Đề Xuất 12/2022 # Thương Mại Trực Tuyến Và Hành Vi Mua Sắm Của Người Tiêu Dùng / 2023 # Top 16 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Thương Mại Trực Tuyến Và Hành Vi Mua Sắm Của Người Tiêu Dùng / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thương Mại Trực Tuyến Và Hành Vi Mua Sắm Của Người Tiêu Dùng / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thương mại bán lẻ trực tuyến của Việt Nam đang phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm giai đoạn 2015 -2018 ở mức 30%. Bên cạnh những lợi điểm của thương mại trực tuyến vẫn còn tồn tại nhiều rủi ro mà người tiêu dùng chưa thật sự an tâm. Để góp phần giúp các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến khai thác những ưu điểm và hạn chế các rủi ro của thương mại điện tử, bài viết này tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam.

Nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, dựa trên kết quả nghiên cứu định tính đã xây dựng bảng câu hỏi triển khai nghiên cứu định lượng. Kết quả phân tích chỉ ra 5 nhân tố tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến: (1) nhận thức lợi ích; (2) động cơ thích thú; (3) thiết kế web (thẫm mỹ và nội dung); (4) yếu tố tâm lý; và (5) cảm nhận rủi ro. Các kết luận và kiến nghị được đề xuất nhằm góp phần nâng cao hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trực tuyến.

Từ khóa: Thương mại trực tuyến, hành vi mua hàng trực tuyến, người tiêu dùng.

1. Giới thiệu

Sự phát triển nhanh chóng của internet đã làm thay đổi phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ và ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT), góp phần đẩy mạnh sự phát triển của thương mại trực tuyến giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng- B2C trong những năm qua. Chính những tiện ích vốn có của TMĐT đã tạo cơ hội thuận lợi cho hoạt động mua sắm trực tuyến phát triển nhanh. Kinh doanh trực tuyến đang là một xu hướng thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh cá thể và cá nhân bởi những ưu điểm về hiệu quả và chi phí cũng như tính tương tác với khách hàng.

Theo kết quả khảo sát năm 2018 của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), năm 2015, doanh thu của thương mại điện tử B2C đạt 4,07 tỷ USD, nhưng từ năm 2016 đến năm 2018, tốc độ tăng trưởng trung bình khá cao; kết quả năm 2018 đạt 7,8 tỷ USD, chiếm khoảng 3,6% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 30%.

Theo dự báo của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), thị trường thương mại bán lẻ trực tuyến sẽ phát triển nhanh trong những năm tới, quy mô thị trường bán lẻ trực tuyến ước tính khoảng 13 tỉ USD, chiếm khoảng 5% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước vào năm 2020.

Kết quả khảo sát của VECOM năm 2018 cho thấy, giao dịch mua sắm trực tuyến đang tăng trưởng nhanh, trong đó chủ yếu tập trung một số loại hàng hóa, dịch vụ như quần áo, giày dép và mỹ phẩm, đồ công nghệ và điện tử, thiết bị đồ dùng gia đình, sách – văn phòng phẩm – quà tặng. Kênh mua sắm trực tuyến chủ yếu là các website TMĐT (bao gồm sàn giao dịch TMĐT), kế đến là mạng xã hội.

Bên cạnh những tiện ích của TMĐT, các yếu tố về tâm lý và mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với mua sắm trực tuyến còn phải được xem xét nhiều để tạo điều kiện phát triển nhanh kênh bán hàng trực tuyến. Hiện tại, các nghiên cứu về mua sắm trực tuyến ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc đánh giá mức độ sự hài lòng của khách hàng mua hàng trực tuyến, chất lượng dịch vụ kinh doanh trực tuyến, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa thương mại trực tuyến và hành vi mua sắm của người tiêu dùng.

Do vậy, vấn đề đặt ra là cần phân tích những yếu tố tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng để khai thác lợi thế của TMĐT và tạo được niềm tin của người mua đối với kênh bán hàng trực tuyến. Đây chính là mục tiêu của nghiên cứu này và là một nghiên cứu rất cần thiết về lĩnh vực kinh doanh trực tuyến của Việt Nam hiện nay.

2. Mối quan hệ giữa thương mại trực tuyến và hành vi mua sắm của người tiêu dùng

Thương mại trực tuyến là sự mua bán sản phẩm, dịch vụ trên các hệ thống điện tử như internet và các mạng máy tính, được chia thành 4 nhóm, dựa trên các đặc điểm của bên mua và bên bán, đó là: (1) Doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B); (2) Doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C); Người tiêu dùng với tiêu dùng (C2C); Người tiêu dùng với doanh nghiệp (C2B) (Kotler và Armstrong, 2012).

Trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhóm thứ hai là giao dịch doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C). Khi chọn mua một sản phẩm hay một dịch vụ người tiêu dùng thường dựa vào lý trí của họ để tối đa hóa giá trị sử dụng dựa trên chi phí phải bỏ ra, xem xét đến loại sản phẩm dịch vụ cần mua, lý do mua, khi nào mua và mua ở đâu. H ành vi người tiêu dùng là hệ quả các tác nhân của môi trường tác động vào ý thức của người mua, những đặc điểm và quá trình ra quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định (Kotler, 2003).

Quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng là tương đối giống nhau giữa mua hàng truyền thống và mua hàng trực tuyến, nhưng cũng có một số khác biệt là do những tác động của môi trường mua sắm và truyền thông tiếp thị (Kotler và Armstrong, 2012). Quá trình phát triển nhanh chóng của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và internet đã ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi các quy tắc hiện tại của thế giới kinh doanh nói chung và hành vi mua sắm của người tiêu dùng nói riêng.

Pavlou và Fygenson (2006) cho rằng, có sự liên kết chặt chẽ giữa thương mại trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến, dựa vào TMĐT người tiêu dùng có thể tìm kiếm thông tin và mua sản phẩm bằng cách sử dụng công nghệ internet. Thương mại trực tuyến tác động đến hành vi và quyết định mua sắm của người tiêu dùng trên 2 khía cạnh: (1) Các nhân tố tạo động cơ thúc đẩy người tiêu dùng mua hàng trực tuyến; và (2) Các nhân tố làm cản trở người tiêu dùng từ mua sắm trực tuyến.

Các yếu tố tạo ra động lực thúc đẩy người tiêu dùng tham gia mua sắm xuất phát từ sự tiện lợi, sự lựa chọn sản phẩm và dịch vụ, thông tin phong phú, dễ dàng truy cập và dễ dàng mua sắm, thích thú khám phá. Ở khía cạnh tích cực của TMĐT cho thấy hành vi mua sắm bị tác động bởi 3 nhân tố đó là: (1) Nhận thức lợi ích của TMĐT; (2) Thiết kế web thể hiện nội dung thông tin, thẩm mỹ, dễ truy cập; (3) Thích thú khám phá hay còn gọi là động cơ thích thú (Pavlou và Fygenson, 2006). Ngược lại các nhân tố làm cản trở người tiêu dùng từ mua sắm trực tuyến, đó là: (1) Cảm nhận rủi ro; và (2) Yếu tố tâm lý về tính an toàn (Comegys và cộng sự, 2009).

