Đề Xuất 12/2022 # Quyền Lực Cứng, Quyền Lực Mềm, Quyền Lực Thông Minh / 2023 # Top 13 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Quyền Lực Cứng, Quyền Lực Mềm, Quyền Lực Thông Minh / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quyền Lực Cứng, Quyền Lực Mềm, Quyền Lực Thông Minh / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nguồn: Ernest J. Wilson III (2008). “Hard Power, Soft Power, Smart Power”, The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science 2008, pp. 110-124.

Vào giai đoạn chuyển tiếp sang một chính phủ mới, thông thường các cuộc đối thoại quan trọng sẽ diễn ra trong các chiến dịch tranh cử, trong các cuộc họp kín của các đảng, và trong các viện nghiên cứu tư vấn chính sách ở Washington về các ưu tiên chính sách ngoại giao của chính quyền mới. Trong quá khứ, các cuộc đối thoại như vậy sẽ chủ yếu được định hình bởi các mối quan tâm về quyền lực cứng truyền thống. Nhưng khi nhìn về tương lai, các tính toán quyền lực mềm sẽ có dấu ấn mạnh mẽ hơn nhiều trong nội dung các chính sách an ninh quốc gia và đối ngoại của Mỹ.

Tại sao bây giờ phải quan tâm đến quyền lực thông minh?

Sự quan tâm ngày càng gia tăng đối với quyền lực thông minh phản ánh hai khuynh hướng đương đại, một mang tính cấu trúc và dài hạn, một mang tính ngắn hạn và tình thế, chủ yếu được thúc đẩy bởi các chính sách của chính quyền đương nhiệm. Lý do rõ ràng nhất cần suy xét nghiêm túc về quyền lực thông minh là do các thiếu sót chính sách đã được thừa nhận rộng rãi của chính quyền Mỹ trong 7 năm qua. Có một niềm tin rộng khắp ở Mỹ và trên thế giới rằng chính sách an ninh quốc gia và đối ngoại của chính quyền Bush đã không thông minh, ngay cả khi xét theo tiêu chí của riêng chúng, và kết quả là các chính sách này đã thỏa hiệp (hay phương hại) các lợi ích ngoại giao và an ninh của Mỹ, gây ra sự giận dữ chưa từng có trên toàn cầu, và làm giảm đáng kể vị thế của Mỹ trên thế giới (Kohut and Stokes 2006; Pew Global Attitudes Project 2006; Halper and Clarke 2004).

Trái lại, lãnh đạo của các quốc gia khác lại sử dụng công cụ quyền lực của họ một cách tinh vi hơn. Lấy một ví dụ, các lãnh đạo của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã triển khai các nguồn lực của nước này một cách rất có chiến lược, mặc dù không có nhiều thể hiện nổi bật. Những lựa chọn chính sách riêng biệt của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và các cố vấn đã phản ánh sự phân tích công phu về tình hình thế giới, và họ đã triển khai một loạt các công cụ cân bằng và có phối hợp nhằm đạt được những mục tiêu chính trị chuyên biệt của mình, cũng như thúc đẩy các mục tiêu quốc gia. Quyết định của Hồ Cẩm Đào về việc phát triển và nhất quán theo đuổi học thuyết “Trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc” rõ ràng là đối trọng với cách tiếp cận của Tổng thống Mỹ George W. Bush vốn tập trung chủ yếu vào nhu cầu duy trì ưu thế quân sự. Tuy nhiên cả hai cách tiếp cận này đều là ví dụ rõ ràng về những tính toán chính sách do lãnh đạo của các cường quốc đưa ra, có tính tương đối độc lập và không bị gò ép bới các yếu tố cấu trúc. Các lãnh đạo của Trung Quốc đã đưa ra những quyết định hết sức tỉnh táo khi theo đuổi đường lối khéo léo hơn. Lẽ ra họ đã có thể theo đuổi chiến lược “Trỗi dậy cứng rắn của Trung Quốc”. Họ đã có thể có những xáo trộn về mặt ngoại giao trong cách ứng xử với các quốc gia châu Phi, và vụng về trong cách theo đuổi các nguồn tài nguyên dầu mỏ và khoáng sản; nhưng thay vào đó, họ đã tạo ra điều mà Josh Kurlantzick (2007) gọi là “chiến dịch quyến rũ” đa diện thông qua việc cung cấp viện trợ nước ngoài và dành sự chú ý đặc biệt cho các lãnh đạo châu Phi. Tương tự như vậy, họ đã có thể phớt lờ châu Âu và dựa chủ yếu vào quyền lực cứng trên khắp eo biển Đài Loan. Dù rằng các chiêu thức hấp dẫn của Trung Quốc đã và đang mang lại những kết quả trái ngược nhau, nhưng nó đã được tiến hành dựa trên một quá trình xem xét công phu với hàng loạt các công cụ quyền lực quốc gia.

