Đề Xuất 12/2022 # Sử Dụng Sơ Đồ Cấu Tạo Câu Trong Dạy Bài “Dùng Cụm Chủ Vị Để Mở Rộng Câu” Ngữ Văn 7 Nhằm Rèn Luyện Kĩ Năng Phân Tích Cấu Tạo Ngữ Pháp Của Câu Tiếng Việt Cho Học Sinh Thcs / 2023 # Top 15 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Sử Dụng Sơ Đồ Cấu Tạo Câu Trong Dạy Bài “Dùng Cụm Chủ Vị Để Mở Rộng Câu” Ngữ Văn 7 Nhằm Rèn Luyện Kĩ Năng Phân Tích Cấu Tạo Ngữ Pháp Của Câu Tiếng Việt Cho Học Sinh Thcs / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sử Dụng Sơ Đồ Cấu Tạo Câu Trong Dạy Bài “Dùng Cụm Chủ Vị Để Mở Rộng Câu” Ngữ Văn 7 Nhằm Rèn Luyện Kĩ Năng Phân Tích Cấu Tạo Ngữ Pháp Của Câu Tiếng Việt Cho Học Sinh Thcs / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nội dung

II. Mục đích nghiên cứu

2

III.Đối tượng nghiên cứu

3

IV. Phương pháp nghiên cứu B. Nội dung

I. Lí do chọn đề tài

3

I. Cơ sở lí luận của vấn đề

3- 4

II. Thực trạng của vấn đề 1- Thực trạng của việc dạy – học kiểu câu phân loại theo cấu trúc cú pháp

5

2- Kết quả của thực trạng

6

III. Giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện 1- Giải pháp: 2- Biện pháp tổ chức thực hiện:

11-15

IV . Hiệu quả- kết quả đạt được C. Kết luận, kiến nghị

I. Kết luận

16 – 17

II. Kiến nghị

17 Tài liệu tham khảo

18

Phụ lục

1

A- MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Thực hiện chương trình sách giáo khoa mới đã hơn mười năm, hướng tới mục tiêu: Không chỉ cung cấp tri thức mà còn quan tâm tới việc phát triển năng lực học sinh. Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn bậc THCS theo tinh thần đổi mới, giáo viên trực tiếp giảng dạy gặp không ít khó khăn, bởi chương trình có nhiều điểm mới và khó, dù đã có nhiều cuộc hội thảo trong tổ nhóm chuyên môn, nhiều đợt tập huấn chuyên đề hằng năm trao đổi về những vấn đề khó trong giảng dạy, vấn đề phương pháp tổ chức giờ dạy sao cho chất lượng và hiệu quả. Song trong thực tế, vẫn còn nhiều vấn đề khiến người dạy phải trăn trở. Ngay cả vấn đề tưởng chừng rất đơn giản như chuyện ” cơm ăn nước uống ” hằng ngày, lại ít được quan tâm, đó là khả năng giao tiếp, sử dụng câu đúng cú pháp của học sinh hiện nay. Học sinh sử dụng câu trong ngôn ngữ hàng ngày, trong viết văn, làm bài… thậm chí học sinh không hiểu hết cấu trúc câu mình đang sử dụng, không hiểu hết ý nghĩa của câu. Nhiệm vụ của phân môn Tiếng việt trong môn Ngữ văn ở các bậc học đóng vai quan trọng. Đây là một trong những đơn vị kiến thức khó đối với cả giáo viên và học sinh, nhưng chưa được quan tâm đúng mực và chưa có cách giảng dạy hiệu quả. Khi dạy các bài học về câu, phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu, giúp học sinh nhận diện, phân biệt kiểu câu này với kiểu câu khác, trong đội ngũ giáo viên cũng đã có những cuộc tranh luận về việc phân tích cấu trúc tầng bậc của câu, nhận diện, gọi tên kiểu câu, phân tích cấu trúc câu như vậy là đúng hay chưa đúng, vì sao ? Vậy, có cách nào giúp cho người giáo viên tự tin chủ động kiến thức trước học sinh? giáo viên có cách thức tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp sao cho hiệu quả nhất ? Học sinh dễ hiểu bài, nắm bắt được kiến thức cơ bản và có kỹ năng nhận diện câu, phân biện kiểu câu và có kỹ năng phân tích cấu trúc cú pháp câu một cách dễ dàng, thành thạo ? Đây là vấn đề đáng quan tâm và cần có cách thức dạy – học hiệu quả đối với cả giáo viên và học sinh. Đây chính là lí do tôi chọn đề tài này. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Mục đích hướng tới học sinh: đề tài không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về cấu tạo ngữ pháp của câu, cách sử dụng cụm chủ- vị để mở rộng câu; rèn cho học sinh kĩ năng nhận biết các cụm chủ- vị làm thành phần câu, làm thành phần của cụm từ một cách rành mạch, trong cái nhìn toàn diện về kiểu câu, không phiến diện, thụ động. Ngoài ra, học sinh còn có kĩ năng vẽ sơ đồ cấu tạo câu một cách thành thạo. Mục đích hướng tới giáo viên: mở rộng cho giáo viên giảng dạy một cách xác định cấu trúc cú pháp của những câu có cấu tạo phức tạp; một cách thức bổ