Nhận thức lợi ích: của thương mại trực tuyến bao hàm sự tiện lợi, sự lựa chọn sản phẩm và dịch vụ, thông tin phong phú. Phần lớn các nghiên cứu đã chỉ ra sự tiện lợi và tiết kiệm thời gian là những lý do chính mà thúc đẩy người tiêu dùng mua sắm trực tuyến. Nazir và cộng sự (2012) đã chứng minh sự tìm kiếm sản phẩm và dịch vụ thông qua internet sẽ nhanh chóng và chi phí thấp hơn nhiều. Sử dụng công cụ tìm kiếm trên internet sẽ dễ dàng tìm những sản phẩm và dịch vụ phù hợp, có thể khám phá ra nhiều loại hàng hóa, trong khi mua sắm truyền thống gặp nhiều khó khăn như mất nhiều thời gian và chi phí (Moshref Javadi và ctg, 2012). Giả thuyết H1 là:

H1: Nhận thức lợi ích của mua sắm trực tuyến tác động cùng chiều đến hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng.

Cảm nhận rủi ro: bên cạnh những lợi ích của mua sắm trực tuyến, người tiêu dùng cũng rất quan tâm đến các rủi ro về sản phẩm, tài chính, đổi trả hàng, sự gian lận của người bán. Rủi ro sản phẩm trong mua sắm trực tuyến có thể dự kiến ở mức độ cao do người mua không thể kiểm tra và thử nghiệm chất lượng sản phẩm và cũng không có sự lựa chọn để thay thế (Garbarino & Strahilevitz, 2004). Chen và cộng sự (2010) cho rằng, nguy cơ rủi ro mất tiền, không giao hàng có tác động tiêu cực đến ý định hành vi mua sắm trực tuyến. Giả thuyết H2 là:

H2: Cảm nhận rủi ro của mua sắm trực tuyến tác động ngược chiều đến hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng.

Yếu tố tâm lý: mối quan tâm về thông tin cá nhân và các vấn đề an toàn, niềm tin và bảo mật có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm và ý định mua sắm của người mua hàng trực tuyến. Lee và Huddleston (2010) cho rằng nguy cơ bị đánh cắp thông tin cá nhân vì người mua được yêu cầu phải tiết lộ thông tin cá nhân khi mua sắm trực tuyến. Nazir và các cộng sự (2012) đã phân tích các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến hành vi mua sắm và lý do tại sao người tiêu dùng lưỡng lự mua sắm trực tuyến. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố xã hội, tâm lý, tình cảm và sự riêng tư cá nhân có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của người mua hàng trực tuyến. Trong đó, các yếu tố niềm tin, an toàn và bảo mật thông tin cá nhân được người mua rất quan tâm lo lắng nhất.

Bởi vì trong nhiều trường hợp thông tin cá nhân của họ bị sử dụng bởi các bên khác cho mục đích tiếp thị và một khi người tiêu dùng phát hiện điều này, họ mất lòng tin đối với người bán hàng trực tuyến và điều này ngăn cản họ thực hiện các giao dịch trực tuyến tiếp theo (Chen và ctg, 2010). Hầu hết các nghiên cứu kết luận là yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến sự tin cậy đối với người bán hàng trực tuyến bao gồm cảm nhận an toàn, bảo mật thông tin cá nhân, tin tưởng. Chen và cộng sự (2010) đưa ra đề nghị việc tăng cường các biện pháp bảo mật kiểm soát thông tin cá nhân là rất quan trọng và cần thiết để loại bỏ sự lo lắng và tạo niềm tin của người mua hàng trực tuyến. Giả thuyết H3 là:

H3: Yếu tố tâm lý tác động cùng chiều đến hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng.

Động cơ thích thú: môi trường trực tuyến tạo ra cơ hội thu hút người mua tìm kiếm thông tin và khám phá những cái mới lạ trên toàn thế giới. Nghiên cứu của Childers và cộng sự (2001) chỉ ra thương mại trực tuyến tạo ra sự lôi cuốn, tiện lợi và hữu ích có tác động mạnh hành vi mua sắm. Những phát hiện từ nghiên cứu của Kim và cộng sự (2004) cũng cho thấy các yếu tố như lợi ích, phong phú và giá trị hữu dụng của thông tin trực tuyến cùng với những trải nghiệm là những nhân tố tạo động cơ thích thú tác động đến ý định tìm kiếm và mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng. Giả thuyết H4 là:

H4: Động cơ thích thú tác động cùng chiều đến hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng.

Thiết kế web (thẩm mỹ và nội dung): Chen và cộng sự (2010) đã nghiên cứu các yếu tố của trang web có tác dụng kích thích, thu hút khách hàng và làm gia tăng ý định mua hàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố cần thiết để tạo ra một giao diện của web thân thiện và chuyên nghiệp phải thể hiện khả năng dễ dàng sử dụng, bảo mật, tiện lợi, hình ảnh hấp dẫn. Koo và ctg, (2008). đã tiến hành một nghiên cứu với mục đích là tìm hiểu tác động của chất lượng và tính chuyên nghiệp của trang web đến ý định của người tiêu dùng để mua hàng trực tuyến. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng và tính chuyên nghiệp của trang web đã có một mối quan hệ tích cực đáng kể với ý định mua hàng (Broekhuizen và Huizingh, 2009). Nghiên cứu đưa ra kết luận là các công ty kinh doanh trực tuyến cần đầu tư các trang web một cách chuyên nghiệp để thu hút và giữ chân người mua sắm trực tuyến. Giả thuyết H5 là:

H5: Thiết kế web (thẩm mỹ và nội dung) tác động cùng chiều đến hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng.

3. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng cách tiếp cận kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng. Dựa vào lý thuyết của các nghiên cứu trước đây đã trình bày nêu trên, tiến hành nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia để điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Dựa vào kết quả nghiên cứu định tính sẽ điều chỉnh, bổ sung c

Kết quả nghiên cứu định tính cho rằng năm (5) nhân tố của thương mại bán lẻ trực tuyến có tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam, đó là: nhận thức lợi ích, cảm nhận rủi ro, yếu tố tâm lý, động cơ thích thú, và thiết kế web (thẫm mỹ và nội dung). Kết quả của nghiên cứu sơ bộ cho rằng hầu hết các biến quan sát đánh giá các khái niệm nghiên cứu khá đầy đủ, trình bày rõ ràng.

Bảng câu hỏi định lượng được thiết kế với 26 biết quan sát, được đo bằng thang đo Likert 5 điểm, từ (1): ‘hoàn toàn không đồng ý’ đến (5): ‘hoàn toàn đồng ý’. Nhân tố “Nhận thức lợi ích” được đo lường bằng thang đo của Rehman và Ashfaq (2011), Lim và Dubinsky (2004), Forsythe và cộng sự (2006), Chen và cộng sự (2010), Goldsmith và Flynn (2005), Park (2008). Nhân tố “Cảm nhận rủi ro” được đo lường bằng thang đo của Chen và cộng sự (2010), Forsythe và cộng sự (2006), Garbarino và Strahilevitz, (2004).

Nhân tố “Yếu tố tâm lý” được đo lường bằng thang đo của Lee và Huddleston (2010), Forsythe và cộng sự (2006), Nazir và các cộng sự (2012), Chen và cộng sự (2010). Nhân tố “Động cơ thích thú” được đo lường bằng thang đo của Kim và Lee (2004), Childers và cộng sự (2001), Chen và cộng sự (2010). Nhân tố “Thiết kế web” được đo lường bằng thang đo của Chen và cộng sự (2010), Rehman (2011), Prasad và Aryasri (2009). Nhân tố “Hành vi mua sắm trực tuyến” được đo lường bằng thang đo của Hooria Adnan (2014), Forsythe và cộng sự (2006), Sin và cộng sự (2012). Thang đo của các khái niệm nghiên cứu được tóm tắt tại Bảng 1.

