Đề Xuất 6/2023 # Thuốc Điều Trị Tiểu Đường Insulin Glargine # Top 12 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 6/2023 # Thuốc Điều Trị Tiểu Đường Insulin Glargine # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thuốc Điều Trị Tiểu Đường Insulin Glargine mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hoạt chất : Insulin Glargine Hormon làm hạ glucose máu, hormon chống đái tháo đường, các insulin.

Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10AE04

Lantus 100UI/ml, Lantus Solostar 100IU/ml,

: Insulin Glargine, Glaritus , Insunova-G, Insunova-G Pen, Toujeo Solostar

2. Dạng bào chế – Hàm lượng: Dạng thuốc và hàm lượng

Đơn vị: Hiệu lực của insulin được chuấn hóa theo khả năng làm giảm nồng độ glucose huyết của thỏ khỏe mạnh lúc đói như khi so sánh với chuấn insulin đối chiếu USP. Hiệu lực được biểu hiện bằng đơn vị USP/ml.

Thuốc tác dụng chậm, kéo dài: Bắt đầu tác dụng 1 – 2 giờ và kéo dài đến 24 giờ.

Insulin glargin: Insulin glargin là một thuốc sinh tổng hợp tương tự insulin người có tác dụng kéo dài, được điều chế bằng công nghệ tái tổ hợp DNA trên E. coli biến đổi gen và có cấu trúc khác với insulin người ở chỗ asparagin thay thế cho glycin ở vị trí 21 của chuỗi A và thêm 2 nhóm arginin vào điểm cuối C của chuỗi B. Dung dịch chỉ để tiêm dưới da: 100 đv/ml; Lọ 10 ml và ống 3 ml. 1 ml dung dịch chứa 100 đv tương đương 3,64 mg hoạt chất.

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng: 4.1. Chỉ định:

Insulin Glargine được dùng để làm giảm lượng đường cao trong máu ở người lớn, thiếu niên và trẻ em từ 6 tuổi trở lên bị bệnh đái tháo đường khi cần điều trị bằng insulin. Đái tháo đường là bệnh mà cơ thể không sản xuất đủ insulin để kiểm soát nồng độ đường trong máu.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Insulin Glargine được tiêm dưới da. Trong một vùng tiêm nhất định, mỗi lần tiêm nên chọn một vị trí tiêm khác nhau.

Vì thời gian tác động kéo dài lệ thuộc việc tiêm dưới da, Insulin Glargine không được dùng để tiêm tĩnh mạch vì có thể gây hạ đường huyết nặng.

Quan sát kỹ lọ thuốc trước khi dùng. Chỉ sử dụng nếu dung dịch trong suốt, không màu, không thấy có những hạt tiểu phân rắn và có độ lỏng giống như nước. Vì là một dung dịch, Insulin Glargine không cần phải pha trước khi dùng. Bơm tiêm không được chứa thuốc gì khác hoặc cặn thuốc khác.

Trộn hoặc pha chung với bất cứ chế phẩm nào đều có thể làm thay đổi hiệu quả của Insulin Glargine hoặc làm thuốc kết tủa và vì vậy nên tránh.

Nên ghi ngày rút thuốc lần đầu lên nhãn lọ.

Liều dùng:

Vì thuốc có tác động kéo dài, có thể tiêm Insulin Glargine mỗi ngày một lần vào bất cứ lúc nào, nhưng hàng ngày nên tiêm vào một giờ nhất định. Bác sĩ sẽ điều chỉnh liều dùng tùy từng người, và cũng sẽ hướng dẫn nên tiêm Insulin Glargine ở đâu, khi nào cần đo đường huyết và có cần xét nghiệm nước tiểu hay không. Bác sĩ có thể kê toa cho dùng Insulin Glargine cùng với một insulin khác tác động ngắn hoặc thuốc uống chống đái tháo đường.

Liều khởi đầu: Khoảng một phần ba đến một nửa – tổng nhu cầu insulin hàng ngày được dùng mỗi ngày một lần. Một insulin tác dụng nhanh hoặc tác dụng ngắn cũng nên được sử dụng để cân bằng (~ 1/2 đến 2/3) tổng nhu cầu insulin hàng ngày. Điều chỉnh liều theo đáp ứng của bệnh nhân. Để giảm thiểu nguy cơ hạ đường huyết, tránh dùng liều thường xuyên hơn 3 đến 4 ngày một lần.

Khi đang điều trị bằng insulin có tác động trung bình hoặc ngắn đổi sang dùng phác đồ điều trị Insulin Glargine có thể cần phải thay đổi liều insulin cơ bản và điều chỉnh điều trị chống đái tháo đường dùng kèm (liều lượng và thời điểm dùng thêm insulin tác dụng ngắn hoặc các thuốc tương đồng tác động nhanh hoặc liều lượng thuốc viên chống đái tháo đường).

Khi điều trị NPH insulin ngày 2 lần chuyển sang dùng Insulin Glargine mỗi ngày tiêm một lần, liều ban đầu phải giảm từ 20-30% (so với tổng số IU của NPH insulin mỗi ngày), rồi sau đó chỉnh liều dựa trên đáp ứng của từng bệnh nhân.

Việc giảm liều này ít ra phải được bù đắp phần nào bằng cách tăng insulin vào giờ ăn. Sau đó, phải chỉnh liều một lần nữa tùy từng người.

Ở những bệnh nhân, do tạo ra kháng thể trong quá trình điều trị insulin liều cao có thể cho đáp ứng cải thiện với các insulin tương tự insulin người, kể cả Insulin Glargine. Kiểm soát về mặt chuyển hoá, đặc biệt ở những bệnh nhân này, cần được theo dõi trong suốt quá trình chuyển đổi và trong vài tuần đầu sau khi chuyển đổi.

Với sự cải thiện kiểm soát chuyển hóa và hệ quả là tăng độ nhạy cảm với insulin (giảm nhu cầu insulin), có thể cần phải chỉnh liều thêm đối với Insulin Glargine và các insulin khác hoặc thuốc uống chống đái tháo đường khác trong phác đồ, có thể cần phải chỉnh liều thêm nữa. Việc chỉnh liều cũng cần thiết trong những trường hợp như thay đổi cân nặng hoặc lối sống, thay đổi giờ tiêm insulin hoặc các trường hợp làm tăng tính cảm nhiễm với hạ đường huyết hoặc tăng đường huyết hay bệnh đi kèm (xem Cảnh báo). Chỉ được thay đổi liều lượng insulin với sự giám sát của thầy thuốc.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với hoạt chất insulin hoặc với một thành phần của thuốc. Hạ glucose huyết.

