Đề Xuất 12/2022 # Tính Hai Mặt Của Fdi Ở Việt Nam / 2023 # Top 13 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Tính Hai Mặt Của Fdi Ở Việt Nam / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tính Hai Mặt Của Fdi Ở Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo đánh giá chung của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF 2010/2011 vừa qua, thứ hạng cạnh tranh quốc gia GCI của Việt Nam đã tăng 16 bậc, đạt thứ 59 trong 137 quốc gia được so sánh, tức là xếp ở nửa hạng trên. Đồng thời, từ năm 2010, Việt Nam chính thức gia nhập Nhóm các nền kinh tế có thu nhập trung bình với tổng thu nhập quốc dân GNI bình quân đầu người đạt trên 1000USD/người.

Tuy nhiên, nhìn lại quá trình hơn 20 năm, bên cạnh những thành công to lớn rất đáng trân trọng, Việt Nam cũng đang đối diện với một số thách thức, khó khăn và yếu kém, cũng như từ đó cảm nhận sâu sắc hơn bao giờ hết NHỮNG TÁC ĐỘNG 2 MẶT CỦA FDI trước yêu cầu phát triển bền vững và tái cấu trúc nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới, mà nổi bật là: 1. Bổ sung nguồn vốn đầu tư xã hội, nhưng còn nhiều hạn chế về chất lượng tăng trưởng

Vốn FDI là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong tổng nguồn vốn, nhất là trong giai đoạn khởi động nền kinh tế. Những năm gần đây, vốn FDI thực hiện ở Việt Nam đã đạt mức trên 10 tỷ USD (với số vốn bên ngoài chuyển vào trên 8 tỷ$) là con số lớn, chiếm khoảng ¼ tổng vốn đầu tư cả nước và tạo ra đến 45% giá trị sản lượng sản phẩm công nghiệp. Tuy nhiên, các nguồn vốn này thường đầu mới được dành cho đầu tư các dự án thuộc loại “gia công”, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực FDI trong công nghiệp lại chỉ đạt 40% MVA, chưa tạo nên hiệu quả vượt trội tương ứng, trong khi Khu vực kinh tế Nhà nước tạo ra 18,5% giá trị sản lượng công nghiệp (giá thực tế), nhưng đã tạo ra tới 28% giá trị gia tăng ngành công nghiệp. Đó là do nhiều DNNN đã nắm các lĩnh vực công nghiệp quan trọng và có hiệu quả khá cao như dầu khí, điện, than, xi măng.

2. Mở rộng xuất khẩu, những cũng làm tăng dòng nhập siêu

Các doanh nghiệp FDI đã tạo nên giá trị xuất khẩu lớn (kể hay không kể dầu khí), chiếm trên dưới 50% giá trị xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, nếu xét kỹ, các doanh nghiệp FDI mới tạo ra được nhiều bán thành phẩm, như lắp ráp máy tính, trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Đồng thời, các doanh nghiệp FDI ngày càng hướng vào khai thác thị trường gần 100 triệu dân có dung lượng đang ngày càng mở rộng của Việt Nam. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp FDI cũng góp phần vào việc tăng nhập siêu, do cơ chế “gia công” còn lớn, tỷ lệ “nội địa hóa” như với công nghiệp ô tô còn thấp, mà cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính những năm 2008-nay đang cho tháy rõ điều đó. 3. Tạo thêm công ăn việc làm, nhưng cũng làm mất đi nhiều việc làm truyền thống và chưa coi trọng đào tạo người lao động

4. Không ít doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường tự nhiên và khai thác lãng phí tài nguyên thiên nhiên

Trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp FDI đã chú trọng khai thác nhiều tài nguyên tự nhiên (nhất là tài nguyên không tái tạo như khai thác mỏ khoáng sản), gây tàn phá môi trường tự nhiên. Bài học của doanh nghiệp Vedan cũng chỉ là một ví dụ mới nhất, mà hệ quả chưa nhìn thấy hồi kết. Đó là chưa kể ô nhiễm khí, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm bụi, v.v… thậm chí phá hoại đa dạng sinh học cũng cần được quản lý chặt chẽ.