Tuy nhiên, hiện nay sự khao khát quyền lực thông minh không chỉ đến từ những lựa chọn hay hoặc dở của cá nhân các nhà lãnh đạo. Ngay cả khi chính quyền Mỹ không để lộ quá nhiều điểm yếu, thì các xu hướng thế tục mang tính lâu dài vẫn sẽ khơi dậy những nhu cầu về một cách thức mới trong việc lên ý tưởng và thực thi quyền lực nhà nước. Nói tóm lại, các nước G8 đang tăng tốc quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế hậu công nghiệp, nơi mà quyền lực ngày càng phụ thuộc vào năng lực của quốc gia trong việc tạo ra và vận hành tri thức và thông tin. Khả năng sáng tạo và đổi mới của một quốc gia có thể ưu trội hơn việc sở hữu các sư đoàn thiết giáp hoặc tàu sân bay, và những công cụ công nghệ cao đời mới có thể giúp tăng cường đáng kể tầm ảnh hưởng quân sự và phi quân sự. Các lực lượng quân đội và vũ trang vẫn rất quan trọng, nhưng vai trò tương đối của họ đã thay đổi hoàn toàn, cả về cách thức quân đội tiến hành chiến tranh cũng như sự kết hợp giữa các nguồn lực quân sự và phi quân sự. Thế giới của những cuộc chiến đã được số hóa nhiều hơn, mang tính liên kết và linh động hơn, và các nguồn lực phi quân sự như truyền thông đã nổi lên giữa hàng loạt các công cụ quyền lực nhà nước (Arguilla and Ronfeldt 1999).

Các nước phát triển đang có mọi thứ, từ bom thông minh, điện thoại thông minh đến blog thông minh. Và khi các quốc gia trở nên thông minh hơn trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông trên nhiều nền tảng khác nhau, thì các lực lượng phi quốc gia như Al Qaeda cũng vậy (Brachman 2006; Thomas 2003). Bất kỳ chủ thể nào có tham vọng củng cố vị thế trên trường quốc tế đều phải xây dựng chiến lược xoay quanh những nguyên tắc cơ bản mới về “sự thông minh” này.

Các chiến lược thông minh cũng cần phải tính đến tầm ảnh hưởng đang thay đổi giữa các quốc gia truyền thống, với sự trỗi dậy của Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil, và các chủ thể khác trên trường quốc tế kể từ khi hai phe đối địch trong Chiến tranh Lạnh sụp đổ. Sức mạnh mới của các nước này đã tạo nên những trở ngại mới đối với các hành động đơn phương của các quốc gia vốn đã có vị thế của nhóm G8, trong đó có Hoa Kỳ. Việc xây dựng chính sách đối ngoại tập trung vào các tiềm năng mới của công nghệ và các lực lượng mới trên thế giới đòi hỏi mức độ tinh vi hơn so với trước đây.

Nguyên nhân cuối cùng của cuộc săn tìm quyền lực thông minh ngày nay là việc đối tượng dân chúng cũng trở nên “thông minh hơn”. Với sự phổ biến của giáo dục trung học và đại học, cũng như tính khả dụng của các phương tiện thông tin đại chúng, người dân ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh ngày càng trở nên giàu có, sành sỏi và hiểu biết hơn về bản thân và xã hội, và ít bị ảnh hưởng dễ dàng bởi việc thực thi quyền lực mềm hoặc cứng. Tầng lớp người dân có học thức mới này đòi hỏi phải được đối xử khác so với trước đây; khi thế giới quanh họ ngày càng trở nên đô thị hóa và tầng lớp trung lưu ngày càng đông, thì các cá nhân ngày càng có lập trường quyết đoán hơn. Sự lan rộng của các thực tiễn dân chủ này đồng nghĩa với việc các nhà lãnh đạo nước ngoài cũng ít có khả năng hơn so với trong quá khứ trong việc thay mặt Mỹ, đại diện từ xa cho người Mỹ và cho các quyền lực của Mỹ. Chế độ dân chủ đặt ra nhiều khó khăn rõ rệt trong việc xây dựng và thực hiện chính sách đối ngoại của Mỹ tương tự như những cơ hội mà nó đem lại.

Nói tóm lại, thế giới đã và đang trở nên thông minh hơn, và các giới chức ngoại giao cấp cao của Mỹ vẫn chưa thể bắt kịp nhịp độ. Mãi cho đến gần đây, các quan chức chính quyền tổng thống Bush mới thể hiện sự miễn cưỡng hoặc bất lực trong việc hình thành và thực thi quyền lực một cách sáng tạo, phù hợp với thời đại, và tổng hợp sức mạnh của các công cụ quyền lực khác nhau của nhà nước. Điều này đã chứng tỏ vấn đề của cả hai đảng, khi chính quyền đảng Dân Chủ trước đây cũng không phải là hình mẫu về quyền lực thông minh, với nhiều sai lầm nghiêm trọng trong những nỗ lực ban đầu nhằm kết hợp sức mạnh quân sự, kinh tế và các ảnh hưởng ngoại giao.