Trong trường hợp không kiểm soát đường huyết một cách thỏa đáng hoặc có xu hướng xảy ra cơn hạ hoặc tăng đường huyết, cần loại trừ các yếu tố tiềm ẩn (như sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân, việc chọn chỗ tiêm và tiêm đúng kỹ thuật, thao tác với bút tiêm) trước khi xét đến việc chỉnh liều.

Vì kinh nghiệm còn hạn chế, không thể đánh giá tính hiệu quả và độ an toàn của Insulin Glargine Optiset trên trẻ em dưới 6 tuổi, trên bệnh nhân suy chức năng gan hoặc suy thận từ vừa đến nặng.

Trên bệnh nhân suy thận, nhu cầu insulin có thể giảm. Trên người cao tuổi, sự suy giảm chức năng thận có thể dẫn đến giảm nhu cầu insulin.

Trên bệnh nhân suy gan nặng, nhu cầu insulin có thể giảm do giảm khả năng tân sinh đường và giảm chuyển hóa insulin.

Hạ đường huyết dễ có khả năng xảy ra khi bắt đầu điều trị insulin, sau khi đổi sang dùng một chế phẩm insulin khác, khi kiểm soát chuyển hóa không ổn định, hoặc khi có bệnh nặng ở thận hoặc ở gan.

Các triệu chứng chứng tỏ khởi phát hạ đường huyết có thể là:

Vã mồ hôi, da lạnh và ẩm ướt, lo sợ, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, đánh trống ngực và nhịp tim không đều, đau thắt ngực. Trên nhiều bệnh nhân, những dấu hiệu và triệu chứng này thường xảy ra trước khi có dấu hiệu hạ đường huyết ở não. Loại triệu chứng thứ hai này bao gồm nhức đầu, cảm giác đói cồn cào, buồn nôn, ói mửa, mệt lả, lơ mơ, rối loạn giấc ngủ, bức rứt, kích động, mất tập trung, giảm phản ứng, trầm uất, lú lẫn, rối loạn giọng nói (đôi khi không nói được), rối loạn thị giác, run, yếu liệt, cảm giác kim châm (dị cảm), tê và cảm giác kim châm ở vùng miệng, chóng mặt, mất kiểm soát bản thân, mất khả năng tự chăm sóc, co giật, và mất tri giác.

Các dấu hiệu ban đầu chứng tỏ khởi phát cơn hạ đường huyết có thể thay đổi, nhẹ hơn, hoặc hoàn toàn không có trong các trường hợp sau đây: kiểm soát đường huyết được cải thiện đáng kể, hạ đường huyết phát triển chậm, cao tuổi, một số bệnh thần kinh (bệnh lý thần kinh tự chủ), đái tháo đường lâu ngày hoặc đồng thời dùng chung thuốc khác (xem Tương tác thuốc).

Trong những trường hợp đó, hạ đường huyết nặng (và thậm chí mất tri giác) có thể xảy ra mà bệnh nhân không biết. Bệnh nhân luôn luôn cần quen thuộc với những triệu chứng báo động của riêng họ. Xét nghiệm đường huyết thường xuyên hơn có thể giúp phát hiện những cơn hạ đường huyết nhẹ, nếu không có thể bỏ sót. Bệnh nhân không đoán chắc nhận ra được các triệu chứng báo động nên tránh những tình huống có thể rây nguy hiểm cho bản thân và cho người khác (ví dụ lái xe).

Việc tuân thủ liều được kê toa và ăn kiêng, tiêm insullin đúng cách và ý thức được các triệu chứng hạ đường huyết là cần thiết để giảm nguy cơ hạ đường huyết.

Tất cả các yếu tố làm tăng những nguy cơ đó cần được đặc biệt theo dõi sát và có thể cần phải chỉnh liều. Đó là:

Thay đổi vùng tiêm thuốc (ví dụ từ đùi đổi sang cánh tay),

Sự nhạy cảm insulin được cải thiện, ví dụ do loại trừ các yếu tố gây stress,

Không quen hoặc tăng hoạt động thể lực,

Triệu chứng bệnh gian phát (ví dụ ói mửa, tiêu chảy),

Ăn uống không đầy đủ như: bỏ bữa hoặc ăn muộn, ăn ít hơn bình thường hoặc ăn ít chất đường bột hơn bình thường, thay đổi chế độ ăn,

Uống rượu,

Một số rối loạn nội tiết mất bù, ví dụ nhược năng tuyến giáp hoặc suy thùy trước tuyến yên hay suy vỏ thượng thận,

Đồng thời dùng chung các thuốc khác (xem Tương tác thuốc).

Có thể điều chỉnh cơn hạ đường huyết bằng cách dùng ngay chất đường, ví dụ dưới dạng glucose, đường viên, hoặc nước uống có đường. Cần lưu ý rằng thức ăn hoặc thức uống chứa đường hóa học (ví dụ các thức ăn và thức uống ngọt) không thích hợp cho việc này. Do đó, nên dùng những thức ăn có tác dụng tăng đường huyết kéo dài (ví dụ bánh mì). Nếu hạ đường huyết tái diễn, nên dùng thêm 10-20g đường. Nếu không khắc phục được cơn hạ đường huyết hoặc lại tái diễn, nên báo ngay cho bác sĩ.

Luôn luôn mang theo ít nhất là 20g đường, cùng với thẻ cảnh báo bạn là bệnh nhân đái tháo đường. Khi không nuốt được hoặc mất tri giác buộc phải tiêm dung dịch glucose hoặc glucagon (một thuốc làm tăng đường huyết), ngay cả khi không chắc chắn là hạ đường huyết.

Sau khi dùng glucose, nên khẳng định tình trạng hạ đường huyết bằng cách xét nghiệm đường huyết.

Tác động kéo dài của Insulin Glargine Optiset có thể làm cho hạ đường huyết chậm hồi phục.

Tăng đường huyết

Tăng đường huyết có thể xảy ra trong một số trường hợp. Đó là:

Bỏ sót hoặc giảm số lần tiêm, hoặc giảm hiệu lực insulin (ví dụ do bảo quản không đúng),

Bút tiêm hỏng hóc,

Giảm hoạt động thể lực, tình trạng stress (cảm xúc đau buồn, kích thích), chấn thương, phẫu thuật, bệnh gây sốt hoặc một số bệnh khác,

Đồng thời dùng chung thuốc khác (xem Tương tác thuốc).