2

trợ để giáo viên vững vàng, tự tin hơn trong giờ dạy, truyền đạt kiến thức một cách rõ ràng, mạch lạc không mơ hồ, cho giờ dạy đạt hiểu quả cao hơn. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Trong phạm vi đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu vào một khía cạnh của kiến thức phần Câu Tiếng Việt, đó là: ” sử dụng sơ đồ cấu trúc câu trong dạy học phần câu Tiếng Việt” để rèn cho học sinh kỹ năng nhận diện và phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu qua một bài học cụ thể trong chương trình Ngữ văn lớp 7 – tiết111 ” Dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu” . 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để giải quyết vấn đề trên, bản thân đã đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan như : Câu Tiếng Việt và các bình diện nghiên cứu câu, câu Tiếng Việt và nội dung dạy học câu; phương pháp dạy học môn Tiếng Việt của Hội đồng hợp tác liên trường Cao đẳng sư phạm, tài liệu giảng dạy của Thầy Nguyễn Hữu Thung – giảng vên trường Đại học Sư phạm I Hà Nội và một số tài liệu tham khảo khác… Kinh nghiệm giảng dạy của bản thân gần 30 năm đứng lớp, chứng kiến một lần chỉnh lí Sách giáo khoa, một lần cải cách giáo dục, một lần thay sách giáo khoa theo tinh thần đổi mới, nắm bắt rõ cả về kiến thức cũ và mới, sự thay đổi tên gọi các đơn vị kiến thức; tiếp thu đổi mới các phương pháp giảng dạy…Trực tiếp giảng dạy các thế hệ học sinh, thu thập thông tin từ bạn bè đồng nghiệp, điều tra khảo sát thực tế học tập của học sinh, bản thân thấy cần thiết và đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài này. Dù không phải là giải pháp mới mẻ, tối ưu, nhưng bản thân muốn góp một chút vốn kinh nghiệm ít ỏi của mình vào công tác giảng dạy môn học tại nhà trường. 5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SKKN: Năm học 2013- 2014, trong một đề tài SKKN, tôi đã đề cập đến cách phân tích cấu trúc cú pháp của câu trong giảng dạy phân môn Tiếng Việt. Cụ thể là “cách dạy bài câu ghép – Ngữ văn 8 Tập 1- nhằm rèn kĩ năng phân tích cấu tạo ngữ pháp cho học sinh THCS”. Đó là cách phân tích “Ngược” – phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu từ cuối câu trở lên, rồi vận dụng sáng tạo cách phân tích câu này kết hợp với vẽ sơ đồ cấu tạo ngữ pháp của câu vào quá trình giảng dạy phần câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp. Nội dung đề tài này được phát triển trên nề tảng của đề tài nghiên cứu trên, tuy nhiên có mở rộng và phát triển sâu hơn. Điểm mới dó là: – Đề tài không chỉ hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy có thêm cách phân tích cấu tạo ngữ pháp của những câu dài, câu khó, câu có cấu trúc tầng bậc, xác định và phân biệt kiểu câu mà còn là mở cho giáo viên cách dạy kiểu bài ” câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp”bằng việc sử dụng sơ đồ cấu trúc câu – dạng sơ đồ gọn, dễ hiểu.

3

– Luyện học sinh kỹ năng vẽ sơ đồ cấu trúc câu, nhận diện và phân biệt kiểu câu. – Thông qua sơ đồ cấu trúc ngữ pháp của câu, học sinh nhìn nhận và nắm bắt cấu tạo câu một cách tổng quát, toàn diện. B – NỘI DUNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ: Đối với phân môn Tiếng Viếng việt, quá trình giảng dạy phần câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp, sở dĩ giáo viên gặp khó khăn là vì trong chương trình sách giáo khoa mới so với chương trình sách giáo khoa chỉnh lý thì phần câu Tiếng Việt có một số thay đổi: – Có sự thay đổi tên gọi các kiểu câu. Ví dụ: Sách giáo khoa chỉnh lý gọi tên: “Câu Phức thành phần” – câu phức thành phần chủ ngữ, câu phức thành phần vị ngữ, câu phức thành phần trạng ngữ…). Sách giáo khoa mới gọi tên: Câu đơn mở rộng thành phần (Câu đơn mở rộng thành phần chủ ngữ, vị ngữ, phụ ngữ…). Từ sự thay đổi tên gọi làm cho cách nhìn nhận về thì câu phân loại theo cấu trúc cú pháp cũng có những điểm khác trước. – Để đảm bảo tính tích hợp giữa các phân môn trong môn Ngữ Văn (tích hợp phần Tiếng Việt với phần đọc – hiểu văn bản và phần tập làm văn), hệ thống câu văn được đưa vào làm ngữ liệu để phân tích, nhận diện kiểu câu thường dài hơn, cấu trúc phức tạp hơn, các câu đưa vào làm ngữ liệu phần Tiếng Việt được trích dẫn từ các văn bản phần đọc – hiểu văn bản đã học, nghĩa là, xem xét, phân tích câu không chỉ ở dạng đơn lẻ, không chỉ ở dạng câu phát ngôn thông thường mà còn xét caua trong chỉnh thể văn bản, ở dạng chức năng. – Trước đây, thực hiện chương trình sách giáo khoa cũ, sách giáo khoa chỉnh lí, việc hướng dẫn học sinh phân tích cấu trúc cú pháp trong quá trình giảng dạy được quan tâm rất nhiều. Kể cả các bài kiểm tra đánh giá định kì, kiểm tra học kì và trong các kì thi học sinh giỏi các cấp phần phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu cũng được đưa vào đề kiểm tra. Học sinh được làm quen và biết cách phân tích cấu tạo câu thành thạo, từ đó nắm vững và phân biệt được các kiểu câu một cách rành mạch. Từ năm thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, phần kiến thức này hầu như không được quan tâm. Thêm nữa, do cấu trúc chương trình trong sách giáo khoa ở các khối lớp, khối lượng kiến thức về kiểu câu phân theo cấu trúc cú pháp không được sắp xếp theo hệ thống cụm bài, cụm đơn vị kiến thức ở một khối lớp mà được rải ra 4