định nghĩa và khái niệm hoàn chỉnh hơn về ý nghĩa của quyền lực cứng và quyền lực mềm;

chú trọng nhiều hơn đến những bối cảnh thực tế về thể chế – nhấn mạnh đến những phương thức mà các khái niệm này được thực thi;

nỗ lực có tính hệ thống hơn để hợp nhất các động lực chính trị thực tiễn – gắn liền với những chuyển dịch hướng tới học thuyết quyền lực thông minh, cũng như nỗ lực mạnh mẽ hơn nhằm can dự về mặt chính trị với các vấn đề một cách nhất quán và hiệu quả.

Nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc triển khai quyền lực cứng và mềm một cách riêng lẻ, và kết hợp chúng thành quyền lực thông minh, chúng ta phải khắc phục được ba vấn đề như sau: cung cấp các định nghĩa chính xác và chi tiết hơn, phân tích cẩn thận các thể chế của quyền lực cứng và mềm, và nhìn nhận rõ ràng hơn nữa về những động lực chính trị cần thiết để hỗ trợ kết hợp quyền lực cứng và mềm trong việc tạo ra quyền lực thông minh.

Những thách thức về định nghĩa và khái niệm

Trong chính trị quốc tế, có “quyền lực” nghĩa là có khả năng khiến một chủ thể, không còn cách nào khác, phải hành động theo những cách thức mà mình mong muốn. Quyền lực cứng là khả năng ép buộc họ phải làm như vậy. Các chiến lược của quyền lực cứng tập trung vào can thiệp quân sự, ngoại giao cưỡng bức và trừng phạt kinh tế để gia tăng lợi ích quốc gia (Art 1996; Campbell and O’Hanlon 2006; Cooper 2004; Wagner 2005). Theo các bài viết học thuật, cách tiếp cận theo chủ nghĩa tân hiện thực có xu hướng nhấn mạnh vào quyền lực cứng, đặc biệt là quyền lực cứng của các quốc gia, trong khi đó các học giả theo chủ nghĩa tự do lại nhấn mạnh vào quyền lực mềm như là nguồn lực chính trong nghệ thuật quản lý đất nước (cùng với sức mạnh thiết lập luật chơi – yếu tố thường bị bỏ qua một cách kỳ lạ trong những cuộc đối thoại hiện nay về quyền lực cứng và mềm).

Tái định hình vấn đề

Bài viết này định nghĩa quyền lực thông minh là khả năng một chủ thể kết hợp các thành tố quyền lực cứng và quyền lực mềm thông qua các phương thức tác động qua lại nhằm đạt được mục đích mình mong muốn một cách hiệu quả.

Mục tiêu mà chủ thể hướng tới khi thực hiện quyền lực – bản chất bên trong và bối cảnh toàn cầu rộng hơn của nó. Quyền lực không thể gọi là thông minh khi những người sử dụng nó không biết gì về nhóm đối tượng và các khu vực mục tiêu.

Nhận thức về bản thân của chủ thể, cũng như hiểu biết về những mục đích và khả năng của họ. Quyền lực thông minh đòi hỏi người sử dụng nó phải biết rõ đất nước hoặc cộng đồng của họ đang tìm kiếm điều gì, cũng như ý chí và khả năng đạt được mục tiêu của họ.

Bối cảnh khu vực và quốc tế, trong đó hành động sẽ được thực hiện

Những công cụ được sử dụng, cũng như khi nào cần tách biệt hoặc kết hợp chúng và bằng cách nào.

Cuối cùng, cách tiếp cận quyền lực thông minh thực sự công phu cần đi cùng nhận thức rằng quyền lực cứng và mềm không chỉ đơn thuần tạo ra những “công cụ” trung tính phục vụ cho một lãnh đạo ý chí sáng suốt, thông thái và độc lập; mà bản thân các công cụ đó cũng tự tạo nên các thể chế riêng biệt và độc lập, kèm theo văn hóa của các thể chế này, tự chúng cũng có thể có những ảnh hưởng riêng mang tính quy phạm với các thành viên trong đó, mỗi cá thể lại có những quan điểm, động cơ và con đường sự nghiệp được tính trước.