Khát nước, mót tiểu, mệt lả, khô da, đỏ mặt, chán ăn, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh và nước tiểu có nồng độ cao chất đường và thể keton, là những dấu hiệu của tăng đường huyết. Đau dạ dày, thở nhanh và sâu, lơ mơ hoặc thậm chí mất tri giác là những dấu hiệu của rối loạn chuyển hóa nặng (nhiễm toan-keton) do thiếu insulin.

Cần làm xét nghiệm đường huyết và xét nghiệm tìm keton trong nước tiểu càng sớm càng tốt khi xảy ra những triệu chứng đó. Tăng đường huyết nặng hoặc nhiễm toan-keton luôn luôn phải cần bác sĩ điều trị, thường là trong bệnh viện.

Bệnh gian phát

Nếu bị ốm, nên báo ngay cho bác sĩ trường hợp này có thể cần tăng cường theo dõi chuyển hóa, và có thể cần đến những biện pháp đặc biệt (ví dụ chỉnh liều, xét nghiệm nước tiểu tìm keton).

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Do hậu quả của hạ đường huyết, tăng đường huyết hoặc rối loạn thị giác (xem Tác dụng ngoại ý), khả năng tập trung và phản ứng có thể bị ảnh hưởng, có thể trở thành nguy cơ trong các tình huống đặc biệt cần có những khả năng này (ví dụ lái xe hoặc vận hành máy).

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú: Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Phụ nữ có bệnh đái tháo đường từ trước hoặc trong khi mang thai phải duy trì kiểm soát tốt chuyển hóa trong thai kỳ. Trong ba tháng đầu, nhu cầu insulin thường giảm, nhưng thường tăng lên trong ba tháng giữa và ba tháng cuối. Ngay sau khi sinh, nhu cầu insulin lại giảm nhanh (tăng nguy cơ hạ đường huyết). Do đó, cần theo dõi kỹ đường huyết. Nếu có thai hoặc dự định có thai, nên báo cho bác sĩ biết.

Thời kỳ cho con bú

Insulin không qua sữa mẹ và dùng an toàn khi cho con bú. Nhu cầu về insulin của người mẹ có thể giảm xuống trong thời kỳ cho con bú. Trên phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ, cần thiết phải điều chỉnh liều dùng và chế độ ăn.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Hạ đường huyết (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng) có thể xảy ra nếu liều insulin vượt quá nhu cầu. Hạ đường huyết có thể dẫn đến mất tri giác, và nếu nặng có thể gây nhồi máu cơ tim hoặc tổn thương não và có thể nguy hiểm tính mạng.

Một sự thay đổi rõ rệt nồng độ đường huyết có thể gây rối loạn thị giác thoáng qua. Sư kiểm soát đường huyết được cải thiện lâu dài làm giảm nguy cơ tiến triển của bệnh võng mạc đái tháo đường. Tuy nhiên, điều trị insulin tích cực với sự cải thiện đường huyết đột ngột có thể tạm thời làm cho bệnh võng mạc đái tháo đường xấu hơn. Trên bệnh nhân có bệnh võng mạc tăng sinh, nhất là khi không được điều trị bằng quang đông, các cơn hạ đường huyết nặng có thể làm mất thị lực thoáng qua.

Mô mỡ dưới da có thể teo hoặc phì đại (teo mỡ hoặc phì đại mỡ) ở chỗ tiêm và làm chậm hấp thu insulin và tác dụng thuốc sẽ chậm hơn. Chọn một chỗ tiêm khác cho mỗi lần tiêm có thể giảm hoặc ngừa được những phản ứng này. Các phản ứng khác có thể xảy ra ở chỗ tiêm và cũng có thể lan ra vùng chung quanh. Những phản ứng này gồm đỏ, đau nhiều hơn thường lệ khi tiêm thuốc, ngứa, mề đay, sưng hoặc viêm. Những phản ứng đó thường biến mất trong vòng vài ngày đến vài tuần.

Trong một số hiếm trường hợp, có thể xảy ra phản ứng dị ứng nặng với insulin và các tá dược của thuốc. Đó là phản ứng lan rộng ngoài da, sưng nề da hoặc viêm mạc (phù Quincke), khó thở (co thắt phế quản), tụt huyết áp, và trụy tuần hoàn (sốc). Trong một số trường hợp, các phản ứng dị ứng nặng có thể đe dọa sinh mạng.

Các phản ứng khác

Tiêm insulin có thể hình thành các kháng thể chống insulin. Trong các nghiên cứu lâm sàng, những kháng thể phản ứng chéo với insulin người và insulin glargine được nhận thấy có cùng tần suất ở nhóm dùng NPH insulin và nhóm dùng insulin glargine.Trong một số hiếm trường hợp, sự hiện diện của những kháng thể insulin này buộc phải chỉnh liều.

Hạn hữu, insulin có thể gây giữ muối và nước trong các mô (phù), đặc biệt là sau khi sự kiểm soát chuyển hóa được cải thiện có ý nghĩa bằng liệu pháp tăng cường.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc. 4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Các phản ứng dị ứng tại chỗ có thể xảy với bất cứ loại insulin nào và có thể xảy ra trong vòng 1- 3 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Các phản ứng tại chỗ thường tương đối nhẹ và thường hết trong vài ngày hoặc tuần. Kỹ thuật tiêm kém cũng góp phần vào phản ứng tại chỗ. Biểu hiện mẫn cảm tức thì thường xảy ra trong vòng 30 – 120 phút sau khi tiêm, có thể kéo dài trong vài giờ hoặc ngày và thường tự hết. Dị ứng insulin thực sự hiếm có, biểu hiện bằng nổi mày đay toàn thân, nốt phỏng, khó thở, thở khò khè (wheezing), hạ huyết áp, tim đập nhanh, vã mồ hôi, phù mạch và phản vệ. Các phản ứng này chủ yếu xảy ra khi dùng insulin ngắt quãng hoặc ở người có kháng thể kháng insulin tăng trong máu. Nhiều trường hợp nặng đòi hỏi phải sẵn sàng cấp cứu. Người bệnh nào đã có phản ứng dị ứng nặng phải được làm test da trước khi dùng bất cứ thuốc insulin mới nào. Có thể giải mẫn cảm cho người bệnh có tiềm năng dị ứng. Vì thường hay bị dị ứng với insulin bò hoặc lợn, hoặc protamin, hoặc protein, có thể ngăn chặn các phản ứng dị ứng về sau bằng cách thay thế một insulin chứa ít protein (như các insulin tinh chế bao gồm insulin người) hoặc không chứa protamin.