Bảng 1. Thang đo các khái niệm nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng thực hiện bằng hình thức phỏng vấn gửi bảng câu hỏi trực tiếp và gửi email bảng câu hỏi trực tuyến đến người được phỏng vấn là những người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh có tham gia mua sắm trực tuyến. Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện, là phương pháp chọn mẫu phi xác xuất. Kích thước mẫu là 500, qua quá trình phỏng vấn đạt tỉ lệ hồi đáp là 89%, trong đó 53 bảng câu hỏi không đạt yêu cầu chất lượng trả lời. Nghiên cứu định lượng được thực hiện với kích thước mẫu nghiên cứu là 447, trong đó tỉ lệ nữ chiếm 77,5%, nam chiếm 22,5%; những người mua hàng ở độ tuổi từ 18 đến 30 chiếm 52,5%; từ 31 đến 40 chiếm 31,5%; từ 41 đến 50 chiếm 11,6%; tuổi trên 50 chỉ chiếm 4,4%; và mức thu nhập dưới 5 triệu đồng chiếm 15,4%; từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng chiếm 31,5%; từ trên 10 triệu đồng đến 15 triệu là 28,5%, trên 15 triệu đồng chiếm 24,7%.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Đánh giá độ tin cậy thang đo và giá trị thang đo

Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha được tiến hành sử dụng để đo lường độ tin cậy thang đo cho các khái niệm nghiên cứu về hành vi mua sắm trực tuyến. Nguyên tắc đảm bảo cho các khái niệm nghiên cứu có độ tin cậy thang đo cao thì các nhân tố được chọn phải đảm bảo 2 tiêu chí là: có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0.6 trở lên và các biến quan sát có hệ số tương quan biến – tổng (Corrected item- Total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại (Nunnaly & Burtien, 1994).

Kết quả phân tích lần thứ nhất, thang đo nhân tố nhận thức lợi ích, nhân tố yếu tố tâm lý, nhân tố động cơ thích thú và nhân tố thiết kế web đều có các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.7 và hệ số tương quan biến-tổng lớn hơn 0.5 nên đáp ứng độ tin cậy thang đo. Riêng nhân tố ‘cảm nhận rủi ro’, kết quả phân tích lần thứ nhất, biến quan sát RR4 có hệ số tương quan biến tổng là 0.095, nhỏ hơn hơn 0.3, nên bị loại. Thang đo nhân tố hành vi mua sắm trực tuyến có hệ số Cronbach’s Alpha của các biến quan sát đều lớn hơn 0.6 và có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0.3 nên được chấp nhận.

Hệ số tải nhân tố của các biến trong thang đo hành vi mua sắm tực tuyến đều lớn hơn 0,7; giá trị Eigenvalue là 1.995, và phương sai trích là 66,49%. Như vậy, các thang đo các khái niệm nghiên cứu được chấp nhận, đảm bảo độ tin cậy (tại Bảng 2) và được sử dụng cho phân tích hồi quy tuyến tính bội.

4.2. Phân tích hồi quy tuyến tính bội

Phân tích hệ số tương quan nhằm xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hay nhiều biến, với giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan bằng 1 thể hiện mối tương quan khá chặt chẽ. Nếu hệ số tương quan thấp hơn 0,85 chứng tỏ có giá trị phân biệt tồn tại giữa hai biến (John & Benet-Martinez, 2000). Kết quả ma trận hệ số tương quan của Bảng 3 có mức ý nghĩa α ≤ 0,05, và các hệ số tương quan giữa các biến dao động trong khoảng từ 0,174 đến 0,662 cho thấy 5 biến độc lập có mối tương quan tuyến tính khá chặt chẽ với biến phụ thuộc là hành vi mua sắm trực tuyến. Như vậy, thang đo các khái niệm nghiên cứu của mô hình đạt được giá trị phân biệt, nghĩa là tất cả các thang đo trong kết quả nghiên cứu này đã đo lường được các khác niệm nghiên cứu khác nhau nên được đưa vào phân tích hồi quy.

Phân tích hồi quy tuyến tính bội về mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc thương mại trực tuyến tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến được thể hiện tại Bảng 4, cho thấy mối liên hệ của 5 biến độc lập là: nhận thức lợi ích, cảm nhận rủi ro, yếu tố tâm lý, động cơ thích thú, thiết kế web với biến phụ thuộc là hành vi mua sắm trực tuyến đều có giá trị Sig<0.05 (p=0,000). Hệ số xác định R 2 là 0,578 và R 2 đã điều chỉnh là 0.573, như vậy mô hình hồi quy tuyến tính bội đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu đến mức 57,3%. Hay nói cách khác, 57,3% hành vi mua sắm trực tuyến là có sự tác động của 5 nhân tố nêu trên, phần còn lại là do các nhân tố khác ảnh hưởng.

Kết quả phân tích phương sai chỉ ra giá trị kiểm định F= 120.626, với Sig.=0,000, nghĩa là có ít nhất một biến độc lập có quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc. Hệ số độ chấp nhận (Tolerance) thấp và hệ số VIF đều nhỏ hơn 2, chứng tỏ không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến và không có mối tương quan chặt chẽ giữa các biến độc lập. Điều này cho phép kết luận mô hình hồi quy phù hợp với các dữ liệu và các biến điều có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%. Dựa vào kết quả phân tích cho phép kết luận là các giả thuyết H1, H2, H3, H4, và H5 được chấp nhận.

Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính chỉ ra nhân tố có tác động lớn nhất đến hành vi mua sắm trực tuyến là nhận thức lợi ích (Hệ số chuẩn hóa: β = 0,319), thứ nhì là động cơ thích thú (β = 0,280), kế đến là thiết kế web (β=0,215), và yếu tố tâm lý (β = 0,191). Nhân tố cảm nhận rủi ro có tác động ngược chiều với hành vi mua sắm trực tuyến nhưng ở mức độ nhỏ. Mô hình mối tương quan hồi quy tuyến tính bội các nhân tố được biểu thị như sau:

Y HV = 0,722 + 0,197LI+ 0,142WE + 0,180TL – 0,070RR + 0,165TT

5. Kết luận và kiến nghị

5.1. Kết luận

Theo kết quả khảo sát năm 2018 của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của tổng doanh số thương mại bán lẻ trực tuyến là 30%, dự báo thương mại bán lẻ trực tuyến của Việt Nam sẽ phát triển nhanh trong những năm tới, quy mô thị trường bán lẻ trực tuyến ước tính khoảng 13 tỉ USD vào năm 2020. Điều này, phản ánh tiềm năng của thương mại bán lẻ trực tuyến và xu hướng kết hợp giữa thương mại bán lẻ phi trực tuyến (kênh bán lẻ truyền thống và hiện đại) với thương mại bán lẻ trực tuyến đang phát triển nhanh trong những năm tới.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại trực tuyến và hành vi mua sắm của người tiêu dùng, kết quả chi ra 5 nhân tố, đó là: (1) nhận thức lợi ích; (2) động cơ thích thú; (3) thiết kế Web (thẫm mỹ và nội dung); (4) yếu tố tâm lý; và (5) cảm nhận rủi ro có tác động đến hành vi mua sắm trực tuyến, trong đó mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố khác nhau, cụ thể:

Nhận thức lợi ích có hệ số chuẩn hóa cao nhất (β=0,319), và giá trị trung bình của nhân tố này đạt mức khá cao (mean=3.65). Điều này cho thấy lợi ích vốn có của thương mại trực tuyến so với thương mại phi trực tuyến đã thu hút sự mua sắm của khách hàng ngày càng cao và xu hướng này sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời đại công nghiệp kỹ thuật số. Kết quả cho thấy rằng nhận thức lợi ích của mua sắm trực tuyến có quan hệ cùng chiều với hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng. Phát hiện này là phù hợp với những nghiên cứu của Chen và cộng sự (2010), Nazir và công sự (2012), Rehman và Ashfaq (2011), Iqbal, Rahman và Hunjra (2012).