5. Tăng đóng góp tài chính quốc gia, nhưng còn nhiều hành vi tiêu cực, trốn tránh nghĩa vụ tài chính và tạo cạnh tranh không lành mạnh

Các doanh nghiệp FDI đóng góp nguồn vốn không nhỏ cho ngân sách Nhà nước xét về tổng thể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có tới 50% doanh nghiệp có FDI liên tục khai kinh doanh bị lỗ, và phần lớn các liên doanh đã chuyển sang hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài là hiện tượng không bình thường, cho thấy có hiện tượng lạm dụng chính sách ưu đãi và cơ chế “chuyển giá”, gây thiệt hại cho NSNN và tình trạng kinh doanh thiếu minh bạch, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Tình trạng đầu cơ đất, “bán” dự án khá phổ biến khiến công tác quản lý tài nguyên và đất đai thêm khó khăn, thậm chí có dự án vốn tới 4,1 tỷ USD, nhưng vốn tự có (vốn pháp định hay vốn điều lệ) của chủ dự án chỉ 100 triệu USD. Nhiều dự án ảo” , chậm triển khai đã bị các địa phương rút giấy phép đầu tư cũng là hiện tượng rất đáng lo ngại.

6. Tăng áp lực cạnh tranh , nhưng chưa có nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý

Chấp nhận cạnh tranh trên thị trường sân nhà trong khi thu hút vốn FDI, nhiều nhà hoạch định chính sách, nhiều ngành và địa phương hy vọng, cùng với tăng nguồn vốn, mở mang thị trường, các doanh nghiệp FDI sẽ tiến hành chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho người Việt Nam. Tuy nhiên thành quả trong lĩnh vực này rất khiêm tốn. Do cách thức sản xuất theo công đoạn trong mạng lưới toàn cầu, mà nhà đầu tư còn giữ phần lớn bí quyết công nghệ, nên việc chuyển giao công nghệ rất ít và việc truyền bá kinh nghiệm quả lý cũng gần như không có gì. Đây là vấn đề đòi hỏi nỗ lực của cả các nhà khoa học và quản lý Việt Nam phải vươn lên để học hỏi trong công việc, từng bước vươn lên. Kinh nghiệm trong xây dựng các công trình lớn, khai thác dầu khí, điện, than,… đáng để mở rộng, trong khi các kinh nghiệm trong gia công hàng hóa còn rất khiêm tốn.

Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, trong đó phải kể đến tình trạng phân cấp đến chia cắt “cát cứ” và trình độ quản lý, thẩm định dự án chưa tương xứng, sàng lọc kém các dự án, nên đã thu hút các dự án chưa được chuẩn bị kỹ… Ngoài ra, công nghiệp phụ trợ trong nước kém phát triển, giá trị gia tăng của FDI kém là nguyên nhân chủ yếu khiến cho các doanh nghiệp FDI liên tục nhập siêu (nếu bỏ dầu thô ra khỏi kim ngạch xuất khẩu của khối này), góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng thâm hụt cán cân thương mại kinh niên của Việt Nam.

Trong thời gian tới, trên cơ sở tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế quốc gia, thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước, cần thúc đẩy và tận dụng được việc hấp thu chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý (cả trực tiếp và gián tiếp), thúc đẩy mở mang thị trường cả trong và ngoài nước, tạo ra sự lan tỏa mạnh và tích cực cuả khu vực FDI trong các lĩnh vực lao động (đào tạo nguồn nhân lực), chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, bảo vệ môi trường.

Đặc biệt, cần tăng cường quản lý Nhà nước, nhất là vai trò bảo đảm lợi ích quốc gia của các cấp ngành Trung ương, khắc phục tình trạng chia cắt, thiếu phối hợp và sự đồng bộ trong quản lý, các cơ quan quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường…để nâng cao chất lượng khu vực FDI theo hướng phát triển bền vững.

Cần nhấn mạnh rằng, Chiến lược FDI cần mang tính Quốc gia, không nên để tình trạng mỗi tỉnh, mỗi địa phương có kế hoạch FDI của riêng mình, vì lợi ích cục bộ và ngắn hạn, dẫn tới tình trạng nguồn vốn FDI được phân bổ và sử dụng kém hiệu quả.

Cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đưa đầu tư nước ngoài vào thực hiện theo hình thức Công -Tư kết hợp (PPP – Public Private Partnership), với mục tiêu thu hút FDI vào những ngành, lĩnh vực mà phía Việt Nam chưa làm được Điều này, đến lượt nó, yêu cầu Việt Nam phải đẩy mạnh việc phát triển khu vực tư nhân năng động, có khả năng hấp thụ công nghệ và kinh nghiệm quản lý và tích hợp vào hệ thống cung ứng rộng lớn hơn, trên cơ sở cải thiện nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở hạ tầng, hệ thống hành chính hiệu quả. Nếu các doanh nghiệp tư nhân không sớm trở thành những nhà cung ứng đáng tin cậy cho các doanh nghiệp FDI thì hệ quả có thể là tốc độ tăng trưởng của cả hai khu vực này đều bị suy giảm.