Nếu có hiệu ứng Somogyi, giảm liều buổi chiều insulin tác dụng trung gian hoặc tăng bữa phụ tối. Nếu có hiện tượng bình minh, tăng liều buổi tối insulin tác dụng trung gian và/hoặc tiêm muộn (như tiêm vào lúc đi ngủ, không tiêm vào bữa chiều).

ADR phổ biến nhất của insulin là hạ glucose huyết và có thể cả hạ kali huyết. Đặc biệt chú ý đến người có nguy cơ cao như đói, có đáp ứng kém chống lại hạ glucose huyết (như người bệnh có bệnh thần kinh thực vật, suy tuyến yên hoặc thượng thận, người dùng thuốc chẹn beta) hoặc người dùng thuốc giảm kali. Nồng độ glucose và kali huyết phải được theo dõi sát khi insulin được truyền tĩnh mạch. Thay đổi nhanh nồng độ glucose huyết có thể thúc đấy biểu hiện hạ glucose huyết bất luận nồng độ glucose huyết là bao nhiêu. Có thể giảm nguy cơ tiềm ấn hạ glucose huyết muộn sau ăn do insulin tác dụng nhanh bằng thay đổi giờ ăn, số lần ăn, lượng ăn, thay đổi tập luyện, giám sát thường xuyên glucose huyết, điều chỉnh liều insulin và/hoặc chuyển sang insulin tác dụng nhanh hơn (như insulin lispro, insulin glulisin). Hạ glucose huyết nặng và thường xuyên xảy ra là một chỉ định tuyệt đối thay đổi phác đồ điều trị. Người đái tháo đường trước khi lái xe, phải kiểm tra glucose huyết và phải có biện pháp tránh hạ glucose huyết (nguồn cung cấp glucose) trên xe.

Xử lý hạ glucose huyết: Đối với hạ glucose nhẹ, tốt nhất là cho qua miệng 10 – 20 g glucose, hoặc bất cứ thức ăn dạng carbohydrat chứa glucose như nước cam hoặc nước quả, đường, đường phèn… Liều lượng có thể lặp lại 15 phút sau nếu glucose huyết vẫn dưới 70 mg/dl (tự đo) hoặc vẫn còn triệu chứng của hạ glucose huyết. Một khi glucose huyết trở lại bình thường, nên ăn một bữa nếu gần đến giờ ăn hoặc ăn một bữa phụ.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Một số thuốc ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và cần phải chỉnh liều và theo dõi thật sát.

Tăng tác dụng hạ đường huyết và tăng cảm nhiễm với hạ đường huyết có thể xảy ra khi dùng chung với thuốc viên chống đái tháo đường, thuốc ức chế men chuyển, disopyramide, fibrate, fluoxetine, thuốc ức chế MAO, pentoxifylline, propoxyphene, salicylate, hoặc kháng sinh sulfonamide.

Giảm tác dụng hạ đường huyết có thể xảy ra khi dùng chung với corticosteroid, danazol, diazoxide, lợi tiểu, glucagon, isoniazid, estrogen và progestogen (ví dụ thuốc viên tránh thai), dẫn chất phenothiazine, somatropin, thuốc cường giao cảm [như epinephrine (adrenaline), salbutamol, terbutaline], hoặc hormone tuyến giáp.

Thuốc chẹn bêta, clonidine, muối lithium hoặc rượu có thể tăng cường hoặc làm yếu tác dụng giảm đường huyết của insulin. Pentamidine có thể gây hạ đường huyết, đôi khi tiếp theo là tăng đường huyết. Hơn nữa, thuốc chẹn bêta – cũng như các thuốc liệt giao cảm khác (như clonidine, guanehtidine, reserpine) – còn làm yếu hoặc thậm chí ức chế toàn bộ các triệu chứng báo động của phản ứng hạ đường huyết.

4.9 Quá liều và xử trí:

Hậu quả chính của quá liều là hạ glucose huyết với các triệu chứng nhược cơ, cảm giác đói, vã mồ hôi toàn thân, nhức đầu, run, rối loạn thị giác, dễ bị kích thích, lú lẫn và rồi hôn mê do hạ đường huyết. Các yếu tố thuận lợi làm xuất hiện hạ đường huyết là rượu, đói, hoạt động thể lực quá mức so với thường ngày, nhầm liều, do tiêm bắp, đổi dùng từ dạng insulin hòa tan thông thường sang loại insulin đơn loại tinh khiết cao hay do tương tác thuốc.

Xử trí: Hạ glucose huyết nhẹ (vã mồ hôi, nhợt nhạt, đánh trống ngực, run, nhức đầu, thay đổi hành vi) có thể cho ăn thức ăn chứa carbohydrat (bánh ngọt, viên đường, kẹo) hoặc uống (nước ép quả, cam). Hạ glucose huyết nặng (hôn mê, co giật) đòi hỏi phải điều trị bằng glucagon hoặc dung dịch glucose tĩnh mạch. Hạ glucose huyết nặng do insulin ít xảy ra nhưng là một cấp cứu nội khoa đòi hỏi phải điều trị ngay. Người lớn hạ glucose huyết nặng (như li bì, đau đầu, lú lẫn, vã mồ hôi, vật vã, co giật) hoặc hôn mê do quá liều insulin và có đủ dự trữ glycogen ở gan, phải cho tiêm dưới da, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 đv (1 mg) glucagon; người bệnh phải có sẵn một lọ glucagon trong gia đình để tiêm trong trường hợp cấp cứu. Nếu người bệnh không đáp ứng hoặc không có glucagon, phải cho khoảng 10 – 25 g glucose dưới dạng dung dịch glucose tiêm tĩnh mạch 50%, 20 – 50 ml. Trong trường hợp nặng (cố ý quá liều), có thể cần glucose tĩnh mạch liều cao hơn hoặc lặp lại nhiều lần. Tiếp tục truyền glucose tĩnh mạch liên tục 5 – 10 g/giờ để duy trì nồng độ glucose huyết thỏa đáng cho tới khi người bệnh tỉnh và ăn được. Phải giám sát chặt người bệnh vì hạ glucose huyết có thể trở lại. Để phòng phản ứng hạ glucose huyết, phải cho ăn ngay carbohydrat khi người bệnh tỉnh.