Kế đến là nhân tố động cơ thích thú có hệ số chuẩn hóa khá cao (β=0,280) và giá trị trung bình của nhân tố này đạt mức cao (mean=4.14). Kết quả cho thấy động cơ thích thú có ảnh hưởng lớn đến hành vi mua sắm trực tuyến, chính môi trường mua sắm trực tuyến tạo ra cơ hội thu hút người mua tìm kiếm thông tin và khám phá những cái mới lạ. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy có sự tương đồng với nghiên cứu của Childers và cộng sự (2002) về sự thích thú và tính thực dụng có ảnh hưởng đến người mua sắm trực tuyến.

Nhân tố tâm lý (niềm tin và sự an toàn) ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua sắm trực tuyến có hệ số chuẩn hóa cao (β = 0,191) và giá trị trung bình của nhân tố này có mức trên trung bình (mean=3.79). Người mua hàng trực tuyến có cảm nhận lo lắng sự bảo mật và an toàn về thông tin cá nhân, tài khoản tín dụng khi giao dịch trực tuyến. Nghiên cứu này cho kết quả khá tương đồng với các nghiên cứu của Lee và Huddleston (2010); Nazir và các cộng sự (2012) cho thấy lý do tại sao người tiêu dùng lưỡng lự và cân nhắc kỹ khi mua sắm trực tuyến.

Nhân tố cảm nhận rủi ro có hệ số chuẩn hóa ở mức thấp (β = -0,083) và giá trị trung bình của nhân tố này có mức khá cao (mean= 4.07), tác động ngược chiều với hành vi mua sắm trực tuyến. Cảm nhận rủi ro khi mua sắm trực tuyến bao gồm rủi ro tài chính, rủi ro sản phẩm, rủi ro bảo mật thông tin và rủi ro về sự gian lận của người bán hàng trực tuyến đã có tác động nghịch chiều với ý định mua hàng. Những phát hiện này tương tự như những phát hiện của Forsythe và Shi (2003), Sulaiman và cộng sự (2007), Chen và cộng sự (2010).

5.2. Kiến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đề xuất nhằm góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển thị trường thương mại điện tử B2C của Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, nhà kinh doanh trực tuyến cần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng giảm thiểu thời gian mua sắm thông qua xây dựng hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin và trả lời khách hàng một cách nhanh nhất. Đối với những web yêu cầu nhiều công đoạn khi thực hiện mua hàng, nên sử dụng các phần mềm hỗ trợ đảm bảo giao dịch được thực hiện một cách nhanh nhất.

Thứ ba, xu hướng bán hàng đa kênh (omni channel) đã phát triển mạnh tại các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam đã và đang hình thành. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà bán lẻ trực tuyến mở thêm các cửa hàng thực và ngược lại. Theo nhận định của Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam, phương thức bán lẻ đơn kênh, tức là chỉ bán tại cửa hàng hoặc trực tuyến sẽ giảm dần và bị thay thế dần bởi phương thức bán lẻ đa kênh. Phương thức bán lẻ đa kênh có ý nghĩa then chốt trong tiếp cận và gắn kết khách hàng trong thời đại kinh tế số.

Các nhà bán lẻ phải tạo ra trải nghiệm mua sắm hấp dẫn cho khách hàng với các công nghệ hình ảnh ba chiều (hologram), thực tế ảo (virtual reality) và di động. Ngày càng nhiều khách hàng tìm kiếm trực tuyến sau đó mua sắm thực tế (webrooming), và ngược lại nhiều khách hàng tìm kiếm thực tế, sau đó mua sắm trực tuyến (showrooming). Sự kết hợp giữa thực và ảo làm gia tăng sự tiện lợi cho khách hàng. Đặc biệt, cách so sánh giá cả sản phẩm của người tiêu dùng cũng diễn ra trên không gian số, đặc biệt là từ điện thoại di động.

Thứ tư, cần giải thích rõ công nghệ bảo mật mà website sử dụng và cam kết với khách hàng rằng các thông tin cá nhân của họ sẽ được mã hóa khi nhập vào website. Điều này sẽ củng cố niềm tin và tạo cho khách hàng cảm thấy an toàn và đảm bảo khi mua hàng trực tuyến. Để tránh trường hợp bị hacker, doanh nghiệp cần phải được kiểm soát chặt chẽ và áp dụng các kiểm tra an toàn thông tin ngay từ khi phát triển ứng dụng và sau khi đưa vào cung cấp. Đồng thời, doanh nghiệp thường xuyên tiến hành rà soát và đánh giá lại mức độ an toàn của các hệ thống vì theo thời gian hệ thống thường xuất hiện các lỗ hổng, rủi ro mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Broekhuizen, T. & Huizingh, E., (2009). Online purchase determinants: Is their effect moderated by direct experience? Management Research News, 32(5), 440-457.

Chen, Y. H., Hsu, I., & Lin, C. C., (2010). Website attributes that increase consumer purchase intention: A conjoint analysis. Journal of business research, 63(9), 1007-1014.

Childers, T.L., Carr, C.L., Peck, J. and Carson, S., (2001). Hedonic and utilitarian motivations for online retail shopping behavior. Journal of Retailing, 77(4), 511-535.

Comegys, C., Hannula, M. and Váisánen, J., (2009). Effects of consumer trust and risk on online purchase decision-making: A comparison of Finnish and United States students. International Journal of Management, 26(2), 295-308.

Forsythe, S.M., C. Liu, D. Shannon, & L.C. Gardner (2006). Development of a scale to measure the perceived benefits and risks of online shopping. Journal of Interactive Marketing, 20(2), 55-75.

Garbarino, E., & Strahilevitz, M. (2004). Gender differences in the perceived risk of buying online and the effects of receiving a site recommendation. Journal of Business Research, 57, 768-775.

John, O.P., & Benet-Martinez, V. (2000), Measurement: Reliability, Construct Validtion, and Scale Construction, In H.T. Reis & C. M. Judd (Eds), Handbook of Research Methods in Social Psychology, 33-369, New York:Cambridge University Press.

Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2018.

Hooria Adnan, (2014). An Analysis of the Factors Affecting Online Purchasing Behavior of Pakistani Consumers. International Journal of Marketing Studies, 6(5).

11 Kim, J., Lee, H. C., & Kim, H. J. (2004). Factors Affecting Online Search Intention and Online Purchase Intention. Seoul Journal of Business, 10(2), 27-48.

Kotler, P & Arnmstrong, G (2013). Principles of Marketing,14th Ed. Upper Saddle River, Prentice-Hall.

Kotler, P. (2003). Marketing Management, Eleven Ed. Prentice-Hall, New York.