Bài Giảng: Quyền Lực Chính Trị / 2023

Published on

I. Quyền lực 1. Khái niệm quyền lực 2. Tính chất của quyền lực 3. Phân loại quyền lực 4. Phương thức giành quyền lực II. Quyền lực chính trị 1. Khái niệm quyền lực chính trị 2. Đặc trưng cơ bản của quyền lực chính trị 3. Các chủ thể của quyền lực chính trị 4. Các yếu tố đảm bảo giành, giữ, thực thi QLCT III. Kết luận

Nghiêu làm thường dân thì không trị nổi ba nhà, Kiệt làm vua có thể hại cả thiên hạ; Tài- Đức (Dũng cảm, bản lĩnh, mưu lược, cảm thông, chia sẻ, trung thực, vì người khác.. ; Khác với con người, con trăn khi no mồi thì nó ngủ yên; Người thành đạt: Ko chỉ là IQ, mà là EQ (Emotional Quotient): Khả năng nhận thức, hiểu, truyền đạt và quản lý cảm xúc; Kyc năng giao tiếp, hòa đồng với mọi người, kỹ năng ứng xử, làm việc nhóm, chia sẻ, dám chịu trách nhiệm,

Các hiệp sỹ bắt cướp ở Bình Dương (có người đã bị chết, có người bị thương, bị chặn đánh => Họ tay không, không có vũ khí, không có quyền dừng xem bắt người, chỉ hành đông khi bắt quả tang đối tượng

Tiền ăn học của người em hoàn toàn do người anh cung cấp, người anh có quyền lực mạnh đối với ngươi em, vì sự phụ thuộc vào nguồn cung duy nhất. Nhưng khi người đó ra trường, có công việc và kiếm được tiền, quyền lực của người anh sẽ giảm đi đáng kể; Khi một người sở hữu cái mà những người khác đều muốn, nhưng chỉ riêng người đó có quyền kiểm soát, thì người sở hữu thứ đó sẽ lập tức có quyền lực vì những người khác sẽ phụ thuộc vào anh ta. Ngược lại, nếu người đó sở hữu một cái gì mà những người khác cũng có thì việc sở hữu nó không làm tăng quyền lực. Trong một tổ chức tất cả mọi người đều thông minh, thì sự thông minh không đem lại lợi thế cho ai. Trong số những người siêu giàu thì tiền bạc không phải là quyền lực. Nó lý giải tại sao trong số chúng ta nhiều người muốn có được sự độc lập về tài chính; thích làm việc ở những ngành độc quyền, những vị trí công việc mang tính độc quyền

Dùng nhục hình, tra tấn để buộc nghi phạm phải cung cấp thông tin. Vật chất và tinh thần, đề bạt lên chức vụ cao hơn (nhị bính): thiếu một trong hai yếu tố này, sẽ thiếu thực quyền

Quyền của bác sỹ đối với bệnh nhân, Vừa rôi, sau vụ tài Bình Minh ii, hàng trăm trang mạng của Trung Quốc bị đánh sập -Chuyên gia mạng….

Các quốc gia bên cạnh sức manh kinh tế, quân sự còn tìm cách tăng cường sức mạnh mềm, dùng văn hóa để tạo nên sự hấp dẫn đối với các quốc gia khác (320 Viện Khổng tử (1/5 là ở Mỹ); ĐỨc có Viện Gớt, Nga có viện Puskin, Văn hóa Mỹ: quần bò, áo phông, uống Coocacola, ăn fast food của Mc Donal, nghe nhạc rock, xem phim Mỹ (sex and city, American beauty, nghe nhạc rock;;;; Quyền lực tư tưởng của nhà thờ:Một bức tranh biếm họa thánh Ala ở Na Uy có thể dẫn đến cuộc chiên tranh thế giới thứ ba; Cuộc chiến của lực lượng Hồi giáo cực đoan chống lại phương Tây (11/90

Giáo sư trường Havard Kenedy School

Tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 nhận 8/2011

Tính chính đáng không chỉ là sự hợp pháp; vì có những đạo luật không bảo vệ quyền dân chủ của dân, không có đạo lý; có những hành động bất hợp pháp nhưng lại chính đáng (Đảo chính, làm cách mạng tháng Tám); Hợp pháp: ủy quyền (Hồ Chí Minh và bầu cử năm 1946, bầu cử ở Thái Lan…); Một quyết định chậm cũng là một quyết định sai

Quyền uy là cái gì rất khó chịu, phải phục tùng, nhưng có thể không có nó được không…Nó tất yếu phải tồn tại.. Cách mạng trong tương lai: cùng với nhà nước, quyền uy chính trị sẽ mất đi tính chất chính trị và mât đi những chức năng quản lý đơn thuần chăm lo lợi ích xã hội

Thủ tướng chọn các bộ trưởng. Bộ trưởng có thể lựa chọn người dưới quyền mình không? Để chiu trách nhiệm.