Việc trở thành các nhà cung ứng tại chỗ cho các doanh nghiệp nước ngoài sẽ giúp các doanh nghiệp tư nhân kết nối được vào mạng lưới cung ứng toàn cầu, đồng thời, có cơ hội được làm việc với những tiêu chuẩn chất lượng và môi trường kinh doanh quốc tế. Đồng thời, sự tồn tại của một mạng lưới dầy đặc các nhà cung ứng địa phương cũng là một nhân tố thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Tóm lại, cần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế ở Việt Nam; thu hút FDI với mục tiêu quan trọng nhất không phải là số lượng vốn thu nhận được, mà phải là hài hòa hiệu quả kinh tế- xã hội-môi trường, hài hòa lợi ích của nước chủ nhà với lợi ích của nhà đầu tư.

Fdi Là Gì? Đặc Điểm Các Doanh Nghiệp Fdi Và Hình Thức Fdi Tại Việt Nam / 2023

Chắc hẳn ai cũng một lần nghe nói về FDI là gì? Hay nguồn vốn FDI, đầu tư FDI là gì? Tuy nhiên, những gì chúng ta biết đều chỉ dừng lại ở mức “nghe nói tới” chứ chưa thực sự hiểu rõ về thuật ngữ cũng như loại hình này tại Việt Nam.

FDI LÀ GÌ?

Trong phần lớn các trường hợp này, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó hoặc tổ chức đó quản lý ở nước ngoài đều sẽ là những cơ sở sản xuất kinh doanh. Và khi ấy, các nhà đầu tư FDI này sẽ được gọi là “công ty mẹ” và số tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

Vốn FDI là gì?

Vốn FDI là dòng vốn đầu tư của các cá nhân, tổ chức người ngoài vào nền kinh tế và các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ của nền kinh tế nước khác nhằm mục đích sản sinh lợi nhuận hoặc thu được các lợi ích khác về lâu dài.

NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA FDI LÀ GÌ?

Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác trên thế giới tới vài thập kỷ, nhưng FDI đã nhanh chóng thiết lập và cho thấy vị trí cũng như tầm quan trọng của mình trong các mối quan hệ quốc tế.

Vốn FDI và đầu tư FDI dần trở thành một xu thế tất yếu của kinh tế thế giới và là một trong những nhu cầu không thể thiếu của mọi quốc gia trên toàn cầu.

Có sự thiết lập quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư với nơi được nhận đầu tư vào

Đối với các nguồn vốn đã được đầu tư, được thiết lập quyền sở hữu và quyền quản lý

Khi quá trình đầu tư FDI diễn ra sẽ kèm theo quyền chuyển giao công nghệ và kỹ thuật của tổ chức, cá nhân đầu tư với nước bản địa nhận được sự đầu tư đó

Luôn luôn gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế

CÁC HÌNH THỨC PHỔ BIẾN CỦA FDI LÀ GÌ?

FDI theo chiều ngang – Nhà đầu tư và các chi nhánh cùng sản xuất kinh doanh một mặt hàng, ngành nghề

2. Hình thức FDI theo bản chất đầu tư

Đầu tư phương tiện hoạt động

Mua lại và sáp nhập

3. Hình thức FDI theo tính chất dòng vốn

Vốn chứng khoán

Vốn tái đầu tư

Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

4. Hình thức FDI theo động cơ của nhà đầu tư

Vốn tìm kiếm tài nguyên

Vốn tìm kiếm hiệu quả

Vốn tìm kiếm thị trường

Hợp tác kinh doanh dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Đầu tư theo hình thức xây dựng- vận hành- chuyển giao (BOT)

Đầu tư theo hình thức xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO)

Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT)

Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)

Hình thức công ty cổ phần

Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập M&A (Merger & Acquisition)

Hình thức công ty hợp doanh

VAI TRÒ CỦA FDI LÀ GÌ?

FDI có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia được nhận đầu tư cũng như nền kinh tế của toàn cầu. Tuy nhiên, ngoài những tác động tích cực, FDI còn mang lại những tác động tiêu cực trái chiều.

Tầm quan trọng của FDI là gì?