ở chương trình từ lớp 6 đến lớp 9. Điều này cũng gây khó khăn cho giáo viên và học sinh trong quá trình tiếp nhận và hệ thống hóa kiến thức. Nhận thức rõ những điểm khó trong dạy học phần câu Tiếng Việt, phân tích theo cấu trúc cú pháp, bản thân tôi luôn có ý thức học hỏi, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm ở các thầy cô, ở các bạn bè đồng nghiệp, từ đó, tôi đã tích cực nghiên cứu, học tập và đã học được một cách phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu, nhận diện và gọi tên các câu có cấu trúc phức tạp. Đó là cách phân tích “Ngược” – phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu từ cuối câu trở lên rồi, vận dụng sáng tạo cách phân tích câu này kết hợp với vẽ sơ đồ cấu tạo ngữ pháp của câu vào quá trình giảng dạy phần câu. Cụ thể như bài: “Câu đơn hai thành phần”, “dùng cụm chủ vị để mở rộng câu” – câu đơn mở rộng thành phần, “câu ghép”… Với phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi muốn tập trung giới thiệu cách phân tích cấu tạo ngữ pháp của những câu văn phức tạp và sử dụng sơ đồ cấu tạo ngữ pháp của câu vào dạy bài :”Dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu”- Ngữ văn 7- Tiết 111. II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ: 1- Thực trạng của việc dạy – học kiểu câu phân loại theo cấu trúc cú pháp nói chung, bài ” dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu ” nói riêng. Trong thực tế dạy – học bài học về kiểu câu phân loại theo cấu trúc nói chung, giáo viên và học sinh gặp không ít khó khăn. Đối với giáo viên, trong giờ dạy một số giáo viên còn lúng túng, bị động, có khi quá phụ thuộc vào một số tài liệu tham khảo, sách học tốt. Các câu văn mẫu làm ngữ liệu để hướng dẫn học sinh khai thác bài học, hình thành kiến thức thường dài, cấu tạo phức tạp do phải đảm bảo yêu cầu tích hợp ngang giữa phần đọc – hiểu văn bản với phần Tiếng Việt. Có những lúc giáo viên gặp khó khăn nhất, thấy bí về kiến thức chuẩn, giáo viên tìm đến một số tài liệu tham khảo để khẳng định lại nhận định kiến thức của mình (tức là mong tìm thấy lời giải đáp hay một tiếng nói chung) thì vấn đề đó sách giáo viên, tài liệu tham khảo lại không giải đáp hoặc chỉ gợi ý một câu chung chung:”giáo viên hướng dẫn học sinh làm.” Nhiều khi giáo viên cần có một hướng đi đúng đắn, chắc chắn, còn hệ thống ngữ liệu trong sách giáo khoa thì sao? Nhiều bài học, ngữ liệu đưa vào đã là một trích dài song vẫn chưa đủ ngữ liệu kết luận bài học, buộc giáo viên phải đưa thêm ngữ liệu ngoài. Đã từng có trường hợp giáo viên phân tích sai cả cấu tạo ngữ pháp của câu ngay trong tiết thao giảng. Đối với học sinh, hiện nay tình trạng chung ở các em vốn đã ngại học, gặp phần câu có cấu trúc phức tạp lại càng khó khăn hơn trong việc tiếp thu bài, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, hoặc quá phụ thuộc vào tài liệu tham khảo mà không hiểu bản chất vấn đề, chính vì vậy mà kỹ năng nhận biết, phân biệt, phân tích cấu trúc câu, đặt câu còn chấp, tính chính xác không cao. Có em không

5

phân tích được cấu tạo câu đơn giản, ví như câu:” Hôm nay, trời mưa.” Học sinh phân tích: Hôm nay là chủ ngữ, trời mưa là vị ngữ. Đúng là không biết nói sao! Nguyên nhân của thực trạng: Có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Về chủ quan, đối với người dạy do chưa có phương pháp hữu hiệu, có thể do chưa sâu, chưa chắc kiến thức; học sinh ngại học, ngại suy nghĩ, không có hứng thú học tập, mất “gốc” kiến thức cơ bản. Về khách quan, khó do cấu trúc chương trình sách giáp khoa mới, đưa ngữ liệu đảm bảo tích hợp ngang, câu được trích dẫn từ văn bản phần Văn ; thêm nữa do học sinh học từ tiểu học theo mô hình trường học mới, những phần kiến thức này ít được chú trọng. Các đề thi khảo sát chất lượng qua các kì thi hiện hành hầu như không yêu cầu kiểm tra đến 2- Kết quả của thực trạng: Từ thực trạng trên, qua thực tế khảo sát các giờ dạy phần phân tích cấu trúc câu của bản thân cũng như của đồng nghiệp ở các năm mới thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, tôi thấy rõ hiệu quả đạt được ở các giờ dạy không cao, tỷ lệ học sinh có khả năng phân tích cấu tạo câu chính xác còn thấp, đa số học sinh phụ thuộc vào sự dẫn dắt của giáo viên. Có thể nhìn nhận kết quả đánh giá khả năng hiểu bài, kỹ năng nhận biết và phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu sau các tiết dạy về câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp như các bài: Câu đơn 2 thành phần, câu ghép, thêm trạng ngữ cho câu, dùng cụm chủ vị để mở rộng câu. Kết qua khảo sát sau khi dạy xong tiết Dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu”- Ngữ văn 7, tiết111 qua năm học: Năm học 2013 – 2014 như sau: Năm học 2013- 2014

15

50

Số HS lúng túng, phân tích không đúng cấu tạo câu SL

%

15

50

III- GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 1- Giải pháp: a) Giáo viên phải nắm vững các cách nhận diện và phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu: Bằng cách nào để phân tích và nhận diện được kiểu câu phân loại theo cấu trúc cú pháp? Tôi xin đề xuất 2 cách sau:

6

Cách 1: Đối với những câu ngữ liệu dài, có cấu trúc cú pháp phức tạp, giáo viên cần sử dụng cách phân tích” ngược”- Cách này đã được giới thiệu trong đề tài SKKN năm học 20113- 2014: “Cách dạy bài câu ghép – Ngữ văn 8 Tập 1- nhằm rèn kĩ năng phân tích cấu tạo ngữ pháp cho học sinh THCS”. Cụ thể: Phân tích cấu tạo Ngữ pháp của câu theo quy trình 5 bước: Bước 1:

– Xác định từ, từ loại trong câu. – Xác định từ đơn, từ phức – Xác định từ loại của từng từ (danh từ, động từ, tính từ,…).

Bước 2: Xác định quan hệ ngữ pháp và chức năng tìm các cụm từ trong câu (cụm đẳng lập, cụm chính phụ, cụm chủ – vị) và nêu ra chức năng của các từ, cụm từ đó. Bước 3: Sơ đồ – Sau khi phân tích, rút ra sơ đồ ngắn gọn về kiểu câu. Bước 4: Kết luận kiểu câu – đọc tên là kiểu gì ? Bước 5: Câu hỏi – Đặt câu hỏi để kiểm tra lại. Các câu hỏi như : Bao giờ ? (Lúc nào ? Khi nào ? ), Ai ? Thế nào ? (Làm gì ?). * Ví dụ vận dụng – Thực hành phân tích cấu trúc câu cụ thể: Ví dụ 1: Phân tích cấu trúc một số câu được đưa vào làm ngữ liệu trong bài 11 – Tiết 43 – “Câu Ghép” – Ngữ Văn 8 – Tập 1. Phân tích cấu trúc của các câu in đậm trong đoạn trích từ văn bản “Tôi đi học” – SGK mục I – Tiết 43 . Tôi /quên / thế nào / được / những/ cảm giác/ trong sáng / ấy / nảy nở / trong ĐaT

ĐgT

ĐaT

PT

LT

DT

TT

CT

ĐgT

DT

lòng/ tôi / như / mấy / cành hoa / tươi / mỉm cười / giữa / bầu trời/ quang đãng. DT ĐaT QHT LT

DT

TT

ĐgT

DT

DT

TT

Bước 1: Xác định từ, từ loại (xác định trên câu văn). Bước 2: Xác định quan hệ ngữ pháp và chức năng – Đây là quá trình thực hiện bước phân tích “Ngược”. Cấu tạo – giữa bầu trời quang đãng

Chức năng

– Cụm DT

– Làm PN cho “mĩm cười”

– mỉm cười giữa bầu trời quang – Cụm ĐgT đãng

– Làm V2

7

– trong lòng tôi.