1. Quyền lực chính trị GVC: TS. Trịnh Thị Xuyến xuyentrinhthi@gmail.com Viện Chính trị học, Học viện CTQG HCM

2. Câu hỏi khởi động 1. Điều gì khiến cho một mệnh lệnh được thực thi?

3. Nội dung  I. Quyền lực  1.1. Khái niệm quyền lực  1.2. Tính chất của quyền lực  1.3. Phân loại quyền lực  1.4. Phương thức giành quyền lực  II. Quyền lực chính trị  2.1. Khái niệm quyền lực chính trị  2.2. Đặc trưng cơ bản của quyền lực chính trị  2.3. Các chủ thể của quyền lực chính trị  2.4. Các yếu tố đảm bảo giành, giữ, thực thi QLCT  III. Kết luận

4. I. Quyền lực  Tính phổ quát của các quan hệ quyền lực – Con người luôn nằm trong nhiều phân hệ quyền lực khác nhau: – Tùy vào mối quan hệ cụ thể, một chủ thể có QL hay là đối tượng quyền lực của chủ thể khác – Mọi tổ chức (kể cả tổ chức phi chính trị) đều có thể coi là một cách tổ chức quyền lực (cách thức ra quyết định và thi hành quyết định)

5. 1.1.Khái niệm quyền lực  Tiếp cận quyền lực từ góc độ cá nhân: – Pháp gia: Quyền lực cá nhân phụ thuộc vào “thế” của anh ta trong xã hội (vị trí) – Quyền lực có được do những phẩm chất cá nhân – B. Russell: Những biến đổi căn bản trong xã hội là do lòng đam mê quyền lực của các thủ lĩnh  Tiếp cận quyền lực từ góc độ xã hội: Các nhóm, các giai cấp khác nhau trong xã hội – K.Marx: giai cấp – Max Weber: giai cấp, tôn giáo, …

6. 1.2. Khái niệm quyền lực  R.Dalh: Quyền lực là cái mà nhờ đó người khác phải phục tùng  Mao: Quyền lực là thứ được phát ra từ nòng súng  A.Toffler: Quyền lực là năng lực buộc người khác phải hành động theo ý của mình ® Quyền lực là năng lực của một chủ thể buộc chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình, bất kể sự kháng cự. ® A buộc B làm C (quan sát được)

8. 1.2. Khái niệm quyền lực  Một quan hệ quyền lực gồm: – i) nguồn gốc hoặc cơ sở của quyền lực – ii) các phương tiện hoặc công cụ được sử dụng để thực hiện quyền lực – iii) tổng số (lượng) hoặc mức độ quyền lực – iv) lĩnh vực, hoặc phạm vi quyền lực

10. 1.3.Tính chất của quyền lực  Quyền lực là một mối quan hệ mang tính phụ thuộc: – A có quyền lực như thế nào phụ thuộc vào: Nhận thức của B Năng lực chống đối của B – Một người thường có quyền lực đối với người khác khi anh ta kiểm soát cái mà người kia muốn – Để tạo ra sự phụ thuộc, người ta phải kiểm soát những gì được xem là quan trọng

11. 1.4. Phân loại quyền lực  Dựa trên hình thức của quyền lực: French và Raven (1959) 1. Quyền lực cưỡng bức: buộc người khác làm điều họ không muốn. Quyền lực này dựa trên sự sợ hãi; 2. Quyền lực ban thưởng: Quyền ban thưởng cho người khác vì hoàn thành một công việc được giao 3. Quyền lực hợp pháp: Quyền lực có được nhờ vị trí mà người đó nắm giữ. Người dưới quyền tuân thủ vị trí, chứ không phải con người.

12. 1.4. Phân loại quyền lực 4. Quyền lực tham chiếu: Quyền lực có được nhờ mối quan hệ với người có quyền lực 5. Quyền lực chuyên gia: Quyền lực có được nhờ thuần thục những kỹ năng nhất định và đáp ứng được yêu cầu của một tổ chức nào đó

13. 1.4. Phân loại quyền lực  Dựa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: 1. Quyền lực chính trị 2. Quyền lực kinh tế 3. Quyền lực văn hóa 4. Quyền lực tôn giáo 5. Quyền lực gia đình  Dựa vào cấp độ của quyền lực: – Quyền quyết đinh – Quyền phủ quyết – Quyền xác lập nghị trình

14. 1.4. Phân loại quyền lực  Dựa vào hình thái quyền lực: Quyền lực cứng và quyền lực mềm (Joseph S. Nye) – Quyền lực cứng (hard power): sức mạnh; vị trí – Quyền lực mềm (soft power): là quyền lực có được nhờ những phẩm chất, sự hấp dẫn cá nhân – Quyền lực thông minh (smart power) = kết hợp nhuần nhuyễn Quyền lực cứng + Quyền lực mềm phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