Ớ trẻ em và thiếu niên bị hạ glucose huyết nặng, glucagon với liều 30 microgam/kg tiêm dưới da, tối đa 1 mg (1 đơn vị) làm tăng nồng độ glucose huyết trong 5 – 10 phút nhưng có thể gây nôn hoặc buồn nôn. Cho glucagon liều thấp hơn (10 microgam/kg) ít gây buồn nôn nhưng tăng glucose huyết ít hơn.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc : 5.1. Dược lực học:

Insulin glargin là chất tương đồng insulin người được thiết kế để có độ hòa tan thấp ở pH trung tính. Thuốc tan hoàn toàn ở pH acid của dung dịch tiêm Insulin Glargine (pH 4). Sau khi tiêm vào mô dưới da, dung dịch có tính acid này được trung hòa dẫn đến sự hình thành các vi tủa để từ đó phóng thích liên tục những lượng nhỏ insulin glargin, đem lại một nồng độ thuốc theo thời gian ít dao động, không có đỉnh, có thể tiên đoán được, với thời gian tác động kéo dài.

Sự kết gắn thụ thể insulin: Insulin glargin khá giống với insulin người về mặt động học kết gắn thụ thể Insulin. Do đó, nó có thể được xem là làm trung gian cho cùng một kiểu tác dụng như insulin qua thụ thể insulin.

Hoạt tính chính của insulin, kể cả insulin glargin, là điều hòa sự chuyển hóa glucose. Insulin và các chất tương đồng của nó hạ thấp nồng độ glucose trong máu bằng cách kích thích sự thu nạp glucose ngoại biên, đặc biệt là ở cơ vân và mỡ, và bằng cách ức chế sự sản xuất glucose ở gan. Insulin ức chế sự phân giải mỡ trong tế bào mỡ, ức chế sự phân giải protein và tăng cường tổng hợp protein.

Trong các nghiên cứu dược lý học lâm sàng, insulin glargin và insulin người tiêm tĩnh mạch được chứng minh là có hoạt lực bằng nhau khi dùng cùng một liều lượng. Như tất cả các insulin khác, diễn biến thời gian tác động của insulin glargin có thể bị ảnh hưởng của hoạt động thể lực và các biến số khác.

Trong các nghiên cứu truyền glucose giữ đường huyết ổn định trên các đối tượng khỏe mạnh hoặc trên bệnh nhân đái tháo đường týp 1, khởi phát tác động của insulin glargin tiêm dưới da chậm hơn so với NPH insulin người, diễn biến tác dụng của nó ít dao động và không có đỉnh, và thời gian tác động kéo dài.

Trong một nghiên cứu lâm sàng, các triệu chứng của hạ đường huyết hoặc đáp ứng với hormon điều hòa ngược đều tương tự nhau sau khi tiêm tĩnh mạch insulin glargin và insulin người trên người tình nguyện khỏe mạnh lẫn trên bệnh nhân đái tháo đường týp 1.

Tác dụng của Insulin Glargine (mỗi ngày một lần) trên bệnh võng mạc đái tháo đường đã được đánh giá trong một nghiên cứu đối chứng 5 năm công khai tên thuốc với NPH (NPH được tiêm ngày hai lần) trên 1024 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mà sự tiến triển của bệnh võng mạc sang bước 3 hoặc hơn nữa trên thang điểm ETDRS (Early Treatment Diabetic Retinopathy study) được khảo sát bằng phương pháp chụp hình đáy mắt. Không thấy sự khác biệt có ý nghĩa về sư tiến triển của bệnh võng mạc đái tháo đường khi so sánh Insulin Glargine với NPH insulin.

Cơ chế tác dụng:

Insulin ngoại sinh thường có tất cả các tác dụng dược lý của insulin nội sinh. Insulin kích thích chuyển hóa carbohydrat ở mô cơ – xương, tim và mỡ bằng cách tạo thuận lợi cho quá trình vận chuyển glucose vào trong tế bào. Mô thần kinh, hồng cầu, và các tế bào ở ruột, gan và ống thận không cần insulin để vận chuyển glucose. Ớ gan, insulin tạo thuận lợi cho phosphoryl hóa glucose thành glucose-6-phosphat, chất này được chuyển thành glycogen hoặc chuyển hóa tiếp.

Insulin cũng tác dụng trực tiếp đến chuyển hóa mỡ và protein. Hormon này kích thích tạo mỡ và ức chế tiêu mỡ và giải phóng acid béo tự do từ các tế bào mỡ. Insulin cũng kích thích tổng hợp protein. Cho insulin với liều thích hợp cho người đái tháo đường týp 1 (phụ thuộc insulin) phục hồi nhất thời khả năng chuyển hóa carbohydrat, mỡ và protein, để dự trữ glucose ở gan và để chuyển glycogen thành mỡ. Khi insulin với liều thích hợp cho cách đều nhau cho người đái tháo đường, nồng độ hợp lý glucose trong máu được duy trì, nước tiểu tương đối không có glucose và chất ceton, ngăn chặn được nhiễm toan đái tháo đường, hôn mê. Tác dụng của insulin bị đối kháng bởi somatropin (hormon tăng trưởng), epinephrin, glucagon, hormon vỏ tuyến thượng thận, tuyến giáp và estrogen. Insulin kích thích kali và magnesi chuyển vào trong tế bào, do đó tạm thời làm giảm nồng độ tăng cao của các ion đó.

[XEM TẠI ĐÂY] 5.2. Dược động học:

Trên người khỏe mạnh và bệnh nhân đái tháo đường, sau khi tiêm dưới da insulin glargine, nồng độ insulin trong huyết thanh chứng tỏ một sự hấp thu chậm hơn và kéo dài hơn, và không thấy đỉnh nồng độ khi so sánh với NPH insulin người. Vì vậy, nồng độ phù hợp với diễn biến hoạt tính dược lực học của insulin glargine theo thời gian.

Thời gian tác dụng kéo dài 24 giờ, không đỉnh.

Insulin glargine tiêm mỗi ngày một lần sẽ đạt được trạng thái ổn định nồng độ trong vòng 2-4 ngày sau liều đầu tiên.

Khi tiêm tĩnh mạch, thời gian bán thải của insulin glargine và insulin người tương tự như nhau.

Trên người, insulin glargine bị phân hủy một phần trong mô dưới da ở đầu tận carboxyl của chuỗi bêta, với sự hình thành các chất chuyển hóa có hoạt tính 21A-Gly-insulin và 21A-Gly-des-30B-Thr-insulin. Insulin glargine không bị biến đổi và các sản phẩm phân hủy đều hiện diện trong huyết tương.