Cụm DT

– nảy nở trong lòng tôi

– Cụm ĐgT

– những cảm giác trong sáng ấy

– Cụm DT

– những cảm giác trong sáng ấy nảy C1-v1 nở trong lòng tôi.

– quên thế nào được…

– Cụm ĐgT

– Tôi

– ĐaT

– Bước 3: Sơ đồ rút gọn: Co – Vo – C1V1 – C2V2 – Bước 4: Kết luận: Câu đơn mở rộng thành phần vị ngữ. (Câu có 2 cụm C-V nhỏ làm PN cho động từ “quên” và “nảy nở”. – Bước 5: Câu hỏi kiểm tra. Ai ? Thế nào ? Gì ? Ví dụ 2:

Bước 1: Xác định từ loại:

– kẻ 1: Xác / khi / từ / thi trên). (Có) Bước nói từđịnh từ, cácloại (ởsĩ / ca tụng / cảnh / núi non / hoa cỏ/ núi non/ DT

ĐgT QHT DT LT

DT

ĐgT

DT

DT

DT

DT

hoa cỏ/ trông/ mới/ đẹp/; từ/ khi/ ( có) người/ lấy / tiếng chim kêu/, tiếng suối DT

ĐgT PT

TT QHT DT ĐgT DT

ĐgT

Cụm DT

Cụn DT

chảy/ làm/ đề tài/ ngâm vịnh /, tiếng chim /, tiếng suối / nghe / mới/ hay. ĐgT DT

ĐgT

Cụm DT

Cụm DT

ĐgT

PT

TT

– Bước 2: Xác định quan hệ ngữ pháp và chức năng. Cấu tạo

Chức năng

* Vế 2: – nghe mới hay

– Cụm ĐgT

– tiếng chim, tiếng suối

– Cụm DT

– làm đề tài ngâm vịnh

– cụm ĐgT

– tiếng chim, tiếng suối chảy

– Cụm DT

– lấy tiếng chim, tiếng suối – Cụm ĐgT chảy làm đề tài ngâm vịnh

– (Có) người

– Làm C1

– DT

8

– từ khi

– Cụm DT

-. TRN chỉ thời gian

– trông mới đẹp

– cụm ĐgT

– núi non, hoa cỏ

– DT

* vế 1:

– cảnh núi non, hoa cỏ

– Cụm DT

– ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ

– Cụm ĐgT

– các thi sĩ

– cụm DT

– Từ khi

-. TRN chỉ thời gian

– Cụm DT

– nói

– ĐgT

– (có) kẻ

– DT

” nói”

– Bước 3: Sơ đồ rút gọn: Co- Vo- P( TRN) C1 -V1, C2- V2; P(TRN) C1-V1, C2- V2. – Bước 4: Kết luận: Là câu có dùng cụm chủ – vị để mở rộng thành phần phụ. – Bước 5: Câu hỏi kiểm tra: Ai ? Làm gì ? Thế nào? * Cách 2: Đối với những câu ngắn, có cấu tạo đơn giản( Câu có 2 thành phần chính ) giáo viên cần xác định cấu trúc cú pháp của câu bằng cách thông thường: Đặt câu hỏi, trả lời để xác định nòng cốt câu và các thành phần phụ. – Đặc điểm của chủ ngữ : + Chủ ngữ biểu thị những sự vật có hành động, trạng thái, đặc điểm…nêu ở vị ngữ. 9

Từ việc tìm hiểu, xác định các thành phần câu ở trên, để cụ thể hóa về cấu tạo ngữ pháp của câu Tiếng Việt một cách dễ nhìn, dễ hiểu nhất, giáo viên tiến hành vẽ sơ đồ cấu trúc câu. Sử dụng sơ đồ cấu trúc cú pháp giúp học sinh có cái nhìn chỉnh thể, bao quát về cấu tạo các thành phần câu. Ví dụ: Sơ đồ cấu trúc 2 câu( câu 1 + câu 2): Câu 1: Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng nảy nở trong lòng tôi như mấy cảnh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Câu 2: Cảnh vật chung quanh tôi/đều thay đổi, vì chính lòng tôi/ đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi/ đi học. ( Sơ đồ 1- phần phụ lục ) 2- Biện pháp tổ chức thực hiện: Sử dụng sơ đồ cấu trúc cú pháp trong tổ chức dạy học tiết 111: Dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu – Ngữ Văn 7 – Tập 2. A- MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: 1- Kiến thức: Giúp học sinh nắm được: – Thế nào là dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu. – Mục đích của việc dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu. – Các trường hợp dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu. 2- Kỹ năng: – Nhận biết các cụm chủ – vị làm thành phần câu. – Nhận biết các cụm chủ – vị làm thành phần của cụm từ. – KNS: KN nhận thức, KN tư duy sáng tạo. B- CHUẨN BỊ: – Học sinh: Đọc trước bài, ôn lại đặc điểm kiểu câu đơn 2 thành phần đã học. – GV soạn bài, chuẩn bị bảng phụ – vẽ sơ đồ cấu tạo ngữ pháp của một số câu trong bài (hoặc sử dụng máy chiếu). C- PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC: – Sử dung phương pháp đặc trưng bộ môn: Phân tích ngữ liệu, hình thành kiến thức bằng PP quy nạp. – Các KT dạy học: KT động não, hỏi và trả lời, trình bày một phút… D- TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TRÊN LỚP: 1- Ổn định tổ chức lớp. 2- Kiểm tra kiến thức cũ – giới thiệu bài mới

