019, dữ liệu được cung cấp bởi công ty cổ phần Tài Việt (Vietstock).

3.2. Mô hình nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả chủ yếu đánh giá tác động của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài lên giá trị công ty. Do đó, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:

Qit = β0 + β1 STATEit + β2 FOREIGNit + β3 SIZEit + Ɛit

Trong đó:  i: Công ty; t: Thời gian từ năm 2010 đến năm 2019

Bảng 1. Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

STT Tên biến Ký hiệu Mô tả biến Dấu kỳ vọng

1 Giá trị công ty Q Giá trị công ty được đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q (giá trị thị trường của vốn cổ phần + Tổng nợ)/(giá trị sổ sách của tổng tài sản).  

2 Sở hữu nhà nước STATE Tỷ lệ sở hữu nhà nước. ( – )

3 Sở hữu nước ngoài FOREIGN Tỷ lệ sở hữu nước ngoài. ( + )

4 Quy mô công ty SIZE Quy mô công ty được đo lường bằng logarit của tổng tài sản. ( + )

3.3. Phương pháp nghiên cứu

– Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả bằng phần mềm Eviews 5 để mô tả các chỉ số cơ bản của các biến số trong mô hình nghiên cứu.

– Dựa trên ma trận tương quan của các biến số để phân tích và dự đoán tác động của các biến lên giá trị công ty và làm căn cứ dự đoán hiện tượng đa cộng tuyến của các biến trong mô hình trước khi phân tích hồi quy.

– Nghiên cứu phân tích hồi quy bằng phần mềm Stata11 trên 03 mô hình Pooled Ordinary Least Square (Pooled OLS), Fixed effects model (FEM), Random effects model (REM). Để khắc phục những ưu và nhược điểm của từng mô hình, nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật thống kê để lựa chọn mô hình phù hợp nhất.

– Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng ước lượng robust và cluster để kiểm soát hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Kết quả thống kê mô tả

Bảng 2. Kết quả thống kê mô tả của các biến trong mô hình

 Mean Median Maximum Minimum  Std. Dev.

Q 1.385 1.010 7.360 0.23 1.187

STATE 34.445 37.100 79.070 0.000 20.033

FOREIGN 11.560 4.615 49.000 0.000 14.300

SIZE 5.668 5.669 7.411 4.193 0.609

                                     Nguồn: Dữ liệu từ Vietstock và phần mềm Eviews

Bảng 2 tóm tắt dữ liệu thống kê mô tả các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu như sau: Giá trị công ty trung bình là 1,385% với độ lệch chuẩn 1,187; Tỷ lệ sở hữu nhà nước dao động từ 0% đến 79%; Giá trị trung bình của tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong mẫu nghiên cứu là 11,560% với độ lệch chuẩn là 14,300.

Bảng 3. Ma trận tương quan của các biến trong mô hình

  Q STATE FOREIGN SIZE

Q  1.0000      

STATE 0.0932  1.0000    

FOREIGN  0.1514 -0.2452  1.0000  

SIZE  0.0003  0.0351  0.3459  1.0000

                                    Nguồn: Dữ liệu từ Vietstock  và phần mềm Eviews

Bảng 3 cho thấy, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và quy mô có tương quan dương với giá trị công ty. Nhìn chung, tất cả các hệ số tương quan đều < 0,7, có nghĩa là không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến.

4.2. Kết quả hồi quy

– Kết quả phương pháp kiểm định Breusch and Pagan cho thấy, giá trị prob = 0.0000 < 0,01. Do đó, mô hình REM phù hợp hơn mô hình Pooled OLS.

– Kết quả kiểm chứng sự phù hợp giữa mô hình REM và FEM bằng kiểm định Hausman cho thấy, giá trị prob = 0.000 < 0,01. Như vậy, mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM.

– Kết quả kiểm định F trong mô hình FEM có prob = 0.000 < 0,01. Do vậy, mô hình FEM phù hợp hơn mô hình Pooled OLS.

– Như vậy, sau khi so sánh giữa 03 mô hình Pooled OLS, REM và FEM. Kết quả mô hình FEM là phù hợp nhất. Ngoài ra, nhóm tác giả trình bày kết quả hồi quy của mô hình FEM với ước lượng robust và cluster để chứng minh các hệ số trong mô hình 3 là phù hợp và có ý nghĩa rất cao. Kết quả chỉ ra rằng:

Bảng 4. Kết quả hồi quy các mô hình với ước lượng robust và cluster

Biến phụ

thuộc Q

Mô hình 1

(POOLED OLS)

Mô hình 2

(REM)

Mô hình 3

(FEM)