Người trực tiếp điều hành, quản lí vốn là các chuyên gia có trách nhiệm cao, kinh nghiệm và kỹ năng tốt hơn

Có cơ hội khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên, khoáng sản và nguồn lao động dồi dào từ nước nhận được sự đầu tư

Làm tăng lượng việc làm và cơ hội đào tạo nhân công chất lượng cao

Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ kéo theo việc gia tăng về quy mô sản xuất rộng lớn, nâng cao chất lượng sản xuất nhưng cũng đồng thời làm giảm giá thành bán ra để phù hợp hơn với thu nhập của người tiêu dùng ở nước đó

Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và phí mậu dịch của nước tiếp nhận đầu tư

Bổ sung nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong nước

Tạo ra nguồn thu ngân sách lớn cho cả hai bên

Nhờ có nguồn vốn FDI mà nước tiếp nhận đầu tư có được nguồn thu ngân sách khổng lồ, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu, qua đó thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển mạnh mẽ và tăng khả năng hội nhập quốc tế

Đất nước được tiếp nhận đầu tư sẽ ít phải chịu rủi ro kinh tế

Quốc gia nhận được sự đầu tư sẽ phải đối mặt với những gánh nặng về môi trường thể chế chính trị, xung đột vũ trang, hay tranh chấp nội bộ, mâu thuẫn về những khác biệt trong tư duy cũ theo kiểu truyền thống.

Quốc gia có tổ chức, cá nhân mang vốn ra đầu tư nước ngoài sẽ khiến quốc gia đó bị mất đi một lượng lớn vốn đầu tư cơ bản

FDI gây ra nhiều khó khăn trong việc tìm vốn phát triển, đồng thời tạo ra áp lực về việc giải quyết công ăn việc làm trong nước, thậm chí là có thể dẫn tới nguy cơ suy thoái nghiêm trọng nền kinh tế

Các chính sách đầu tư, kinh doanh trong nước có thể bị đảo lộn và thay đổi

Quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ có sự thay đổi liên tục của các luồng vốn dẫn đến cán cân kinh tế bị di chuyển theo, có thể gây mất cân bằng

Nếu không có quy hoạch FDI tốt, các nguồn tài nguyên trong nước sẽ bị khai thác cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, phá hủy thế giới quan

Việc được tự do chọn lĩnh vực và vị trí đầu tư của các nhà quản lý nước ngoài có khả năng dẫn tới mất cân bằng kinh tế vùng

Doanh nghiệp trong nước có thể thua thiệt hoặc thậm chí phá sản do không đủ năng lực cạnh tranh

Các doanh nghiệp FDI có thể “bắt tay” với chính quyền địa phương để tạo ra các điều kiện có lợi cho họ mà không thông qua sự đồng ý của Nhà nước

Cho dù là bất cứ tác động nào của FDI (tiêu cực hay tích cực) cũng đều sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sinh thái và cuộc sống, suy nghĩ thậm chí là phong tục của người dân nước nhận được sự đầu tư đó. Chính vì thế, yêu cầu mỗi chính phủ các quốc gia nhận được vốn FDI cần có những chính sách hợp lý, lắng nghe và chấp nhận đàm phán trên thái độ hợp tác.

Bên cạnh đó, cũng cần phải siết chặt việc quản lý vốn, theo dõi nghiêm ngặt và sát sao các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.

FDI là hình thức kinh doanh có tính khả thi cao và mang lại những hiệu quả kinh tế rất lớn. Vì vậy, có thể coi mục đích chính, lớn nhất của FDI chính là mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Lúc này, thu nhập lớn nhất mà các chủ đầu tư nhận được là thu nhập từ kinh doanh chứ không phải lợi tức (bởi loại hình này có luồng thu nhập chính phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh).

Muốn thu hút đầu tư FDI và thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển, các nước nhận được sự đầu tư cần phải có hành lang pháp lý rõ ràng như:

Lợi nhuận thu được cũng như rủi ro mà các nhà đầu tư nhận được, phải gánh chịu cũng sẽ tương ứng với tỷ lệ phân chia này

Các chủ đầu tư sẽ có quyền quyết định rót vốn, sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh (lỗ hoặc lãi)

Chủ đầu tư được quyền tự do lựa chọn các lĩnh vực cũng như các hình thức đầu tư

Để có thể tham gia vào việc kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư, các nhà đầu tư buộc phải góp đủ số vốn tối thiểu (số vốn này sẽ thay đổi theo quy định của từng quốc gia khác nhau)

Thông thường, FDI sẽ được thực hiện thông qua việc xây dựng lại hoàn toàn hoặc mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp nào đó đang hoạt động, bằng việc mua cổ phiếu.