11

? Ở lớp dưới, xét câu về mặt cấu tạo Ngữ pháp các em đã được học những kiểu câu nào ? ? Câu xét về cấu tạo ngữ pháp có mấy thành phần chính? Nêu đặc điểm , cấu tạo của các thành phần chính đó. – Giáo viên giới thiệu bài mới – Có những phép biến đổi câu: Rút gọn câu, thêm trạng ngữ cho câu, còn phép biến đổi câu đó là ” dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu”. 3- Bài mới. * Hoạt động 1: Phân tích ngữ liệu, I. Thế nào là dùng cụm chủ vị để mở hình thành khái niệm. rộng câu: – Mục đích sử dụng sơ đồ cấu tạo câu * Xét ví dụ: là để HS có cái nhìn chỉnh thể về câu, Ví dụ 1: Câu văn nhận rõ thế nào là cụm chủ- vị trong Văn chương gây cho ta những tình câu. cảm ta không có, luyện những tình cảm – Các bước tiến hành: ta sẵn có… GV đưa câu văn ví dụ lên bảng phụ ( Hoài Thanh) Hướng dẫn HS phân tích ngữ liệu. – Bước 1:

– Cụm danh từ: ? Xác định các cụm danh từ trong câu Những tình cảm ta / không có văn trên? – HS xác định ? Phân tích cấu tạo ngữ pháp của 2 cụm danh từ trên? – HS tự phân tích cấu tạo câu, phát biểu ý kiến. (HS phân tích thường không chuẩn nên

V

PS

những tình cảm ta / PT

sẵn có…

c

về v

CN

VN

? Thế nào là dùng cụm chủ vị để mở rộng câu? – HS phát biểu. – GV chốt nội dung bài học – Ghi nhớ.

* Ghi nhớ: ( SGK)

– 1 HS đọc to ghi nhớ.

II. Các trường hợp dùng cụm chủ vị * Hoạt động 2: Hướng dẫn HS phân để mở rộng câu. tích cấu tạo câu để nhận biết các * Xét ví dụ:(các câu văn a,b,c,d- SGK) trường hợp dùng cụm chủ vị để mở a, Chị Ba đến khiến tôi rất vui và vững rộng câu. tâm. ( Bùi Đức Ái) – GV đưa hệ thống ví dụ lên bảng phụ b, Khi bắt đầu kháng chiến, nhân dân ( hoặc máy chiếu). ta tinh thần rất hăng hái. – HS quan sát. ( Hồ Chí Minh) c, Chúng ta có thể nói rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen.

13

( Thạch Lam)

Bước 1:

d, Nói cho đúng thì phẩm giá của Tiếng Việt mới thực sự được xác định và đảm bảo từ ngày cách mạng tháng Tám thành công. ( Đặng Thai Mai)

– Đặt câu hỏi để xác định các cụm C-V – Các cụm chủ vị ( C-V ) mở rộng câu: mở rộng câu. a, – chị Ba đến a, ? Điều gì khiến tôi rất vui và vững – tôi rất vui và vững tâm tâm?Chị Ba đến ai rất vui và vững tâm?(tôi). Tôi thế nào? b, tinh thần rất hăng hái b, ? Khi bắt đầu cuộc kháng chiến, c, trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng nhân dân ta thế nào? như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen. c, ? Chúng ta có thể nói gì?

15

Đối với học sinh: Ban đầu, khi mới tiếp cận, học sinh còn lúng túng, nhưng ngay sau các bài học phần câu phân loại theo cấu trúc cú pháp, làm quen với vẽ sơ đồ cấu tạo câu từ lớp 7 lên lớp 8, học sinh đã thành thạo, thấy tự tin hơn số học sinh hiểu bài, có kỹ năng phân tích cấu tạo ngữ pháp câu tăng lên rõ rệt. Có thể nhận rõ kết quả khảo sát 2 khối lớp 7 và 8 năm học 2014- 2015 và 2015- 2016 qua bảng số liệu sau:

Năm học

HS có khả năng HS nhận diện nhận diện và và PT được phân tích cấu tạo cấu tạo câu câu nhưng còn chậm

%

SL

%

SL

%

8A

30

18

60

7

23,3

5

16,7

7A

32

20

62,5

8

25,0

4

12,5

8A

32

20

62,5

9

28,1

3

9,4

So sánh với kết quả khảo sát thực trạng với kết quả sau khi vận dụng đề tài, ta thấy kết quả có sự tiến triển, khả quan, biện pháp thực hiện đơn giản mà hiệu quả. C- KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: 1. KẾT LUẬN: Trong thực tế giảng dạy phân môn Tiếng Việt, bộ môn Ngữ Văn, việc dạy và học phần câu Tiếng Việt với mục đích không chỉ cung cấp lý thuyết về kiểu câu mà còn đặc biệt chú trọng đến rèn luyện kỹ năng nhận diện câu, phân tích cấu tạo Ngữ Pháp của câu là một vấn đề khó, đặc biệt trong chương trình sách giáo khoa mới, nội dung đưa vào chương trình còn đảm bảo tích hợp giữa 3 phân môn (văn, tiếng Việt, tập làm văn) nên hệ thống giữ liệu đưa vào phần câu Tiếng Việt để giáo viên và học sinh khai thác thường là những câu, đoạn dài, hoặc câu có cấu tạongữ pháp phức tạp, Tiết 111: ” Dùng cụm chủ – vị để mở rộng câu” , ngữ văn 7 tập 2 là một dạng câu có cấu trúc tầng bậc. Bởi vậy trong quá trình dạy – học kiểu câu này đòi hỏi giáo viên phải kết hợp vận dụng các các cách xác định thành phần câu, kiểu câu để phân tích cấu trúc câu, có thể vận dụng cả hai cách : đặt câu hỏi và cách phân tích cấu tạo ngữ pháp “Ngược”. Đặc biệt một trong những khâu quan trọng trong dạy học đem lại hiệu quả đáng kể đó là sử dụng sơ đồ phân tích cấu trúc câu. Đây không phải là cách phân tích câu đơn giản, dễ dàng mà ngược lại rất khó, phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức tổng hợp, song nếu đọc và ngẫm kỹ chắc chắn sẽ thấy rất hay, hiệu quả, bởi làm theo cách này sẽ cho ta kết quả có độ chính xác cao. Nó giúp ích cho giáo viên gỡ bí khi bắt gặp những câu văn dài, có cấu tạo phức tạp, đồng thời đây cũng là cơ hội để giáo viên tự khẳng định lại vốn kiến thức về ngữ pháp Tiếng Việt của mình. 16