15. 1.5. Phương thức giành quyền lực Quan điểm của A.Toffler: có ba cách giành quyền lực: 1. Bạo lực Trí tuệ 2. Của cải 3. Trí tuệ Bạo lực Của cải Tam giác vàng quyền lực Ba phương thức này có sự chuyển hóa lẫn nhau

17. II. Quyền lực chính trị 2.1. Khái niệm – Quyền lực công: quyền lực chung của cộng đồng, xã hội – Quyền lực chính trị: là năng lực của một chủ thể chính trị (một công dân, một chính khách, một nhóm lợi ích, một đảng hoặc chính phủ …) tác động nhằm thay đổi hành vi của các chủ thể chính trị khác. – Quyền lực nhà nước: là quyền lực công được tổ chức thành nhà nước, nằm trong tay một một giai cấp, lực lượng nhất định trong xã hội. QLNN có tính độc quyền cưỡng chế hợp pháp, được xã hội thừa nhận (bộ máy quân đội và an ninh).

18. 2.2. Đặc trưng cơ bản của QLCT 1. Quyền lực luôn cần có tính chính đáng – Tính chính đáng (legitimacy): là sự chấp nhận quyền lực một cách tự nguyện, sự đồng tình của người dân đối với người cai trị, chế độ cai trị. – Quyền lực nào là quyền lực chính đáng? 1. Tính công ích 2. Tính hợp lệ, hợp pháp 3. Tính hợp lý ( khoa học và hiệu quả trong sử dụng quyền lực)

20. 2.2. Đặc trưng cơ bản của QLCT 3. Quyền lực chính trị mang tính giai cấp – QLCT của giai cấp tmạnh nhất trọng xã hội được tổ chức thành nhà nước. – Nhà nước trở thành công cụ, phương tiện để tiếp tục thực hiện sự thống trị giai cấp

22. 2.2. Đặc trưng cơ bản của QLCT 5. Quyền lực chính trị (QLNN) cần được tập trung đủ mức – Về nguyên tắc, quyền lực cần được tập trung đủ mức; nếu không, quyết định, mệnh lệnh của người cầm quyền đưa ra khó có thể được thi hành, hoặc thi hành không triệt để – Thiếu quyền lực có thể dẫn đến những hệ quả tiêu cực: tính hiệu lực của các quyết định, sự vô trách nhiệm của những người nắm quyền

24. 2.3. Các chủ thể của QLCT Các chủ thể:  Xuất phát từ sự phân bổ các giá trị, lợi ích giữa các chủ thể quyền lực 1. Bộ phận hợp thành chủ thể quyền lực quốc gia: nhà nước, đảng cầm quyền, quan chức chính phủ, giai cấp thống trị… 2. Chủ thể quyền lực có sự kiềm chế với hệ thống quyền lực quốc gia: đảng đối lập, nhóm lợi ích, đoàn thể xã hội, giai cấp bị trị…

26. 2.4. Các nhân tố bảo đảm cho việc giành, giữ và thực thi QLCT (tiếp) 3. Phải tuyển lựa được những con người chính trị: tinh hoa thực sự – Cơ chế tuyển lựa dân chủ, khoa học; – Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng… 3. Có phương thức và nghệ thuật hoạt động chính trị – Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, phát huy tính tích cực chính trị – Huy động xã hội: dân chủ tham gia, tạo sự đồng thuận

27. Kết luận 1. Quyền lực là một hiện tượng phổ biến và tất yếu trong đời sống xã hội 2. Tính chính đáng là tính chất quan trọng nhất của bất kỳ quyền lực nào 3. Trong quá trình thực hiện, quyền lực chính trị (QLNN) cần được tập trung đủ mức và phải được kiểm soát 4. Một giai cấp, lực lượng xã hội muốn giành, giữ và thực thi quyền lực cần phải: xác định được mục tiêu đúng; cách thức đạt mục tiêu; có hệ thống tổ chức đủ mạnh để hiện thực hóa mục tiêu của mình.

28. Tổng hợp Giáo trình – Bài giảng: http://caocaplyluan.blogspot.com

Biển Đông: Cân Bằng Quyền Lực Và Lợi Ích Của Chúng Ta / 2023

Việc xác định rõ các mối quan hệ với các siêu cường trong một thế giới đầy biến động và cực kỳ phức tạp như hiện nay ở Biển Đông nói riêng và trên thế giới nói chung cần hết sức uyển chuyển, khai thác tối đa các mối quan hệ trong tương quan quyền lực này để phục vụ cho lợi ích dân tộc.

Báo South China Morning Post của Hồng Kông công bố thông tin Trung Quốc đang xây dựng một trạm ra đa cực mạnh ở Biển Đông được cho là có khả năng làm gián đoạn các hệ thống thông tin liên lạc, can thiệp thời tiết và thậm chí gây ra thiên tai, có phạm vi hoạt động đến tận Singapore cách đó 2.000 km.