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI LÀ GÌ?

Trên thực tế, từ mỗi cái nhìn khác nhau và ở mỗi quốc gia khác nhau, các doanh nghiệp FDI sẽ được định nghĩa khác nhau. Nhưng ở Việt Nam, nói theo một cách dễ hiểu thì ” Doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng nguồn vốn này trong hầu hết trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình “.

Khái niệm này được sử dụng cho mọi doanh nghiệp có đặc thù này mà không phân biệt về tỷ lệ đóng góp vốn của các bên tham gia. Tại Việt Nam, có 3 loại hình doanh nghiệp FDI chính, đó là:

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước

Hình thức hợp đồng

Hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, loại hình doanh nghiệp FDI đang ngày càng trở nên phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn tại rất nhiều quốc gia trên thế giới. Thông qua hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài này, nói riêng ở Việt Nam, chúng ta đã, đang có cơ hội để tích lũy được nhiều công nghệ hiện đại cũng như kỹ năng quản lý và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh (đặc biệt là ở các lĩnh vực điện tử, hóa chất, khai thác dầu khí, viễn thông…).

Ngay cả một số ngành cần sử dụng tới nhiều lao động và nguồn nguyên liệu trong nước như dệt may, đóng giày… cũng đã đạt được những tiến bộ công nghệ mới và nâng tầm tiên tiến ở khu vực. Đây được cho là môi trường thuận lợi, giúp phần tạo ra những cơ hội mới để phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm của đất nước.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng, việc tiếp nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài này đã tạo nên các hình thức kinh doanh mới, làm cho sự cạnh tranh trên thị trường trở nên sôi nổi và gay gắt hơn. Đây sẽ vừa là động lực để thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã nhưng cũng đồng thời là một thách thức lớn với các phương pháp kinh doanh đã cũ, theo kiểu truyền thống.

Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chịu sự quản lý vĩ mô cũng như các ảnh hưởng từ tình hình chính trị, kinh tế – xã hội và từ các quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, bằng nhiều cách, họ cũng đồng thời tác động ngược lại đối với Việt Nam.

Sau khi kết thúc thời hạn theo quy định (thường là khoảng từ 50 – 70 năm), doanh nghiệp FDI sẽ buộc phải giải thể hoặc chuyển giao lại cho phía Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng cần nói rằng, một doanh nghiệp FDI thường không chỉ thuộc phần sở hữu của một nước duy nhất như Việt Nam mà còn của nhiều công ty đa quốc gia khác. Vì vậy, một số quyết định của các doanh nghiệp FDI này sẽ không hoàn toàn bị phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý của Việt Nam.

Một thực tế cho thấy:

Dù các doanh nghiệp FDI nhận được sự quản lý trực tiếp từ nước ngoài nhưng khi đã đầu tư vào Việt Nam, đều sẽ là những pháp nhân Việt Nam nên sẽ phải hoạt động và chịu sự chi phối từ hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Nền văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp FDI rất phức tạp và đã từng có những trường hợp xảy ra bất đồng, mâu thuẫn do các khác biệt từ nhiều yếu tố khác nhau.

Xuất phát từ điều này mà Nhà nước ta vẫn đang, phải chuẩn bị đầy đủ, kỹ càng hơn các điều kiện cần thiết để có đủ khả năng tham gia kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình đẳng và hiệu quả. Đồng thời, hạn chế tối đa những thua thiệt, rủi ro gây bất lợi cho mình.

Sau hàng chục năm thu hút và sử dụng, nguồn vốn đầu tư FDI tại Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một phần quan trọng, không thể thiếu trong nền kinh tế nước nhà, góp phần đưa Việt Nam đủ sức vươn ra tầm thế giới.