Sử dụng sơ đồ phân tích cấu trúc câu trong dạy học phần câu Tiếng Việt không chỉ rất hiệu quả mà còn rất tiện lợi, giáo viên có thể vẽ sơ đồ trên giấy Rôki, hiệu quả cao mà chi phí thấp, không mất nhiều thời gian đầu tư. Riêng với những câu ngắn, giáo viên có thể vẽ trực tiếp trên bảng. Với cách phân tích câu bằng sơ đồ, học sinh tiếp thu bài dễ dàng hơn, thấy rõ vấn đề hơn, nắm vững hơn bản chất, cốt lõi của vấn đề, nhìn nhận câu toàn diện hơn, không mơ hồ, nhầm lẫn, nhận biết thụ động hoặc theo cảm tính. Dẫu biết rằng nội dung được trình bày trong đề tài này không phải là kiến thức mới, tính sáng tạo không cao, song đúc rút từ kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, tôi thấy giáo viên chúng ta cần quan tâm đến vấn đề này hơn, khéo léo vận dụng linh hoạt trong các giờ dạy phần câu Tiếng Việt chắc chắn đem lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, nội dung và cách trình bày đề tài còn vụng về, không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, tôi rất mong được sự góp ý chân thành của các thầy cô, đồng nghiệp . 2. KIẾN NGHỊ: Kính mong Sở, Phòng GD & ĐT hàng năm có những đợt tập huấn chuyên đề bồi dưỡng về chuyên môn để cán bộ giáo viên trong địa bàn Huyện có cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, nhằm nâng cao hiểu biết, vững vàng hơn về chuyên môn nghiệp vụ. Việc ra đề thi trong các kì thi khảo sát chất lượng học kì, thi học sinh giỏi bậc Tiểu học, THCS nên đưa mảng kiến thức này vào để rèn cho học sinh kĩ năng nhận diện và biết cách phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu Tiếng Việt. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Như Xuân, ngày 30 tháng 03 năm 2017 Tôi xin cam đoan đây là SKKN mà bản thân tự viết, không sao chép nội dung của người khác Người viết Đặng Thị Thuỷ XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

17

Để hoàn thành nội dung đề tài này, tôi đã phát triển ý tưởng từ SKKN đã được các cấp công nhận và đọc và tham khảo các tài liệu: 1. Đề tài SKKN: “cách dạy bài câu ghép – Ngữ văn 8 Tập 1- nhằm rèn kĩ năng phân tích cấu tạo ngữ pháp cho học sinh THCS”. 2. Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 7 – Nhà xuất bản giáo dục. 3. Câu Tiếng Việt và các bình diện nghiên cứu câu- Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997- 2000 cho GV THCS; Nhà xuất bản giáo dục. 4.Thiết kế bài giảng Ngữ văn 7- THCS – Nhà xuất bản Hà Nội do TS Nguyễn Văn Đường và Ths Hoàng Dân( chủ biên). 5. Câu Tiếng Việt và nội dung dạy- học câu ở trường phổ thông – Nhà xuất bản Quốc Gia Hà Nội; TS Nguyễn Thị Thìn. 6 .Ngữ pháp tiếng Việt – Tập 2- Nhà xuất bản giáo dục. Tác giả: Diệp Quang Ban. 7. Giáo trình tiếng Việt – Nhà xuất bản Thanh Hóa. 8. Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt của Hội đồng hợp tác liên trường Cao đẳng sư phạm. 9. Giáo trình giảng dạy của Thầy Nguyễn Hữu Thung – giảng vên trường Đại học Sư phạm I Hà Nội .

DANH MỤC

18

CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Tác giả: Đặng Thị Thủy Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường THCS Thị trấn Yên Cát TT

Tên đề tài SKKN

Kết quả đánh giá

1

Dạy bài mở rộng vốn yếu tố Hán Việt – phân môn Tiếng Việt 6

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

-A

– Sở GD & ĐT Thanh Hóa

Năm học được đánh giá, xếp loại

-B

1998- 1999

2

Vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học Văn nhằm phát huy tính tích cực chủ động cho học sinh

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

-A

1999- 2000

3

Vài kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9 – THCS

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

B

2002- 2003

4

Vận dụng phương pháp dạy học tích cực nhăm gây hứng thú cho học sinh trong dạy – học môn Lịch sử

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

B

2003- 2004

5

Hiểu và dạy bài” Mạch lạc trong văn bản” – Ngữ văn 7- THCS

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

-A

– Sở GD & ĐT Thanh Hóa

-B

2005 – 2006

6

Cách thức tổ chức dạy bài ” đọc thêm” – Ngữ văn THCS

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

-B

7

Cách dạy bài ” Câu ghép” nhằm rèn kỹ năng cấu tạo ngữ pháp của câu Tiếng Việt cho học sinh lớp 8

– Phòng GD & ĐT Như Xuân

-A

– Sở GD & ĐT Thanh Hóa

2010- 2011

-C

2013- 2014

* SƠ ĐỒ PHÂN TÍCH CẤU TẠO NGỮ PHÁP CỦA CÂU ( Sơ đồ 1 – Minh họa cho phần giải pháp): Câu 1: Tôi// quên thế nào được những cảm giác… nảy nở trong lòng tôi (như) mấy cành hoa tươi/ mỉm cười giữa… đãng. C

V

VN

Câu 2 : Cảnh vật chung quanh tôi/đều thay đổi, vì chính lòng tôi/ đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi/ đi học. TRN C V

C

V

20

Sơ Đồ Cấu Tạo Của Máy Hàn? / 2023

Danh sách câu trả lời (3)

Từ bài viết của mqbkcomp Bạn hỏi thế này chung chung qua, mối loại máy hàn có công nghệ điều khiển khác nhau nên kiến trúc khác nhau. Ví dụ: máy hàn AC, DC, inverter… Trong máy hàn Inverter lại có nhiều loại: công nghệ Thyristor, IGBT, MOSFET… Nhưng nói chung dù công nghệ thế nào thì máy hàn cũng có một biến áp hàn là thiết bị thay đổi điện áp từ điện áp nguồn sang điện áp hàn. Nếu là máy hàn DC thì chỉnh lưu điện áp xoay chiều thứ cấp là xong, Máy hàn IGBT thì băm xung điện áp là được. Nên trong máy hàn thì biến áp hàn là bộ phận chung cho mọi loại máy hàn.

Bạn có thể hiểu 1 cách đơn giản và chung nhất như thế này: Máy hàn điện thực chất là 1 cái máy biến điện áp, thông thường có 2 cuộn dây. Cuộn sơ cấp dây nhỏ nối vào điện áp nguồn (220V chẳng hạn), cuộn thứ cấp ít vòng, dây to nối ra đầu mỏ hàn. Phía thứ cấp số vòng dây ít để có điện áp ra thấp cho an toàn, dây có tiết diện lớn để có dòng điện cao khi hàn (thực chất là ngắn mạch thứ cấp) gây nóng chảy tại nơi cần hàn thông qua que hàn. Trong máy hàn còn có bộ điều chỉnh dòng điện thứ cấp để phù hợp với vật hàn to hay nhỏ.