Coef. Prob Coef. Prob Coef. Prob

C 2.052 0.000 3.043 0.000 15.850 0.000

STATE 0.011 0.000 0.012 0.000 0.037 0.002

FOREIGN 0.028 0.000 0.026 0.000 0.003 0.039

SIZE 0.240 0.021 0.420 0.000 2.781 0.000

Kiểm định F Prob Chi2 Prob

Breusch and Pagan n/a n/a 28.230 0.000

Hausman n/a n/a 209.940 0.000

F – test 4.030 0.000 n/a n/a

Nguồn: Dữ liệu từ Vietstock và tính toán của tác giả bằng phần mềm STATA 11

+ Sở hữu nhà nước có mối quan hệ tương quan dương hay ảnh hưởng tích cực với giá trị công ty (hệ số hồi quy ứng với biến STATE là 0,037), kết quả có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99% (Prob = 0.0000 < 0,01). Kết quả này ngược lại với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Điều này có thể giải thích vì các bài thực nghiệm trước đây đã thực hiện khá xa với hiện tại nhưng trong những năm gần đây vai trò của sở hữu nhà nước có tác động rất lớn đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, Chính phủ hỗ trợ kịp thời về chính sách cũng như cùng doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn để tăng trưởng.

+ Sở hữu nước ngoài có tương quan dương với giá trị công ty. Kết quả phù hợp với lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam của TS. Phạm Hữu Hồng Thái (2013), 2 tác giả Trung Quốc Sun & Tong (2003) và Sami R.M. Musallam (2015) ở Malaysia. Điều này chứng tỏ rằng, các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao thì giá trị công ty cao hơn các công ty có điều kiện tương đương nhưng có tỷ lệ sở hữu nước ngoài thấp hơn. Bởi vì, các nhà đầu tư nước ngoài khi đồng hành cùng công ty trong vai trò chủ sở hữu thường sẽ có những tư vấn về cấp chiến lược kinh doanh và tài chính rất tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp để từ đó, làm gia tăng giá trị công ty.

+ Quy mô công ty có mối tương quan dương với giá trị công ty, kết quả này hoàn toàn có ý nghĩa thống kê (Prob = 0.000 < 0,1). Kết quả phù hợp với lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.

5. Kết luận

5.1. Tóm tắt các kết quả chính

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, công ty có sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài cao thì giá trị công ty sẽ cao hơn các công ty có cùng các điều kiện tương đồng khác nhưng có tỷ lệ sở hữu nhà nước và nước ngoài ít hơn. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy, công ty có quy mô càng cao thì giá trị công ty càng cao.

5.2. Gợi ý chính sách

Từ những kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm tối đa hóa giá trị các công ty trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam hiện nay.

–Đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam:

+ Một là, từng bước điều chỉnh và thiết lập cấu trúc sở hữu phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh. Một cấu trúc sở hữu nhiều thành phần trong đó có sở hữu nước ngoài.

+ Hai là, một số công ty chưa đủ tiềm lực về tài chính tuyệt đối không mở rộng quy mô để linh hoạt hơn trong quá trình chuyển đổi các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh.

+ Ba là, các công ty muốn mở rộng quy mô cần lưu ý tránh hiện tượng đầu tư tối tân hàng loạt các máy móc, nhà xưởng, trang thiết bị hiện đại. Điều này sẽ làm tăng giá trị sổ sách của tổng tài sản dẫn đến giá trị công ty giảm.

Về phía– Chính phủ:

+ Thứ nhất, giữ vững tầm ảnh hưởng về tài chính đối với các công ty trong nước. Thông qua những quy định về tỷ lệ cơ cấu sở hữu, các cơ chế, chính sách ưu đãi về vốn, lãi suất đối với công ty có sở hữu nhà nước nhằm bảo vệ các công ty nội địa trước thách thức tự do hóa hội nhập. Đồng thời, đây cũng chính là công cụ giúp Chính phủ kiểm soát nền kinh tế Việt Nam hiệu quả.

+ Thứ hai, lập một quy trình tổ chức giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp. Thường xuyên thực hiện công tác đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, công khai, minh bạch các thông tin tài chính ở những công ty có vốn chủ sở hữu nhà nước để có biện pháp khắc phục những tồn tại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh.

+ Thứ ba, xử lý nghiêm minh các doanh nghiệp sử dụng vốn nhà nước sai mục đích. Kịp thời phát hiện những yếu kém và đề ra giải pháp chấn chỉnh, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc chấp hành các quy định của pháp luật trong quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư vào sản xuất – kinh doanh tại doanh nghiệp.

————————-&&&—————————-

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tỉnh Táo Trong Quản Trị Công Ty: Cấu Trúc Sở Hữu Và Khả Năng Thao Túng / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!