Koo, D.M., Kim, J.J. and Lee, S.H., (2008). Personal values as underlying motives of shopping online. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics, 20(2), 156-173.

Lee, H. J., & Huddleston, P. T. (2010). An investigation of the relationships among domain-specific innovativeness, overall perceived risk and online purchase behavior. International Journal of Electronic Marketing and Retailing, 3(1), 1-4.

Lim, H. & Dubinsky, A.J., (2004). Consumers’ perceptions of e-shopping characteristics: An expectancy-value approach. The Journal of Services Marketing, 18 (6), 500-513.

Moshref Javadi, M. H., Dolatabadi, H. R., Nourbakhsh, M., Poursaeedi, A., & Asadollahi, A. R. (2012). An Analysis of Factors Affecting on Online Shopping Behavior of Consumers. International Journal of Marketing Studies, 4(5), 81-98.

Nazir, S., Tayyab, A., Sajid, A., Rashid, H., Javed, I. (2012). How online shopping is affecting consumers buying behaviour in Pakistan? International Journal of Computer Science Issues, 9(3), 486-495.

Nunnally.J. & I.H. Bernstein (1994). Pschychometric Theory, 3rd, ed., McGraw- Hill, New York.

Parks, S., (2008). 7 Reasons why people shop online. http://www.articlesbase.com/

home-business-articles/7-reasons-why-people-shop-online-554620.html.

Pavlou, P. A., & Fygenson, M. (2006). Understanding and predicting electronic commerce adoption: An extension of the theory of planned behavior. Management Information Systems Quarterly, 30(1), 115-143.

Prasad, C. & Aryasri, A., (2009). Determinants of shopper behavior in e-tailing: An empirical analysis. Paradigm, 13(1), 73-83.

Rehman, K. U., Rehman, I. U., Ashfaq, M., & Ansari, S., (2011). Examining online Purchasing Behavior: A case of Pakistan. International Proceedings of Economics Development & Research, 5(2), 262-265.

Sin, S. S., Nor, K. M., & Al-Agaga, A. M. (2012). Factors Affecting Malaysian young consumers’ online purchase intention in social media websites. Procedia-Social and Behavioral Sciences, 40, 326-333.

E-COMMERCE AND ONLINE Assoc. Prof. PhD. BUI THANH TRANGSHOPPING BEHAVIOR HO XUAN TIENOF VIETNAMESE CONSUMERSABSTRACT:

School of International Business & Marketing, University of Economics of Ho Chi Minh City

Faculty of Business Administration, Saigon University

Vietnam online retail trade is growing quite fast with the average annual growth rate of 30% during the period 2015-2018. Besides the benefits of e-commerce, there are still many risks that consumers are really concerned. This study aims to analyze the factors affecting online shopping behavior of Vietnamese consumers. The study was conducted by using qualitative methods through direct interviews with experts.

Then, a questionnaire was designed based on the results of qualitative research to implement quantitative research. The analysis shows that there are five factors influencing the behavior of online shoppers, namely (1) perceived benefits; (2) exicited motivation; (3) web design and content; (4) psychological factors; and (5) perceived risks. The conclusions and recommendations are proposed in this study to improve the business activities of online retail businesses.

Keywords: E-commerce, online shopping behavior, perceived benefits, perceived risks.

Hành Vi Thương Mại Là Gì? Đặc Điểm Của Hành Vi Thương Mại? / 2023

Hoạt động thương mại là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

1. Hành vi thương mại là gì?

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Theo cách hiểu truyền thống, hành vi thương mại là hành vi mua bán nhằm mục đích lợi nhuận; hành vi thương mại là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. Hành vi thương mại tạm dịch sang tiếng Anh là Commercial act.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, khái niệm về hành vi thương mại đã được mở rộng đến cả lĩnh vực sản xuất, phân phối, dịch vụ và các lĩnh vực khác, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động thương mại được biểu hiện trong đời sống thông qua việc các cá nhân, tổ chức thực hiện một hoặc tập hợp các hành vi thương mại.

Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội loài người, trên cơ sở sự phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Sự ra đời và phát triển của thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội, thương nghiệp ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm để kiếm lời – các thương nhân, lúc đó hành vi thương mại đã được hình thành.

Thương mại, Comerxium (tiếng Lating), Commerce (theo Tiếng Anh có nghĩa là buôn bán. Ở nước ta, theo cách hiểu phổ thông, thương mại là hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở thuận mua vừa bán.

Thuật ngữ “hành vi thương mại” được sử dụng khá phổ biến trong luật thương mại của một số nước. Chẳng hạn như trong Bộ luật thương mại Pháp, tuy chưa xác định rõ khái niệm thế nào là hành vi thương mại nhưng đã liệt kê một số hành vi được coi là hành vi thương mại (xem Điều 632, 633 Bộ luật thương mại Pháp).

Ở Việt Nam trước đây, trong Bộ luật thương mại của Việt Nam cộng hòa đã xác định một cách khái quát về hành vi thương mại, đó là những hành vi chế tạo, lưu chuyển, trung gian có mục đích kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp (xem Điều 340 Bộ luật thương mại Việt Nam cộng hòa năm 1972).

Ở nước ta trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ thương mại với nghĩa là một hoạt động ít khi được sử dụng. Chỉ đến thời kỳ chuyển sang kinh tế thị trường hàng hóa nhiều thành phần, thuật ngữ thương mại mới được sử dụng trở lại. Tuy nhiên, thuật ngữ này được hiểu ở nghĩa hẹp của nó, đó là mua bán. Theo các tác giả Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân thì ” thực chất của thương mại là quá trình trao đổi hàng hóa qua mua bán trên thị trường” hoặc theo khoản 2 Điều 5 Luật thương mại năm 1997 thì: Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hành vi xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội.

Luật thương mại 2005 quy định như sau:

9. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.

Trong thời kỳ gần đây, khi Việt Nam kí Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và xúc tiến tham gia quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, khái niệm thương mại dần được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Khái niệm hành vi thương mại theo nghĩa rộng đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận trong heo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Theo khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của các cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, thuê, cho thuê, cho thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li – xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, vận chuyển hàng hóa, hành khách là các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Hoặc t Luật thương mại 2005, hoạt động thương mại là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

2. Đặc điểm của hành vi thương mại

Căn cứ vào định nghĩa trên, có thể nêu khái quát những đặc điểm riêng biệt của hành vi thương mại như sau:

– Hành vi thương mại khác hành vi dân sự về thời điểm xuất hiện và tính ổn định:

Hành vi dân sự ra đời rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, từ khi con người tạo ra những sản phẩm dư thừa và có nhu cầu trao đối lấy những sản phẩm khác loại của người khác với mục đích thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn, mãi đến khi sự phân công lao động trong xã hội đạt đến trình độ nhất định, trong xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên mua đi bán lại các sản phẩm, hàng hóa với mục đích kiếm lời. Quan hệ dân sự mang tính ổn định và bền vững cao, ít chịu tác động của biến động bên ngoài.

– Hành vi thương mại là hành vi nhằm mục tiêu sinh lợi:

Đây là những hành vi được diễn ra trên thị trường hợp pháp, tuân theo các quy luật của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật kích thích sức mua giả tạo… Những hành vi này thực hiện với mục đích là có lãi hơn so với chi phí bỏ ra ban đầu. Nếu một hành vi được thực hiện nhằm mục đích tiêu dùng thì đó là hành vi dân sự, ngược lại, cũng là hành vi đó nhưng được thực hiện nhằm mục đích sinh lời thì đó là hành vi thương mại.