Bạn hỏi thế này chung chung qua, mối loại máy hàn có công nghệ điều khiển khác nhau nên kiến trúc khác nhau. Ví dụ: máy hàn AC, DC, inverter… Trong máy hàn Inverter lại có nhiều loại: công nghệ Thyristor, IGBT, MOSFET… Nhưng nói chung dù công nghệ thế nào thì máy hàn cũng có một biến áp hàn là thiết bị thay đổi điện áp từ điện áp nguồn sang điện áp hàn. Nếu là máy hàn DC thì chỉnh lưu điện áp xoay chiều thứ cấp là xong, Máy hàn IGBT thì băm xung điện áp là được. Nên trong máy hàn thì biến áp hàn là bộ phận chung cho mọi loại máy hàn.

Câu hỏi lĩnh vực Máy cơ khí, công nghiệp

Cấu Tạo, Sơ Đồ Máy Lọc Nước Kangaroo / 2023

Trong quá trình sử dụng máy lọc nước cho gia đình, nhiều người có thể không biết được cấu tạo, sơ đồ máy lọc nước kangaroo là như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu sơ đồ cấu tạo và nguyên lý hoạt động của máy lọc nước Kangaroo trong bài viết dưới đây.

1. Sơ đồ máy lọc nước Kangaroo

Cấu tạo máy lọc nước RO gồm các phần cơ bản sau:

Sơ đồ máy lọc nước Kangaroo

– Khóa chia nước cấp đầu vào

– Van áp thấp

– Máy bơm

– Cốc lọc 1

– Cốc lọc 2

– Cốc lọc 3

–  Van Điện từ

– Cốc lọc 4: Màng RO

– Van áp cao

– Van Flow nước thải

– Bình áp chứa nước tinh khiết

– Lõi lọc 5: Lõi T33

– Vòi thiên nga

 Ngoài ra với các máy có cấp lọc cao hơn còn có thêm các cấp lọc:

– Lõi lọc 6 Lõi Da cam

– Lõi lọc 7: Lõi tạo vị

– Lõi lọc 8: Lõi Alkaline hoặc lõi hồng ngoại xanh

Sơ đồ máy lọc nước Kangaroo

– Đầu tiên là van đầu nước vào. Khi muốn lọc nước, bạn chỉ cần cung cấp cho nó một nguồn nước. Nếu cần hãy lắp thêm một khóa điều chỉnh lượng nước và ngắt khi cần thiết. 

– Kế đến là ba lõi lọc nước thô (lõi 1, lõi 2 và lõi 3). Lõi được lắp thẳng đứng lên, và lần lượt theo thứ tự từng lõi. Riêng lõi 1, khi lắp lõi vào cốc cần vặn nhẹ để không bị vỡ hoặc nứt. Đặc biệt là giữa lõi 1 và 2 có van áp thấp, để kiểm soát bằng cách tự động ngắt khi đầu nước vào không đủ.

– Tiếp theo là lõi lọc nước Ro. Nó được lắp ngay trên bộ lõi nước thô. Thực hiện tiếp chức năng lọc nước của các lõi máy lọc nước trước. Tuy nhiên, đầu nước ra của lõi số 4 có tới 2 đường nước: nước tinh khiết và nước thải. Một điều, đa số thiết bị lọc nước hiện nay đều có bơm hút hỗ trợ. Nhằm khắc phục tình trạng nguồn nước yếu. Nó thường được lắp ở trước màng RO.

– Tiếp đến là bình áp. Nước sạch sau khi lọc sẽ được chảy tới bình áp – nơi lưu trữ nước. Tuy nhiên, nó sẽ bị kiểm soát bởi một van áp cao, tự động lọc khi bình áp hết hoặc ngắt khi bình áp đầy.

máy lọc nước kangaroo

– Nước sau khi lọc qua 4 lõi là có thể uống trực tiếp, không cần đun sôi được rồi. Tuy nhiên, nước lưu trữ trong bình áp có thể bị tái khuẩn do đó bộ lọc nước Kangaroo còn được bổ sung thêm lõi 5 – Nano Sliver đảm bảo nước đầu ra sạch, an toàn 100% khi uống.

– Ngoài ra, máy lọc nước gia đình Kangaroo hiện nay được bổ sung thêm nhiều lõi lọc khác. Các lõi 6 (3in1) làm từ bóng gốm  – tăng lượng ô-xy cho nước, lõi 7 (Alkaline) – trung hòa axit, cân bằng độ pH, lõi 8 Maifan  – cho nước thêm khoáng chất, uống mát lành tự nhiên, lõi 9 ORP – tạo nước điện giải, chống ô-xy hóa, tăng cường miễn dịch cho sức khỏe…. Và các lõi lọc Kangaroo tinh đều được lắp sau hệ thống lõi thô. 

Chú ý: Khi nắm được sơ đồ thiết bị lọc nước ro bạn sẽ biết được nguyên lý vận hành của nó. Về cơ bản, hoạt động của máy lọc nước ro khá đơn giản. Với mục đích là loại bỏ chất bẩn tồn tại trong nước. Sau đó là bổ sung các khoáng chất còn thiếu vào giúp nước uống có chất lượng tốt hơn cho sức khỏe. Đặc biệt là khi hiểu được nguyên lý sẽ giúp bạn yên tâm sử dụng hơn.

2. Nguyên lí hoạt động của máy lọc nước Kangaroo

Nguyên lí hoạt động của máy lọc nước Kangaroo

– Đầu tiên, nguồn nước được cấp vào trong máy qua bộ chia nước sẽ đi tới lõi lọc số 1. Cấu tạo của lõi lọc số 1 được làm từ sợi thô PP có kích thước khe hở 0,5 micro. Có tác dụng ngăn chặn gỉ rét, rong rêu, bùn đất, chất lơ lửng có kích thước lớn hơn 0,5 micro.

– Sau đó, nguồn nước sẽ được đưa đến lõi lọc số 2. Cấu tạo là các than hoạt tính dạng hạt. Có chức năng là hấp thụ kim loại nặng, chất hữu cơ, các chất độc hại, thuốc trừ sâu trong nước để cho ra nguồn nước trong sạch hơn.