Trong các nghiên cứu lâm sàng, phân tích phân nhóm theo tuổi và giới không cho thấy sự khác biệt nào về tính an toàn và hiệu quả trên bệnh nhân điều trị insulin glargine so với toàn bộ quần thể nghiên cứu.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.2. Tương kỵ :

Trộn hoặc pha chung với bất cứ chế phẩm nào đều có thể làm thay đổi hiệu quả của Insulin Glargine hoặc làm thuốc kết tủa và vì vậy nên tránh.

6.3. Bảo quản:

Để ngoài tầm tay và tầm mắt của trẻ em.

Bút tiêm không sử dụng

Bảo quản trong tủ lạnh (2°C – 8°C). Không được để đông lạnh.

Không đặt SoloStar gần ngăn đá hoặc vỉ đá trong tủ lạnh.

Giữ nguyên bút tiêm trong hộp để tránh ánh sáng.

Bút tiêm đang sử dụng

Bút tiêm nạp sẵn đang sử dụng hoặc được mang theo để dự trữ có thể bảo quản tối đa 4 tuần ở nhiệt độ không quá 30°c, tránh sức nóng và ánh sáng trực tiếp.

Bút tiêm đang sử dụng không nên bảo quản trong tủ lạnh. Đừng dùng bút tiêm sau khoảng thời gian nói trên.

Không được tiêu hủy thuốc qua nước thải hoặc rác thải sinh hoạt. Hãy hỏi dược sĩ về cách tiêu hủy thuốc không còn cần thiết. Những biện pháp này sẽ giúp bảo vệ môi trường.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

Điều Trị Bệnh Tiểu Đường Bằng Lá Dứa

Thiên nhiên quả thật kỳ diệu, kể cả loài cây thường chỉ dùng làm hương thơm tự nhiên cho các món ăn dân dã như: xôi, sữa đậu nành, làm màu sắc cho các món bánh. Thế mà giờ đây, điều trị tiểu đường bằng lá dứa lại được người bệnh sử dụng áp dụng như một bài thuốc.

Tất cả bộ phận của cây lá dứa dại đều được dùng làm thuốc

Theo hiệp hội Đái thái đường của Mỹ đưa ra mức đường huyết lý tưởng như sau:

* Trước khi ăn (buổi sáng ngủ dậy chưa ăn sáng): 5,0-7,2 mmol/l

* Sau bữa ăn khoảng 1 – 2 giờ : < 10mmol/l

* Trước khi đi ngủ: 6,0-8,3 mmol/l

Căn cứ vào mức đường huyết lý tưởng theo từng thời điểm trong ngày như vậy, giúp người bệnh chủ động theo dõi và kịp thời có biện pháp điều chỉnh – cân bằng.

Bạn có biết, trong lá dứa chứa thành phần dược tính đáng lưu ý nào mà được lựa chọn làm bài thuốc điều trị tiểu đường?

Lá dứa là loại lá lành tính, không có độc gây hại đến sức khỏe nên được sử dụng rộng rãi để chế biến thực phẩm.

Trong lá dứa có nhiều diệp lục, các axit hữu cơ, bromelin và chất chống oxy hóa giúp ngăn chặn sự phát triển của các gốc tự do phá hủy thành mạch máu. Lá dứa còn giúp hạ nhanh lượng đường trong máu cũng như hạn chế các biến chứng về tim mạch do bệnh tiểu đường.

Theo Đông y, lá dứa có vị đắng cay, thơm, có công năng sát khuẩn, hạ nhiệt làm long đờm lợi niệu. Bộ rễ có vị ngọt nhạt, tính mát, giúp hoạt huyết, lợi tiểu, tiêu độc trừ đàm, giải cảm ra mồ hôi, sốt, viêm đường tiết niệu, viêm thận,…

Lá dứa đã được Đông y sử dụng làm thuốc từ lâu đời, tất cả các bộ phận của cây như lá, rễ, quả, hạt dứa. Để làm thuốc, lá dứa được thu hái, rửa sạch, thái lát phơi hoặc sấy khô để dùng dần.

Có phải nhờ vào các thành phần hữu ích trong cây được Đông y tin tưởng như vậy, nên cách điều trị bệnh tiểu đường bằng lá dứa sẽ an toàn và đem lại hiệu quả?

Điều trị bệnh tiểu đường bằng lá dứa có an toàn không? Và dựa trên nguyên tắc nào để điều trị bệnh?

Lá dứa được dùng trong chế biến thức ăn, nên đã được chứng minh là an toàn với con người từ kinh nghiệm dân gian, không chỉ trong y dược. Nên ta có thể tin tưởng rằng, dùng lá dứa điều trị bệnh tiểu đường là hoàn toàn có cơ sở và an toàn cho bệnh nhân.

Nguyên tắc điều trị trong Đông y vẫn là giúp cân bằng chất từ bên trong, vừa kết hợp thải độc tiêu trừ khí trướng, hoạt huyết và phục hồi các cơ quan bị suy yếu bên trong. Từ đó, căn nguyên sinh bệnh vừa được đẩy ra ngoài, vừa được phục hồi bên trong, cải thiện tự nhiên và theo hướng lâu dài.

Đây cũng là xu hướng điều trị của nhiều loại thuốc được bào chế có nguồn gốc từ thảo dược tự nhiên hiện nay, để hỗ trợ điều trị các căn bệnh nan y – rối loạn chuyển hóa ở bên trong như bệnh tiểu đường.

Cây lá dứa có lành tính, thanh mát và an toàn thường dùng trong chế biến thực phẩm

Một số bài thuốc bạn có thể áp dụng điều trị bệnh tiểu đường bằng lá dứa tại nhà sau đây

Bài 1: Lấy 10 lá dứa, rửa sạch, cắt khúc khoảng 5-7cm, phơi khô nhưng vẫn còn giữ lại màu xanh của lá. Cho vào nồi nấu cùng với 2,5 lít nước, nấu cho đến khi cạn còn trong nồi khoảng 2 lít nước thì tắt bếp. Chia đều trong ngày, uống trước mỗi bữa ăn 20 phút, nếu 3 bữa cơm – 0,7 lít/ lần.

Cần áp dụng liên tục từ 1-3 tuần mới thấy được kết quả.

Bài 2: Cũng chuẩn bị như cách trên, liều lượng lá dứa ít lại, khoảng một nắm vừa, dùng hãm như trà, uống thay nước lọc trong ngày.

Bài 3: Lá dứa để nguyên không cắt khúc, rửa sạch rồi cuộn tròn lại, cho vào nồi, đổ nước xấp xỉ 1 gang tay, rồi đem nấu cho đến khi nước ngả vàng như nước trà là được. Chia đều uống trong ngày.