Ví dụ, một người mua nhà để ở, đó là hành vi dân sự; còn thương nhân mua nhà để kinh doanh, đó là hành vi thương mại.

– Hành vi thương mại là hành vi mang tính chất nghề nghiệp:

Các hành vi này phải được chủ thể tiến hành thường xuyên, liên tục và lặp đi lặp lại. Cùng với đó, nó mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thực hiện hành vi. Trên thương trường, có một số hành vi nhằm mục đích sinh lời nhưng chúng không phải là hành vi thường xuyên của chủ thể, không mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thì không phải hành vi thương mại.

Chẳng hạn, nhân chuyến đi công tác, một viên chức mua số lượng hàng hóa nhất định nào đó ở nơi công tác về bán để kiếm lời.

– Hành vi thương mại là hành vi chủ yếu do thương nhân thực hiện:

Hành vi thương mại chủ yếu do thương nhân thực hiện, nhưng cũng không phải là tất cả. Bởi vì, pháp luật còn quy định về hoạt động của cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh, tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định 39/2007/NĐ-CP:

“Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

Mua Sắm Trực Tuyến Trong Tiếng Tiếng Anh / 2023

Tuy nhiên, ngày nay, mọi người đang chuyển nhiều hơn sang mua sắm trực tuyến.

Nowadays, however, people are turning more and more to online shopping.

WikiMatrix

Khi bạn mua sắm trực tuyến thì không cần phải ra khỏi nhà .

When you shop online there is no need to leave home .

EVBNews

Thiết lập mức chi phí vận chuyển kỳ vọng với người mua sắm trực tuyến.

Set expectations with people shopping online about how much delivery will cost.

support.google

Muốn mua sắm trực tuyến hoặc trực tiếp

Want to shop online or in person

support.google

Nó cũng có sẵn ở Ấn Độ thông qua các trang mua sắm trực tuyến.

It is now available for sale in India through various online shopping sites.

WikiMatrix

Thương mại điện tử ở Ấn Độ Mua sắm trực tuyến ^ “Flipkart losses swell 68% to Rs 8,771 crore in FY17”.

“Flipkart losses swell 68% to Rs 8,771 crore in FY17″.

WikiMatrix

Năm 1995 Amazon ra mắt trang web mua sắm trực tuyến của nó, và vào năm 1996 eBay đã xuất hiện.

Immediately after, chúng tôi launched its online shopping site in 1995 and eBay was also introduced in 1995.

WikiMatrix

Công ty cũng cung cấp các dịch vụ mua sắm trực tuyến, cộng đồng trực tuyến, và di động.

The company also provides services of online shopping, online community, and mobile content.

WikiMatrix

Khi mua sắm trực tuyến , tìm kiếm tên cửa hàng cộng với ” mã phiếu mua hàng ” trước khi mua .

When shopping online , search for the store ‘s name plus ” coupon code ” before making a purchase .

EVBNews

Sephora khai trương trang web mua sắm trực tuyến đầu tiên tại Mỹ vào năm 1999 và tại Canada vào năm 2003.

Sephora launched its online store to the U.S. in 1999 and into Canada in 2003.

WikiMatrix

Với việc tăng mua sắm trực tuyến, sẽ có ít cơ hội hơn để thử sản phẩm trước khi mua.

With the increase of online shopping, there are fewer opportunities to try a product prior to purchase.

WikiMatrix

Cho phép người mua sắm trực tuyến biết cần phải trả bao nhiêu tiền thuế khi mua sản phẩm của bạn.

Let people shopping online know how much they’ll need to pay in tax to buy from you.

support.google

Google Merchant Center giúp hàng triệu người mua sắm trực tuyến khám phá, phát hiện và mua sản phẩm của bạn.

Google Merchant Center lets millions of online shoppers discover, explore and buy your products.

support.google

T-ara cũng là nhóm nhạc thần tượng đầu tiên ký hợp đồng với trung tâm mua sắm trực tuyến Hi-Mart.

T-ara is also the first idol group to sign a contract with online shopping mall Hi-Mart.

WikiMatrix

Các mốc thời gian về sự phát triển của thương mại điện tử như sau: 1979: Michael Aldrich phát minh mua sắm trực tuyến.

English entrepreneur Michael Aldrich invented online shopping in 1979.

WikiMatrix

support.google

People shopping online expect to purchase your product for the same amount that they see in your ad.

support.google

London: Routledge. ^ a ă Lưu, Nương; Vương, Rồng; Trương, Ping; và Zuo, Meiyun, “Một loại hình của người tiêu dùng mua sắm trực tuyến” (2012).

Liu, Fang; Wang, Rong; Zhang, Ping; and Zuo, Meiyun, “A Typology of Online Window Shopping Consumers” (2012).

WikiMatrix

support.google

Các trang web thương mại điện tử thường cung cấp một danh sách mua sắm trực tuyến cho người mua hàng lặp lại tại trang web.

Electronic commerce websites typically provide a shopping list online for repeat shoppers at the site.

WikiMatrix

Homeplus vận hành các siêu thị lớn, chuỗi siêu thị ‘Homeplus Express’, cửa hàng tiện ích ‘365 Plus’ và dịch vụ mua sắm trực tuyến giao hàng tận nhà.

Homeplus operates its hypermarkets, super market chain ‘Homeplus Express’, convenience store ‘365 Plus’ and online shopping service.

WikiMatrix

Dịch vu mua sắm trực tuyến bắt đầu từ WH Smith, Tesco, Virgin/Our Price, Great Universal Stores/GUS, Interflora, Dixons Retail, Past Times, PC World (retailer) và Innovations.

These included WH Smith, Tesco, Virgin/Our Price, Great Universal Stores/GUS, Interflora, Dixons Retail, Past Times, PC World (retailer) and Innovations.

WikiMatrix

Khi mua sắm trực tuyến, mọi người dựa nhiều vào hình ảnh để đánh giá sản phẩm mà bạn đang bán và quyết định sản phẩm họ muốn mua.

When people shop online, they rely heavily on images to evaluate what you’re selling and decide what they want to buy.

support.google

Đối với người mua, mua sắm trực tuyến cũng thể hiện khả năng tiết kiệm thời gian, vì họ có thể đặt hàng và giao hàng chỉ trong vài ngày.

For the buyers, online shopping represents the possibility to save time as well, since they can order the item and get it delivered in just a few days.

WikiMatrix

Mua sắm trực tuyến là một dạng thương mại điện tử cho phép khách hàng trực tiếp mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ người bán qua Internet sử dụng trình duyệt web.

Online shopping is a form of electronic commerce which allows consumers to directly buy goods or services from a seller over the Internet using a web browser.