 - Sau khi nguồn nước đi vào lõi lọc số 2 sẽ được chảy qua lõi lọc số 3. Lõi lọc số 3 có cấu tạo từ sợi PP có chức năng là ngăn rỉ sét, bùn đất… có kích thước lớn hơn 0,1 micro để đưa đến lõi lọc số 4.

– Lõi lọc số 4 hay còn gọi là màng lọc ro, sản xuất tại Mỹ và được nhập khẩu chính hãng cho máy. Hoạt động của lõi lọc này là theo cơ chế thẩu thấu ngược hiện đại, kích thước màng lọc siêu nhỏ 0,0001 micro có khả năng loại bỏ được chất rắn, chất hòa tan trong nước, vi khuẩn, vi rút, các chất độc hại để cho ra nguồn nước trong sạch và tinh khiết nhất, còn nước thải sẽ được chảy ra bên ngoài.

– Bắt đầu từ lõi lọc số 5 trở đi không có chức năng lọc nữa, nó có chức năng chuyên dụng là tạo khoáng, tạo ô xy, cân bằng Ph, tạo vị ngon và độ mềm cho nước để có thể uống trực tiếp và sử dụng lâu dài mà vẫn không ảnh hưởng đến sức khỏe.

HOTLINE 0979691514. Miễn phí tư vấn, vận chuyển và lắp đặt. Chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ!

Đặt hàng trực tiếp trên web Điện máy Ades hoặc liên hệ với chúng tôi qua số. Miễn phí tư vấn, vận chuyển và lắp đặt. Chúng tôi luôn sẵn sàng phục vụ!

Sơ Đồ Cấu Tạo Của Máy Lọc Nước Tổng Đầu Nguồn / 2023

Máy lọc nước đầu nguồn là một hệ thống cấp nước sạch cho tòa nhà, nó là giải pháp hữu hiệu đơn giản và hiệu quả. Ðây là kiểu hệ thống lọc nước tổng đầu nguồn đơn giản mà mỗi gia đình đều có thể sử dụng được với chi phí bỏ ra vừa phải.

Các bộ phận chính được sử dụng trong việc xử lý nước của bộ lọc nước đầu nguồn

– Vì sao máy lọc nước đầu nguồn là hệ thống được sử dụng rộng rãi trong các hộ gia đình:

– Với nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chặn và loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn trong nước, hạn chế một lượng lớn tạp chất xuống hệ thống lọc tinh, bảo vệ và nâng cao tuổi thọ của hệ thống lọc tinh. Tuy hệ thống lọc thô có cấu trúc kỹ thuật đơn giản, nhưng đây lại là hệ thống lọc nước vô cùng quan trọng cần phải có. Đặc biệt, đối với nguồn nước nhiễm sắt, mangan,…hệ thống lọc thô giữ vai trò thiết yếu trong việc xử lý các kim loại nặng.

– Máy lọc nước sinh hoạt thường được lắp đặt trực tiếp và xử lý nguồn nước cấp đầu vào trước khi đưa vào hệ thống sử dụng nước của tòa nhà, nó sẽ giúp gia đình tiết kiệm 1 khoản chi phí đáng kể.

– Hệ thống lọc tổng đầu nguồn cần phải được vệ sinh thường xuyên để loại bỏ những chất cặn bẩn bám lại sau một thời gian sử dụng.

– Máy lọc nước đầu nguồn chung cư sẽ lọc nước bằng các vật liệu xử lý nước chuyên dụng. Đây cũng là một hệ thống lọc nước phổ biến vì các vật liệu chuyên dụng như than hoạt tính có tác dụng giữ lại nhiều tạp chất nhỏ, ngăn chặn một số loại hóa chất (như Clo) trong nước mà lõi lọc thô không thể xử lý được, qua đó giúp giảm nguy cơ ô nhiễm từ nguồn nước.

Cấu tạo hệ thống lọc tổng đầu nguồn gồm những thiết bị sau:

– Cột lọc nước đầu nguồn composite: có thành phần sợi thủy tinh làm từ cát biển, nhựa polime làm từ nhựa thực vật nên không gây độc hại trong quá trình sử dụng như các loại cột khác. Đây là vật liệu đã được tổ chức FDA công nhận an toàn với con người, nên rất phù hợp cho việc truyền dẫn nước sạch trong sinh hoạt. Loại cột này có những đặc tính kỹ thuật nổi trội như:

+ Khả năng chịu ăn mòn cao

+ Đặc tính lưu thông tốt: do bề mặt nhẵn bóng

+ Tính chịu nhiệt cao: – 400C đến +1200C

+ Cách nhiệt, cách điện: nhựa không dẫn điện và truyền nhiệt kém

+ Độ bền cao: Được sản xuất theo công nghệ quấn, đan xen các lớp với nhau

+ Khối lượng nhẹ: Chỉ bằng ¼ khối lượng của ống kim loại

+ Ít tốn kém chi phí duy tu, bảo dưỡng: Không bị han gỉ trong mọi hóa chất, không bị mài mòn trong tự nhiên cũng như trong quá trình sử dụng, bề mặt ống nhẵn, không bị sinh vật và các chất bẩn bám vào nên chi phí bảo dưỡng rất thấp

+ Phù hợp với mọi địa hình: Bên trong và bên ngoài ống được phủ lớp polyester có tác dụng chống thẩm thấu, ăn mòn và sự xâm nhập của các chất trong thiên nhiên, sử dụng rất hiệu quả trong các môi trường nhiễm phèn, mặn, nước lợ, nước kiềm….

Sợi thủy tinh Các kích thước cột composite

– Van 3 cửa:

Công dụng : điều khiển vận hành bình lọc Composite Chức năng 3 trong 1: lọc – rửa ngược – rửa xuôi

– Van 5 cửa:

Công dụng: điều khiển vận hành bình lọc composite

Chức năng 5 trong 1: lọc – rửa ngược – hút hóa chất – pha dung dịch – rửa xuôi

: Lưu ý: Để đưa ra giải pháp lọc tốt nhất cho từng nguồn nước Quý khách vui lòng liên hệ ngay HOTLINE ĐẶT HÀNG VÀ TƯ VẤN KỸ THUẬT: 02466 750 510 – 0968 670 940 – 0912 915 936

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sử Dụng Sơ Đồ Cấu Tạo Câu Trong Dạy Bài “Dùng Cụm Chủ Vị Để Mở Rộng Câu” Ngữ Văn 7 Nhằm Rèn Luyện Kĩ Năng Phân Tích Cấu Tạo Ngữ Pháp Của Câu Tiếng Việt Cho Học Sinh Thcs / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!