Công nghệ này có những ứng dụng dân sự lẫn quân sự, nhưng nguy hiểm nhất phải kể đến khả năng (trên lý thuyết) can thiệp vào thời tiết, gây ra thiên tai trên diện rộng như bão, động đất, sóng thần… dù điều này vẫn còn gây tranh cãi trong giới khoa học.

Trước đó, ngày 31/5/2018, Trung tướng Kenneth McKenzie, Giám đốc Liên quân thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đã đưa ra tuyên bố cứng rắn đối với việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, và lần này là khả năng có thể “xóa sổ” các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh bồi đắp trái phép.

Cả hai sự kiện này đều nhắc nhở chúng ta rằng: sự hình thành một kỷ nguyên đa cực từ đầu thế kỷ đang lớn dần trong một thế giới đầy nguy hiểm với cách hành xử nhiều khi bất chấp luật pháp quốc tế.

Càng ngày Trung Quốc càng muốn chứng tỏ họ đã bắt đầu áp đặt luật chơi. Đây là hành động được tính toán rất kỹ và có tính chiến lược lâu dài của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Đồng thời với hành động này Bắc Kinh muốn trực tiếp gửi đến Tổng thống Mỹ Donald Trump một “cảnh báo” rằng tại vùng biển Đông, Trung Quốc mới là “bá chủ”.

Tác động lên tầng điện ly để gây bão là một trong những tính năng ghê gớm của vũ khí thời tiết (Ảnh NASA)

Tham vọng của Trung Quốc sẽ không bao giờ dừng lại một khi Biển Đông chưa là “cái ao nhà” của họ. Bởi vì Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng trên thế giới, chỉ đứng sau Địa Trung Hải.

Biển Đông là nơi tất yếu phải qua của nhiều tuyến đường vận tải biển quốc tế, là hành lang nối liền Thái Bình dương với Ấn Độ dương, Đông Á với châu Đại Dương. Biển Đông còn là chốt giữ nhiều eo biển quan trọng như Malacca, Sunda, Lombok, có vị trí chiến lược hết sức quan trọng. Nơi đây còn có một trữ lượng dầu mỏ lên tới 1 tỷ tấn. Ngoài ra còn có trên 20 ngàn loài sinh vật biển.

Với vị trí then chốt giao thông quan trọng và nguồn tài nguyên khổng lồ ấy thực sự là “miếng mồi” quá hấp dẫn đối với một quốc gia có gần 1,5 tỷ người như Trung Quốc. Đây là vấn đề mà không một quốc gia châu Á nào không biết. Và cụ thể hơn, không một quốc gia châu Á nào không ý thức được, nếu không kiềm chế được tham vọng của Trung Quốc thì sẽ hết sức nguy hiểm.

Lợi ích của người Mỹ

Vậy Mỹ có lợi ích gì ở khu vực Biển Đông không? Câu trả lời là có, rất nhiều là khác! Trong 16 tuyến đường thủy chiến lược toàn cầu mà Mỹ công khai tuyên bố phải kiểm soát, có 3 tuyến nằm ở khu vực Biển Đông. Đó là các eo biển Malacca, Sunda và Lombok. Mỹ là nước thương mại lớn nhất trên thế giới, trên 90% hoạt động thương mại cần phải đi qua vùng Biển Đông. Chính vì vậy mà không ngạc nhiên gì, trong chiến lược “Trở lại Chấu Á-TBD” Mỹ đã nhiều lần tuyên bố “Mỹ là quốc gia TBD”. Năm 2011 Chính quyền Obama tuyên bố rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-TBD với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là sự “Xoay trục về châu Á”.

Cho dù, trong thời gian tranh cử cũng như khi lên cầm quyền tân Tổng thống Donald Trump có tuyên bố gì đi chăng nữa thì Hoa Kỳ cũng không thể không quan tâm đến tình hình biển Đông.

Để cân bằng quyền lực và đảm bảo an ninh khu vực Châu Á- TBD rất cần sự hiện diện của người Mỹ. Không ai ngây thơ đến mức nghĩ rằng Hoa Kỳ tới châu Á chỉ là để bảo vệ các quốc gia ở khu vực này và Mỹ không có lợi ích gì ở đây. Tuy nhiên có một thực tế là trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Với Trung Quốc chỉ có Hoa Kỳ- kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN- mới có thể đối trọng lại được nước này.

Ông Lý Quang Diệu từng phát biểu rằng: “Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên TBD giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides (sử gia Hy Lạp, đồng thời là tác giả cuốn sách “Lịch sử chiến tranh”) đã từng viết rằng, “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”.

Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á- TBD đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị”.