WikiMatrix

Lí Thuyết Về Hành Vi Của Người Tiêu Dùng / 2023

Published on

1. Giảng viên : Phí Mạnh Cường Nhóm trình bày : 3

2. Nội dung 1 *Những vấn đề chung 2 *Lí thuyết về lợi ích 3 * Lựa chọn sản phẩm & tiêu dùng tối ưu

3. Mục tiêu  Hiểu được mô hình lí thuyết mô tả hành vi của người tiêu dùng thông qua việc phân tích mục tiêu và khả năng của họ  Đưa ra các giả định để nghiên cứu lợi ích , tổng lợi ích và lợi ích cận biên  Giải quyết vấn đề tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng

4. 1.2 .Mục tiêu NTD1.3 . Tiêu Dùng Hộ Gia Đình 1.1 1.4 Lý thuyết TD

5. 1.1 Tiêu Dùng  Hành vi rất quan trọng của con người  Thỏa mãn nguyện vọng ,trí tưởng tượng, nhu cầu về tình cảm và vật chất của cá nhân hay hộ gia đình  Phụ thuộc vào nhu cầu và sở thích

6. 1.2 Hộ Gia Đình  Là một đơn vị ra quyết định trong nền kinh tế  Trong thị trường hàng hóa Hộ Gia Đình là người tiêu dùng  Quyết định mua : phụ thuộc vào giá và khả năng chi trả

7. 1.3 Mục Tiêu Của Người Tiêu Dùng  Tất cả các hàng hóa đem lại lợi ích khi tiêu dùng  Tối đa hóa lợi ích  Với mỗi hàng hóa khi tiêu dùng nếu còn làm cho ích lợi tăng thêm thì người tiêu dùng còn tăng tiêu dùng và ích lợi tiêu dùng sẽ hướng đến giá trị lớn nhất  Giả định lợi ích có thể lượng hóa được : Đơn vị đo được biểu thị bằng 1 đơn vị tưởng tượng là Utils

8. 1.5 Lý Thuyết Tiêu Dùng  Người tiêu dùng kết hợp hàng hóa và dịch vụ được ưa thích nhất và có thể mua được  Phân tích quá trình ra quyết định của người tiêu dùng với nguồn lực người tiêu dùng có  Xây dựng mô hình về hành vi của người tiêu dùng : dự đoán phản ứng của người tiêu dùng trước những thay đổi về cơ hội và giới hạn ngân sách

9. 2.1 Các giả định 2.2 Một số khái niệm về lợi ích 2.3 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần 2.4 Lợi ích cận biên và đường cầu 2.5 Thặng dư tiêu dùng

10. 2.1 Các giả định * Tính hợp lý : Người tiêu dùng có mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình với điều kiện thu nhập và giá cả * Lợi ích hàng hóa có thể đo được giống như là có thể đo được lợi ích bằng số lượng , trọng lượng , kích thước vật lý,.. * Tổng lợi ích (TU) : phụ thuộc vào số lượng hàng hóa sử dụng

11. 2.2 Một số khái niệm về lợi ích Khi tiêu dùng một hàng hóa nào đó, người tiêu dùng có thể rơi vào các trạng thái khác nhau: hài lòng hoặc không hài lòng. Hàng hóa nào mang lại sự hài lòng có nghĩa là mang lại lợi ích và ngược lại. Lợi ích (U-Utility): là sự thỏa mãn và hài lòng do tiêu dùng hàng hóa mang lại Tổng lợi ích : (TU-Total Utility): là toàn bộ lượng lợi ích từ việc tiêu dùng một lượng nhất định hàng hóa Công thức tính : * Đối với một loại hàng hóa và dịch vụ : TUi = 𝑖=1 𝑛 𝑈𝑖 * Đối với nhiều loại hàng hóa dịch vụ : TU = TUX + TUY +TUZ …= 𝑖=1 𝑛 𝑇𝑈𝑖

12. VD: Đối với một người tiêu dùng A : 1kg cá 10 đơn vị lợi ích 1kg thịt 20 đơn vị lợi ích Như vậy, tổng lợi ích: 10 + 20 = 30 đơn vị lợi ích Lợi ích cận biên (MU): là mức thay đổi của tổng lợi ích khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Công thức xác định lợi ích cận biên : MU = 𝚫𝐓𝐔 𝚫𝐐 = 𝑆ự 𝑡ℎ𝑎𝑦 đổ𝑖 𝑣ề 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑙ợ𝑖 í𝑐ℎ 𝑆ự 𝑡ℎ𝑎𝑦 đổ𝑖 𝑣ề 𝑙ượ𝑛𝑔 ℎà𝑛𝑔 𝑡𝑖ê𝑢 𝑑ù𝑛𝑔 Trường hợp tiêu dùng 2 loại hàng hóa ,tổng lợi ích được cho dưới dạng hàm số : TUx,y = f(X,Y) thì lợi ích cận biên (MU) là đạo hàm bậc nhất của hàm tổng lợi ích (TU). Công thức tính : MU = 𝒅𝑻𝑼 𝒅𝑿 = TU’x MU = 𝒅𝑻𝑼 𝒅𝒀 = TY’y

13. VD: Giả sử lợi ích của một người tiêu dùng A do mua 2 hàng hóa X và Y, được xác định bởi hàm sau : TU = X2 + 2Y .Hãy tính lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hóa X và Y? Theo bài ra : Lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hóa X là : MUx = TU’x = 2X Lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hóa Y là : MUy = TU’y = 2

14. 2.3 Quy Luật Lợi Ích Cận Biên Giảm Dần * Nội dung quy luật : Nếu cứ tiếp tục tăng dần lượng tiêu dùng một loại hàng hóa nào đó trong một khoảng thời gian nhất định ,thì tổng lợi ích sẽ tăng nhưng với tốc độ chậm dần còn ích lợi cận biên luôn có xu hướng giảm đi. → Lợi ích cận biên có thể có giá trị âm  Ý nghĩa của quy luật : không nên tiêu dùng quá nhiều một loại hàng hóa nào đó trong ngắn hạn.

15. VD : Giả sử lợi ích của con người có thể đo được ,ta có bảng minh họa lợi ích của việc uống bia Hanoi của anh A trong một khoảng thời gian nhất định như sau : Q (cốc) 1 2 3 4 5 6 7 TU 10 16 19 21 22 22 19 MU 10 6 3 2 1 0 –1

16. Quan hệ giữa tổng lợi ích và lợi ích cận biên TU 0 1 2 3 4 5 22 10 16 19 21 0 1 2 3 4 5 1 2 3 6 10 MU 6 6Tổng lợi ích Lợi ích cận biên

18. 2.4 Lợi Ích Cận Biên Và Đường Cầu  Lý thuyết về lợi ích với quy luật ích lợi cận biên giảm dần cho thấy lý do vì sao đường cầu dốc xuống. Như vây, chúng ta thấy có mối quan hệ giữa MU và giá cả hàng hóa.  Khi MU càng lớn thì số lượng tiêu dùng càng ít, người tiêu dùng trả giá càng cao và ngược lại, khi MU càng nhỏ thì số lượng càng nhiều, người tiêu dùng trả giá càng thấp.  Khi MU = 0, người tiêu dùng không mua thêm một đơn vị hàng hóa nào nữa, đường cầu (D) phản ánh quy luật MU giảm dần: MU ≡ D

20. 2.5 Thặng Dư Tiêu Dùng (CS)  Khái niêm : Thặng dư tiêu dùng (CS) là phần chênh lệch giữa lợi ích cận biên (MU) nhận được từ việc tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa dịch vụ với giá thực tế mà người tiêu dùng phải trả khi mua đơn vị hàng hóa, dịch vụ đó. CS/đvsp = MU – P  CS/toàn bộ sp : phản ánh sự chênh lệch giữa tổng lợi ích (TU) thu được với tổng chi tiêu để đạt tổng lợi ích đó (TC). CS/toàn bộ sp = TU – TC = diện tích tam giác ABE