Tìm kiếm bởi Google:

Lợi Ích Của Luật An Ninh Mạng Ở Việt Nam! / 2023

Cách đây gần 3 năm, tôi, giáo sư quần dài Uyên& thâm vào Thế Zới Di Động mua cái tablet Asus 7 inch (đang được khuyến mãi giảm giá) giùm cho vàng son nọ. Tôi chỉ cho y thị cách sử dụng tablet căn bản, tải Zalo giúp thị, tạo cho thị một tài khoản FB. Lúc rỗi việc y thị xem film TVB trên youtube và xem ọp lai mấy show của Truyền Hình Vĩnh Long. Sáng nay Y thị chống nạnh, hai chân dạng ra như cái compa, mồm thị oang oang chưởi Cộng sản bán nước cho Tầu, bán hết Hoàng Sa – Trường Sa, bán hết biển đảo rồi giờ bán cả đất liền. Thị bẩu ở đây không có Biểu tình chớ có là thị cũng tham gia vì thị tức lắm…,nước là nước của Hùng Vương dựng nên chớ phải nước của Đảng đâu mà Đảng muốn bán là bán??? Cái Tablet ấy nay vẫn chạy tốt. Body y thị chắc là vẫn chạy tốt, y thị khỏe như voi, ko nghe y thị than thở táo bón hay trĩ Nhìn y thị, một cần lao điển hình bị hủ hóa tư tưởng, bị thế lực thù địch nhồi sọ và dắt đi như một con bò, tôi buồn không tả xiết …. Tôi liên tưởng đến các các bé gái mới lớn đùng phát có chửa vì bố mẹ chúng thả rông con cái mà ko dạy chúng tránh thai. Một thời gian dài, chúng ta thả lỏng môi trường mạng, để công dân của chúng ta cắn đớp cám lợn hồn nhiên, chúng ta đã thua trên măt trận thông tin- tư tưởng. Tình trạng bất ổn mấy hôm nay đã lần chứng minh điều mà tôi đã nói nhiều lần với các đồng chí trung kiên của mình rằng đưng bao giờ đồng nhất hai khái niêm TỰ DO & BUÔNG LỎNG QUẢN LÝ. Hôm nay, luật An ninh mạng được Quốc Hội thông qua mặc cho Đế Quốc Mỹ gào rú phản đối và đám thợ sủa khóc lóc nứt cả dãy Trường Sơn, đây là thắng lợi của nhân dân ta. Cacc hãy ghi nhớ ngày trọng đại này, ngày quyết định người Việt Nam ta thoát khỏi nguy cơ làm Bò cho Đế Quốc & các thế lực thù địch, bị dắt mũi để rồi chỉ vì vài trăm nghìn mà đốt phá, chống lại công an, chống lại chính quyền, coi thường pháp luật như đám đông ở Phan Rí Cửa.

Luật An ninh mạng được thông qua sẽ góp phần làm cho đám thợ sủa trên mạng phải dè chừng về những luồng thông tin mà đám này cung cấp tràn lan trên mạng xã hội như hiện nay, góp phần ngăn chặn những luồng thông tin độc hại đang tác động trực tiếp đến tư tưởng của những người dân và góp phần định hướng thông tin, làm cho môi trường thông tin trong sạch, lành mạnh.

Chủ Nghĩa Cấu Trúc Ở Việt Nam / 2023

Đối với văn học Việt Nam và văn học phương Đông nói chung, với tính chất điển phạm rất cao, việc phân tích theo lối thi pháp cấu trúc có lẽ là điều thuận lợi. Những tổ chức thi pháp như thơ Đường luật, tiểu thuyết chương hồi, ngâm khúc gây sự chú ý đối với bất cứ nhà thi pháp học cấu trúc nào. Quan niệm của R.Jakobson về văn bản thơ như là sự tổ chức theo chiều ngang (trục ngữ đoạn) các yếu tố tương đồng có thể lấy dẫn chứng trong thơ ca phương Đông với mức độ dày đặc.

– Dưới trăng quyên đã gọi hè

Hay nguyên lý nhị phân được chủ nghĩa cấu trúc xem như cách tổ chức phổ biến đối với hiện tượng tinh thần (phải – trái, chẵn – lẻ, âm – dương…) mà một trong những biến thể của nó là sự song hành (parallélisme) trong cấu trúc văn bản thơ, do H.G.Hopking đề xuất và R.Jakobson khảo chứng qua mọi nền thi ca, cũng có thể thấy rõ trong thơ trữ tình Việt Nam, rõ nhất là thơ ca thời trung đại. Thể loại câu đối là bằng chứng rõ nhất. Tư duy đối lập, kết cấu đối xứng dường như gây sức ép lên mọi nơi trong vương quốc thi ca, tạo nên đủ loại song hành tương đồng và song hành đối lập, ở mọi cấp độ:

Chẳng hạn, vẫn trong Kiều, với song hành tương đồng:

còn song hành đối lập:

– Người vào chung gối loan phòng

Cấu trúc tự sự của Truyện Kiều cũng là một tổ chức song hành độc đáo. Đó là sự đối lập trong hành trình của hai nhân vật chính theo hai con đường trái ngược nhau:

Kiều đi từ không gian nhỏ, đóng kín (êm đềm trướng rủ màn che/ tường đông ong bướm đi về mặc ai). Đấy cũng là không gian tròn đầy, trọn vẹn (vầng trăng vằng vặc giữa trời/ đinh ninh hai miệng một lời song song, để sau này chỉ còn là những trăng tà, trăng xế, trăng xẻ nửa). Do một biến cố, Kiều phải đi ra không gian lớn, không gian mở, không biết phía trước là gì (cũng liều nhắm mắt đưa chân/ thử xem con tạo xoay vần đến đâu), không gian bị chia cắt, băm nát (vầng trăng ai xẻ làm đôi; vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh). Kiều chết chính trong không gian lưu đày này:

Trông vời con nước mênh mông Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang

Trong một hành trình ngược lại, Từ Hải vốn là con người của không gian mở, không gian lớn, lớn trong mắt Nguyễn Du, cả trong mắt Thúy Kiều:

Từ Hải xuất hiện bất thình lình trong câu chuyện, không biết từ đâu đến, chỉ biết từ biên đình, một vùng xa, tức là một không gian mở. Và Từ Hải, vì nghe lời Kiều, mà định “bó thân về với triều đình”, “vào luồn ra cúi”… nghĩa là chấp nhận một không gian hẹp, bó buộc, ngột ngạt. Và Từ Hải chết chính trong không gian đó:

là một không gian nhỏ hẹp, đóng kín. Truyện Kiều, như vậy, là một bi kịch: con người không được sống trong không gian của mình, môi trường của mình, không thể định đoạt được số phận mình.

Cấu trúc nhị nguyên khó nhận ra hơn trong văn học hiện đại và hậu hiện đại, cần phải có sự phân tích vào bề sâu văn bản và luôn nhứ rằng một bài thơ, truyện kể không chỉ có một tổ chức nhị nguyên mà rất nhiều tổ chức cấu trúc (đối lập, đối xứng) như vậy, trên mọi cấp độ. Ý nghĩa của tác phẩm là kết quả sự tương tác của tất cả các tiểu cấu trúc này. Nhưng dù sao, sự phân tích cần nhất vẫn là nhìn ra sự đối lập cơ bản.

Bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu có cấu trúc đối lập: âm nhạc – thiên nhiên (một biến thể của cấu trúc phổ quát hơn: văn hóa – thiên nhiên). Chúng ta hãy sắp xếp các yếu tố theo trục tương đồng:

Sự đối lập ở đây là đối lập mang tính thống nhất, không phải đối lập đàn áp, loại trừ. Thống nhất giữa âm nhạc với thiên nhiên, văn hóa với tự nhiên, đó là hình mẫu của cái đẹp. Cái gì làm nên sự thống nhất đó: cái buồn và cái sầu. Buồn và sầu không phải là những phạm trù “tiêu cực” như quan niệm của các tín đồ chủ nghĩa hiện thực; buồn, sầu là cái đẹp của mỹ học lãng mạn chủ nghĩa. “Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh“. “Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê”. Mở đầu là thiên nhiên hòa nhập vào âm nhạc, hoàn kết là âm nhạc nhập vào thiên nhiên, tự nhiên.

Lời đề từ cho truyện thứ nhất là bài hát cổ: Cái tình chi, mượn màu son phấn ra đi…; lời đề từ cho truyện thứ ba là bài hát mới thơ Nguyễn Bính: Giang hồ sót lại mình tôi/ Quê người đắng khói quê người cay men. Nhân vật chính (Chương) là người ra đi, ra đi với một ý nghĩ khắc khoải, lặp đi lặp lại suốt thiên truyện: Ngày mai tôi đi ra biển; với một hành động bất chấp: Tôi đi… Hôm qua mưa. Hôm nay nắng đẹp. Ngày mai nắng. Tôi là Chương. Tôi đi… Tôi muốn văng tục! Tôi đi, tôi đang đi… Ở đây, hiểu theo khái niệm của Iu.Lotman, Chương là “nhân vật hành động”, tức là nhân vật có khả năng vượt qua các không gian văn bản, từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác. Con đường của nhân vật làm thành cốt truyện của văn bản; các nhân vật “phi hành động” thì chỉ thuộc về một không gian nhất định, bản thân chúng chỉ là bối cảnh cho hoạt động của nhân vật chính (cô Phượng ở ba truyện là nhân vật như vậy). Chỉ có riêng Chương, trong suốt thiên truyện, luôn vang vọng một câu nói: “ngày mai tôi đi ra biển” và luôn ám ảnh một hình tượng: “biển không có thủy thần”. Chương ra đi, rồi tiếp tục ra đi tìm lời đáp cho một huyền thoại: “Con gái thủy thần, nàng là ai?”. Đây chính là một hành trình giải huyền thoại. Có thể sơ đồ hóa cấu trúc như sau:

Trở lại với nhiệm vụ chính của cuốn sách, đặt góc nhìn sử trình đối với việc tiếp nhận chủ nghĩa cấu trúc ở Việt Nam, có thể thấy, thuyết cấu trúc đã từng được giới thiệu từ khá sớm, cách nay tới ba chục năm, nghĩa là ngay khi nó đang được bàn luận sôi nổi nhất và ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực học thuật và tư tưởng ở phương Tây, đặc biệt tại Pháp. Người ta đã không tiếc lời ca ngợi nó và ở một phía khác cũng không tiếc sức để phủ nhận nó. Tình trạng này cũng từng diễn ra ở Liên Xô trước đó một chút, tức là khoảng giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nên trước khi trực diện vào việc tiếp nhận ở Việt Nam, tôi muốn miêu thuật một số vấn đề cơ bản nảy sinh ở Liên Xô cũ khi tiếp nhận lý thuyết này.

Cuốn Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học của chúng tôi Trịnh Bá Đĩnh

Ở miền trước 1975, cũng có lúc chủ nghĩa cấu trúc được giới thiệu rộng rãi. Các tác giả nhiệt tình với công việc này là Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Thiện Đạo. Những bài viết lúc đó của Trần Thiện Đạo sau được tập hợp lại trong cuốn Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc, cho đến nay cũng đã được tái bản vài lần. Đáng chú ý nhất là những bài viết của Trần Thái Đỉnh trên tạp chí Bách khoa thời đại. Chủ nghĩa cấu trúc trong các khoa học nhân văn (chủ yếu là ở Pháp) được ông thuật giải một cách khá mạch lạc. Tuy nhiên, ngay cả ở miền lúc đó, những tác phẩm của các nhà cấu trúc luận cũng được dịch rất ít, nên dù sao những trao đổi cũng vẫn là giữa những nhà “tây học” với nhau. Hơn nữa nội dung trao đổi cũng vẫn sơ sài, nhất là lĩnh vực lý thuyết văn chương.

Thế nhưng ở đây vẫn còn một vấn đề. Như ta biết chủ nghĩa cấu trúc từ khoảng cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước cho đến nay đã rơi vào khủng hoảng. Đã hình thành một xu hướng gọi là hậu cấu trúc (poststructurlisim) như là sự “cải biên”, hiệu chỉnh, thậm chí có những điểm phủ định chủ nghĩa cấu trúc. Có nghĩa là chủ nghĩa cấu trúc đã bị vượt qua. Cần phải suy nghĩ về điều này như thế nào, phải chăng bị vượt qua có nghĩa là không có giá trị? Phải chăng khi vật lý học của A.Einstein ra đời thì vật lý học của I.Newton sẽ bị vứt bỏ? Không phải như vậy! Vật lý học I.Newton vẫn đúng và hữu ích trong một phạm vi nhất định. Sự phủ định trong khoa học là ở việc nhận ra giới hạn hoạt động của những quy luật được thấy trước đó, chứ không phải bác bỏ sự tồn tại của nó. Nhiều công trình của các nhà cấu trúc học, nhất là những công trình phân tích thực nghiệm văn bản đã trở thành kinh điển.

Thuyết cấu trúc không dễ hiểu, những công trình phân tích văn bản của các nhà cấu trúc luận gây khó khăn thực sự cho những ai không nắm được những tri thức về ngôn ngữ học và ký hiệu học. Đấy là chưa nói đến tri thức về những chuyên ngành cụ thể. Giới thiệu một lý thuyết như vậy, người thực hiện hiểu rằng khó mà tránh được những khiếm khuyết. Chỉ có điều, trong khả năng của mình, tôi đã gắng thực hiện công việc một cách tốt nhất để mang đến cho bạn đọc những điều mình thu lượm được.

PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tính Hai Mặt Của Fdi Ở Việt Nam / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!