Tóm lại với vai trò là các nước nhỏ Việt Nam cũng như các nước ASEAN khác chỉ có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực Biển Đông. Môi trường đó chỉ tồn tại một khi có sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này, hay nói đúng hơn là có sự cân bằng, kiềm chế lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc, và ở mức độ thấp hơn là Nga.

Trung tướng Kenneth McKenzie – Giám đốc Liên quân Bộ QP Mỹ (Ảnh REUTERS)

Việt Nam cần phải làm gì?

Trước hết chúng ta hãy xem nước được coi là có tốc độ phát triển nhanh và bền vững nhất ở khu vực là Singapore đã xử lý vấn đề này như thế nào?

Ông Lý Quang Diệu từng khái quát một cách tổng thể: “Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á-TBD.

Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng tiến lại gần Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài”.

Việt Nam không phải là Singapore vì địa chính trị là khác nhau. Việt Nam không thể hành xử như người Singapore “không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia”. Tuy nhiên có một gợi ý không tồi, mà như trên chúng tôi đã phân tích “Việt Nam cũng như các nước ASEAN khác chỉ có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường có sự cân bằng, kiềm chế lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc”. Vì vậy điều quan trọng là việc phát triển quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ, nhất là về an ninh và quốc phòng cần phải tính toán một cách kỹ lưỡng.

Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, nếu coi Trung Quốc là ” đối tượng không thể hợp tác được” sẽ là cực đoan. Việc xác định rõ các mối quan hệ với các siêu cường trong một thế giới đầy biến động và cực kỳ phức tạp như hiện nay ở Biển Đông nói riêng và trên thế giới nói chung cần hết sức uyển chuyển, khai thác tối đa các mối quan hệ trong tương quan quyền lực này để phục vụ cho lợi ích dân tộc.

Nhà báo Lê Thọ Bình/Viettimes

lê hoàng @ 08:48 23/06/2018 Số lượt xem: 41

Định Nghĩa Lực Là Gì? Lực Hấp Dẫn, Lực Đàn Hồi, Lực Ma Sát Trong Vật Lý / 2023

Số lượt đọc bài viết: 8.554

Lực là đại lượng véc tơ đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác mà kết quả tạo ra gia tốc cho vật hoặc làm vật biến dạng.

Đặc điểm của lực:

Gốc tại điểm đặt lực

Phương, chiều là phương chiều của lực

Độ dài của lực tỉ lệ với cường độ lực theo một tỉ lệ cho trước

Đơn vị: N (Niutơn)

Định nghĩa xung lượng của lực

Xung lượng của lực (hay còn gọi là xung của lực) là một đại lượng véc tơ được tính bằng tích của lực (vec{F}) và thời gian lực tác dụng lên vật (Delta t).

Đặc điểm của xung lượng của lực:

Lực cơ học là một đại lượng véc tơ có điểm đặt, phương, chiều và độ lớn.

Các lực cơ học gồm: lực hấp dẫn, lực đàn hồi, lực ma sát và lực hướng tâm.

Có điểm đặt: tại trọng tâm của vật

Cùng phương ngược chiều

Biểu thức: (F_{hd}= G times frac{m_{1}times m_{2}}{R^{2}})

Trong đó: Fhd: lực hấp dẫn m1, m2: khối lượng của 2 vật R: khoảng cách giữa 2 chất điểm G: hằng số hấp dẫn

Có phương trùng với lực của lò xo

Có chiều chống lại sự biến dạng

Trong đó:

k: hệ số đàn hồi của lò xo (Delta l): độ biến dạng của lò xo

Gồm lực ma sát trượt, ma sát nghỉ và ma sát lăn. Nhưng chủ yếu và phổ biến nhất là lực ma sát trượt. Có điểm đặt lên vật sát bề mặt tiếp xúc. Có phương song song với bề mặt tiếp xúc. Có chiều ngược chiều với chiều chuyển động tương đối so với bề mặt tiếp xúc. Biểu thức : (F_{mst}= mu_{t}times N) Trong đó :

(mu_{t}) :Hệ số ma sát phụ thuộc vào bề mặt tiếp xúc của 2 vật N: áp lực của hai vật

Có điểm đặt lên vật.

Có phương trùng với đường thẳng nối vật và tâm quỹ đạo.

Có chiều từ vật hướng vào tâm quỹ đạo.

Biểu thức : (F_{ht}= mtimes a_{ht} = mtimes frac{v^{2}}{r} = mtimes omega^{2} times r)

r là bán kính quỹ đạo. m là khối lượng vật (kg). (omega) là tần số góc của chuyển động (rad/s). v là vận tốc dài của chuyển động (m/s).

Please follow and like us:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quyền Lực Cứng, Quyền Lực Mềm, Quyền Lực Thông Minh / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!