*** Khi áp dụng ba bài thuốc trên, bạn cần lưu ý theo dõi đường huyết trước và sau khi uống và trong suốt quá trình áp dụng, để đánh giá được hiệu quả của bài thuốc. Đồng thời, bạn phải luôn duy trì một lối sống vui vẻ, chế độ ăn uống phù hợp với người tiểu đường, vận động đều đặn mỗi ngày.

Cách điều trị tiểu đường bằng lá dứa sẽ phát huy được hiệu quả điều trị khi cùng áp dụng với một phương pháp điều trị hiệu quả khác.

Vậy nên, thông qua cách chúng ta hiểu rõ một điều rằng, thiên nhiên luôn sẵn có phương thuốc ‘cứu giúp’ cho con người.

Trao sức khỏe sống trọn vẹn! Khoa học đã làm hư chúng ta, mà quay lưng lại với thiên nhiên cùng với lối sống thụ động, bạn hãy nên về và sống gần với thiên nhiên là hay hơn hết!

Hoa Đu Đủ Đực Hỗ Trợ Điều Trị Tiểu Đường

Giới thiệu Hoa đu đủ đực

Cây đu đủ rất quen thuộc với người Việt và nhiều quốc gia trên thế giới. Cây thuộc loài thực vật đa tính vì có cả cây lưỡng tính. Cây cái thì cho hoa cái kết quả còn cây đực thi chỉ ra hoa. Hoa đu đủ đực thì được dùng làm vị thuốc cực kỳ công hiệu.

Mô tả

Hoa đu đủ đực nhỏ, màu trắng và có 5 cánh. Đôi khi một số hoa có màu xanh nhạt xen lẫn vàng, có mùi thơm, vị khá đắng. Hoa nở quanh năm, mọc thành cụm phân ra thành các nhánh nhỏ cuống dài chứa nhiều hoa.

Phân bố

Cây đu đủ nói chung và cây giống đực nói riêng có nguồn gốc ở Mexico. Sau đó cây di thực sang các nước khu vực Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Á và Châu Phi. Ngày nay, loại cây này được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, Ấn Độ hay Philippin.

Ở nước ta, cây đu đủ giống đực thường được tìm thấy nhiều các các tỉnh thành miền núi phía Bắc như Sơn La, Lạng Sơn, Yên Bái, Hòa Bình.

Thu hái

Hoa đu đủ đực được thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là từ tháng 5 – tháng 10. Những cụm hoa mới nở sẽ được thu hái vào lúc sáng sớm khi những cánh hoa vẫn còn đọng sương mai.

Chế biến

Đem hoa về rửa qua nhiều lần nước cho sạch đất cát, bụi bẩn, dùng tươi. Hoa thường được phơi trong bóng râm hoặc những nơi mát mẻ có gió lùa chứ không phơi nắng như thông thường. Theo giải thích của những người có kinh nghiệm, nếu đem hoa phơi ngoài nắng to thì sẽ làm giảm bớt tính dược và khiến cánh hoa bị nát vụn.

Để giữ được lâu, bạn nên đóng gói dược liệu vào trong các túi nilon hoặc cho vào hũ đậy kín nắp lại. Để nơi khô ráo nhằm tránh bị ẩm mốc.

Tại sao hoa đu đủ đực có thể hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường?

Thành phần hoạt chất trong hoa đu đủ đực gồm có: Các vitamin A, B1, C, Carbohydrate, Protein, Tannin, Khoáng chất: Canxi, photpho, Chất chống oxy hóa: Axit gallic, Phenol, Iron. Các chất này đã được cả y học cổ truyền lẫn y học hiện đại chứng minh có tác dụng rất tốt với bệnh nhân tiểu đường.

Các hoạt chất trong hoa đu đủ đực giúp bệnh nhận bị tiểu đường có thể kiểm soát tốt đường huyết trong máu nhờ tác dụng làm tăng sản xuất insulin trong cơ thể.

Từ đó, giúp bệnh nhân tiểu đường có thể ngăn ngừa được các biến chứng tiểu đường kèm theo.

Cách dùng hoa đu đủ đực hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường

Bạn có thể sử dụng dược liệu dưới dạng tươi hay khô đều được. Với hoa đu đủ đực khô, người bệnh nên sao vàng trước khi sử dụng để giữ được trọn vẹn dược tính của thuốc. Hoa đu đủ đực có thể được dùng chế biến thành món ăn, làm trà, ngâm mật ong, đường phèn, ngâm rượu hay sắc uống.

Bài thuốc hỗ trợ tiểu đường từ hoa đu đủ đực

Thành phần: Hoa đu đủ đực tươi 10 – 20g ( Nên lựa những bông mới chớm nở làm thuốc), 3 muỗng mật ong hoặc đường phèn.

Cách sử dụng: Các thành phần đã chuẩn bị đem trộn chung với nhau. Đem hấp cách thủy cho đến khi hoa chín mềm và ngấm đều mật ong. Bỏ ra, lấy thìa dằm nát hoa. Chia ăn 2 – 3 lần mỗi ngày.

Lưu ý khi sử dụng hoa đu đủ đực

Phụ nữ mang thai, người bị dị ứng với thành phần của hoa đu đủ đực, trẻ dưới 1 tuổi không dùng

Tránh dùng hoa đu đủ đực quá nhiều. Việc lạm dụng dược liệu quá mức có thể gây ra một số tác dụng phụ như tiêu chảy, đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, nôn ói…

Hiệu quả phương pháp này mang lại còn tùy thuộc vào cơ địa và tình trạng bệnh của mỗi người.

Kiên trì sử dụng trong thời gian dài. Sau đó nên đi kiểm tra lại nếu thấy lượng đường huyết không giảm. Nên ngưng sử dụng và thử tìm phương pháp khác

Qua những thông tin trên chắc hẳn bạn đã biết thêm về phương pháp dùng hoa đu đủ đực chữa tiểu đường. Để tìm hiểu thêm về công dụng và các sử dụng hoa đu đủ đực chữa những bệnh gì? Chữa như thế nào. Mời các bạn hay chú ý đón đọc các bài viết của Dược Liệu Hòa Bình hoặc gọi điện tới hotline 0976836586 để được tư vấn nhanh nhât.