21. VD : Giá của cốc trà đá là 3000VNĐ thì người tiêu dùng A sẽ tiêu dùng như sau : Q (cốc) 1 2 3 4 5 6 MU 10 6 4 1 0 -0,5

22. Thặng dư tiêu dùng của toàn bộ thị trường

23. 3.1 Lựa chọn sản phẩm và tiêu dùng tối ưu theo lý thuyết lợi ích 3.2 Lựa chọn sản phẩm và tiêu dùng tối ưu trên cơ sở đường ngân sách và đường bàng quan

24. 3.1 Lựa Chọn Sản Phẩm Và Tiêu Dùng Tối Ưu Theo Lý Thuyết Lợi Ích  Mục đích lựa chọn hàng hóa của người tiêu dùng là tối đa hóa lợi ích  Sự lựa chọn bị ràng buộc bởi các yếu tố : – sở thích ( yếu tố chủ quan ) – ngân sách và giá hàng hóa ( yếu tố khách quan ) Nguyên tắc lựa chọn hàng hóa tiêu dùng tối ưu : mua thứ hàng hóa có lợi ích cận biên lớn nhất (MUmax ) tính trên một đồng giá cả (P) : MU = ( MUi /Pi) max trong đó : – MUi là lợi ích cận biên của hàng hóa i – Pi là giá của hàng hóa i

25. Nguyên tắc chung nhất của sự lựa chọn hàng hóa tiêu dùng tối ưu là dừng lại ở đơn vị hàng hóa cuối cùng khi mà tỷ số lợi ích cận biên của hàng hóa bằng tỉ số giá của nó : MU1/ MU2 = P1 / P2 với MU ≥ 0 Điều kiện để tối đa hóa tổng lợi ích : 𝐌𝐔𝐱 𝐏𝐱 = 𝐌𝐔𝐲 𝐏𝐲 = 𝐌𝐔𝐳 𝐘𝐳 =…MUtrên một đồng thu nhập với x,y,z là các hàng hóa khác nhau Lợi ích cận biên trên một đồng giá cả chung cho tất cả mọi hàng hóa trong trạng thái cân bằng của người tiêu dùng được gọi là : “lợi ích cận biên của một đồng thu nhập”.

26. 3.2 Lựa Chọn Sản Phẩm Và Tiêu Dùng Tối Ưu Dựa Trên Đường Ngân Sách Và Đường Bàng Quan 3.2.1 Đường Ngân Sách  3.2.2 Đường Bàng Quan 3.3.3 Lựa Chọn Sản Phẩm Và Tiêu Dùng Tối Ưu Dựa Trên Đường Ngân Sách Và Đường Bàng Quan

27. 3.2.1 Đường Ngân Sách * Khái niệm : Đường ngân sách là tập hợp tất cả các kết hợp khác nhau của các hàng hóa ,dịch vụ mà người tiêu dùng có thể mua được với cùng một ngân sách . * Phương trình đường ngân sách : I = chúng tôi + chúng tôi hoặc có thể viết : Y = I/Py – ( Px – Py ).X trong đó : X,Y là hai hàng hóa Px và Py là giá của hàng hóa X,Y I là thu nhập của người tiêu dùng – ( Px/Py) là độ dốc của đường ngân sách

29. y x0 1 2 3 4 5 1 3 5 7 9 11 Đồ thị biểu diễn đường ngân sách  Độ dốc của đường ngân sách : + là số âm tỉ giá hai loại hàng hóa = – (Px/Py) + phản ánh giá tương đối của hai loại hàng hóa

30. Dịch Chuyển Đường Ngân Sách Đường ngân sách có thể dịch chuyển dưới tác động của thay đổi thu nhập và giá cả Tác động của thu nhập đối với đường ngân sách : Khi thu nhập thay đổi trong điều kiện giá không đổi, đường ngân sách sẽ dịch chuyển song song với đường ngân sách ban đầu.Thu nhập tăng (giảm) đường ngân sách dịch chuyển ra phía ngoài (vào trong).Độ dốc của đường ngân sách không đổi. 0 4 8 12 16 X 2 4 6 8 Y I= $30I= $ 20 I= $50 B1 B0B2

31.  Tác động của giá đối với đường ngân sách : Khi giá của hàng hóa thay đổi trong điều kiện thu nhập không đổi. Nếu giá của một Loại hàng hóa tăng ( giảm ) thì đường ngân sách sẽ dịch chuyển vào trong (ra ngoài) và xoay quanh điểm chặn của hàng hóa kia.Độ dốc của đường ngân sách thay đổi. 0 4 8 12 16 X 4 Y Px=5$ Px=2$Px=8$ B0 B1 B2

34. Tính chất của đường bàng quan : – Tính chất 1: Các đường bàng quan cao hơn được ưa thích hơn – Tính chất 2: Các đường bàng quan dốc xuống về phía phải và có độ dốc âm

35. – Tính chất 3 : Các đường bàng quan không cắt nhau -Tính chất 4: Các đường bàng quan là đường cong lồi về phía gốc tọa độ

36. Tỷ Lệ Thay Thế Cận Biên * Khái niệm : Là tỷ lệ cho biết cần phải đánh đổi bao nhiêu đơn vị hàng hóa này để có thêm một đơn vị hàng hóa kia mà không làm thay đổi mức lợi ích đạt được. * Tỉ lệ thay thế cận biên của hàng hóa X cho hàng hóa Y(MRS)là số đơn vị hàng hóa Y cần phải từ bỏ khi tăng thêm 1 đơn vị hàng hóa X,được xác định theo công thức : MRSXY = – Δ𝑌 Δ𝑋 MRS chính là độ dốc của đường bàng quan ứng với từng phương án tiêu dùng.

38. Hai trường hợp đặc biệt của đường bàng quan : Khi MRS là hằng số thì đường bàng quan là đường thẳng có độ dốc âm và sản phẩm mà người tiêu dùng lựa chọn thay thế hoàn toàn cho nhau.Đây là những hàng hóa thay thế hoàn hảo. – Khi MRS không tồn tại thì đường bàng quan có hình chữ L thể hiện mỗi một mức lợi ích chỉ có một phương án kết hợp tối ưu duy nhất, không có phương án khác thay thế Đây là những hàng hóa bổ sung hoàn hảo

39. 3.2.3 Lựa Chọn Sản Phẩm Tiêu Dùng Tối Ưu Tiêp Cận Đường Ngân Sách Và Đường Bàng Quan * Điểm tiêu dùng tối ưu : – Điểm tiêu dùng phải nằm trên đường ngân sách – Điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu phải nằm trên đường bàng quan cao nhất → Điểm lựa chọn tiêu dùng tối ưu được xác định khi đường ngân sách tiếp tuyến với đường bàng quan  Tại điểm tiêu dùng tối ưu độ dốc của đường ngân sách bằng độ dốc của đường bàng quan Hay tỉ lệ thay thế cận biên bằng giá tương đối của hai hàng hóa

40. Lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng đối với hai hàng hóa phải thỏa Mãn pt sau: 𝑀𝑈𝑥 𝑃𝑥 = 𝑀𝑈𝑦 𝑃𝑦 Quy tắc này nói lên người tiêu dùng hợp lý sẽ mua mỗi loại hàng hóa cho đến khi tỷ lệ giữa lợi ích tăng thêm thu được so với giá phải trả là bằng nhau cho mỗi loại hàng hóa.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thương Mại Trực Tuyến Và Hành Vi Mua Sắm Của Người Tiêu Dùng / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!