*Lưu ý: Tác dụng của dược liệu tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người*

Mọi thắc mắc xin liên hệ:

CÔNG TY DƯỢC LIỆU HÒA BÌNH

Địa chỉ: Thôn Om Làng – Xã Cao Dương – Huyện Lương Sơn – Tỉnh Hòa Bình

Lá Ổi Trị Tiểu Đường: Bài Thuốc Dân Gian An Toàn, Hiệu Quả

Ổi mặc dù là loại cây ăn trái phổ biến ở Việt Nam nhưng chúng lại có nguồn gốc xuất xứ từ châu Mỹ xa xôi. Ở vùng quê, hầu như nhà nào cũng trồng một vài cây ổi để ăn trái. Tuy nhiên vì trong loài cây này thường có sâu róm sinh sống nên người ta chỉ trồng ở sau nhà.

Rễ cây ổi: Rễ ổi thuộc loại rễ cọc, do đó chúng rất dễ thích nghi với độ ẩm trong lòng đất. Trời hạn là thời điểm mà loại cây này phát triển nhanh nhất, rễ của chúng có thể ăn sâu vào lòng đất từ 3 đến 4 m, thậm chí là hơn. Ngược lại, vào mùa mưa, mực nước ngầm dâng cao, rễ ổi sẽ tự động đâm ra vài rễ mới trồi lên mặt đất để không bị ngạt.

Lá cây ổi: Lá ổi là loại lá đơn, mọc đối nhau và thường không có lá đi kèm. Phiến lá có hình bầu dục, màu xanh bên trên bao giờ cũng đậm màu hơn bên dưới. Với những lá ổi còn non, đường viền lá của chúng có màu hồng tía, kéo dài từ đỉnh lá đến tận cuống.

Quả ổi: Tùy vào từng giống ổi mà khi kết trái chúng sẽ có những hình dạng khác nhau, có quả hình tròn, hình trứng, song cũng có quả tương tự như trái lê. Ổi khi chín thường có mùi thơm rất đặc trưng, vỏ màu xanh hơi ngả vàng, thịt bên trong màu đỏ, trắng hoặc ửng vàng, ăn vào có vị chua chua ngọt ngọt.

Mặc dù giá thành của loại quả này trên thị trường không cao, nhưng nhờ vào hàm lượng dinh dưỡng dồi dào nên rất được săn đón. Một vài nghiên cứu khoa học chỉ ra, lượng vitamin C có trong ổi cao hơn gấp 4 lần so với quả cam. Nhờ đó, thường xuyên sử dụng ổi sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch, chống lão hóa, đẹp da.

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh tiểu đường là do insulin trong máu quá ít, không đủ để làm giảm glucose về mức bình thường. Lượng đường này nếu dư thừa trong thời gian quá dài sẽ gây ra hiện tượng glycate, từ đó dẫn đến một loạt những biến chứng cho cơ thể như: suy thận, suy gan, suy tim,…

Theo nghiên cứu của y học hiện đại, trong lá ổi có chứa nhiều chất dinh dưỡng như: tanin vị chát, tinh dầu, dl-limonen, polyphenol, saponin, sitosterol, axit maslinic, axit guijavalic,… Trong đó, đặc biệt nhất là hợp chất flavonoid, một thành phần có tác dụng trong việc hạ đường huyết ở người đái tháo đường.

Bên cạnh đó, quả ổi tươi cũng chứa một lượng lớn chất xơ hòa tan và không hòa tan, giúp hạ đường một cách an toàn đối với người bị tiểu đường. Ngoài ra, trong quả ổi còn chứa rất nhiều vitamin, đồng, sắt, mangan,… có lợi cho sức khỏe của nhiều người. Như vậy có thể khẳng định, không chỉ riêng quả ổi mà lá ổi trị tiểu đường là điều hoàn toàn có thể.

Ngoài tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, lá ổi còn mang lại nhiều công dụng tuyệt vời khác như: giảm cân, trị mụn, trị tiêu chảy, hôi miệng, ngăn ngừa hói đầu,… Trong trường hợp phụ nữ mang thai hoặc cho con bú muốn sử dụng loại lá này như một bài thuốc chữa bệnh thì nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa để tránh tình huống xấu có thể xảy ra.

Bài thuốc độc đáo chữa bệnh tiểu đường bằng lá ổi

Bài thuốc 1: Sử dụng lá ổi non

Lấy 100 gram lá ổi non, rửa sạch và nấu nước uống hàng ngày. Cách này không chỉ giúp hạ đường huyết tốt mà còn có được giấc ngủ ngon. Lưu ý, đối với lá ổi già, bạn chỉ nên dùng 30 gram để sắc lấy nước uống.

Bài thuốc 3: Lá ổi non, bạch quả và râu ngô

Ở bài thuốc này bạn cũng chuẩn bị 15 gram lá ổi non, 15 gram bạch quả, 30 gram râu ngô, rửa sạch và cho tất cả vào nồi nấu lấy nước uống. Nếu không thích dùng nóng, bạn có thể để nguội và cho vào ngăn mát tủ lạnh dùng dần. Lưu ý, chỉ dùng trong ngày, không nên để qua hôm sau.

Bài thuốc 4: Lá ổi, dây thìa canh

Bản thân dây thìa canh đã có tác dụng hỗ trợ điều trị tiểu đường, khi kết hợp với lá ổi sẽ càng mang lại hiệu quả lớn hơn. Nguyên liệu chuẩn bị cho bài thuốc này gồm 15 gram lá ổi và 15 gram dây thìa canh, sau đó đem rửa sạch và cho vào nồi đun chắt lấy nước uống.

Bài thuốc 5: Ăn sống lá ổi non

Lá ổi trị tiểu đường bằng phương pháp này rất đơn giản, hiệu quả cũng chẳng kém cạnh so với những bài thuốc ở trên. Bạn hái một nắm lá ổi non, ăn kèm hoặc chế biến cùng với những thực phẩm khác, cách này không chỉ giúp tăng thêm hương vị mà còn cân bằng được lượng đường trong máu.

Bài thuốc 6: Uống nước ép quả ổi tươi

Tương tự như lá ổi, quả ổi tươi cũng chứa một số thành phần giúp cân bằng đường huyết, do đó dùng ổi tươi ép lấy nước uống hàng ngày sẽ giúp hỗ trợ điều trị tốt cho người mắc bệnh tiểu đường.

Lá ổi trị tiểu đường là một trong những bài thuốc dân gian an toàn, hiệu quả mà bạn có thể áp dụng. Điều trị tiểu đường là một quá trình lâu dài, do đó bạn cần kiên trì sử dụng, đồng thời kết hợp với lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng hợp lý để giúp bệnh nhanh khỏi hơn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thuốc Điều Trị Tiểu Đường Insulin Glargine trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!