Đề Xuất 2/2023 # Quyền Hành Pháp Theo Hiến Pháp Năm 2013: Những Vấn Đề Cần Tiếp Tục Hoàn Thiện # Top 11 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Quyền Hành Pháp Theo Hiến Pháp Năm 2013: Những Vấn Đề Cần Tiếp Tục Hoàn Thiện # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quyền Hành Pháp Theo Hiến Pháp Năm 2013: Những Vấn Đề Cần Tiếp Tục Hoàn Thiện mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt: Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định và bước đầu đặt nền móng cho việc tổ chức quyền hành pháp ở nước ta. Sau 5 năm thi hành Hiến pháp, xuất hiện những vấn đề đặt ra trong việc quán triệt nhận thức về quyền hành pháp, về triển khai tổ chức thực hiện quyền hành pháp. Bài viết đi sâu tìm hiểu về những vấn đề đó nhằm góp phần hoàn thiện nhận thức và tổ chức quyền hành pháp ở nước ta hiện nay.

Từ khóa: Chính phủ; quyền hành pháp; Hiến pháp năm 2013; tổ chức quyền lực nhà nước.

Abstract: The Constitution of 2013 affirmed and initially set the ground for the organization of the executive power in our country. After 5 years of enforcement of the Constitution, a number of matters has raised in grasping the awareness of the executive power and the exercise of the executive powers. This article provides analysis in depth of the mentioned-above issues in order to further increase the awareness and improve the organization of the executive power in our country.

Keywords: Government; executive power; Constitution of 2013, organization of state power.

1. Quyền hành pháp và tổ chức quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 2013 1.1 Quan niệm về quyền hành pháp

Xét về mặt lịch sử, quyền hành pháp (executive power) gắn liền với cơ chế phân quyền và ra đời muộn vào thế kỷ 17 – 18 cùng với sự xác lập cơ chế nhà nước đại nghị tư sản. Đến giai đoạn hiện đại ngày nay, trải qua một quá trình phát triển, hoàn thiện, nội hàm quyền hành pháp thể hiện trong hai bộ phận cấu thành cơ bản là: hoạch định chính sách và điều hành chính sách nhà nước. Ở Việt Nam, khái niệm quyền hành pháp xuất hiện chính thức trong các văn kiện chính trị – pháp lý bắt đầu từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991): “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với sự phân công rành mạch ba quyền đó” 1. Đại hội Đảng lần thứ VIII (năm 1996) đã chuẩn hóa lại và sau đó được ghi vào Hiến pháp năm 1992 (tại lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2001): “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” 2. Đại hội Đảng lần thứ XI (năm 2011) bổ sung thêm nội dung “và kiểm soát quyền lực” sau từ phối hợp và được ghi nhận vào Hiến pháp năm 2013 (Điều 2). Hiến pháp quy định: Quốc hội “thực hiện quyền lập hiến, lập pháp…” (Điều 69); Chính phủ “thực hiện quyền hành pháp…” (Điều 94); Tòa án nhân dân “thực hiện quyền tư pháp…” (Điều 102). Hiến pháp không quy định chỉ Chính phủ mới có chức năng hành pháp, và cũng không chỉ ra Chính phủ là cơ quan hành pháp mà vẫn là “cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” như các Hiến pháp trước.

Vậy hiểu quyền hành pháp ở Việt Nam như thế nào?Về mặt học thuật, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu nước ta đã trình bày quan điểm của mình về quyền hành pháp. Vận dụng kinh nghiệm về tổ chức nền hành pháp các nước trên thế giới áp dụng vào điều kiện đổi mới mà Việt Nam đang hướng tới, các ý kiến đều cho rằng quyền hành pháp là “quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia với những cấu phần cơ bản của quyền hành pháp là: quyền trình dự án luật, quyền lập quy và quyền truy tố, xử lý các vi phạm pháp luật; hành pháp phân biệt với hành chính là “hoạt động chấp hành chính sách của các công chức”; quyền hành pháp là “quyền năng trực tiếp trong hoạch định, đệ trình chính sách và thực thi chính sách.” Quyền này bao gồm: Chính phủ đề xuất chính sách, pháp luật để Quốc hội phê chuẩn, thông qua, để rồi theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ lại thực thi chính sách, pháp luật, truy tố tội phạm và đưa các hành vi vi phạm pháp luật (công tố) để tòa án xét xử. Còn hành chính chỉ là một phương diện của hành pháp. Nếu hành pháp là hoạch định, đề xuất chính sách và định hướng vĩ mô thì hành chính là “triển khai thực hiện chính sách đó”; “Chính phủ không phải chỉ có chấp hành (hành chính) mà trước hết là hành pháp, tức là chủ thể chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng và thực thi chính sách quốc gia. Trong mối quan hệ với Quốc hội, Chính phủ là người xây dựng chính sách, pháp luật, Quốc hội là người kiểm tra, giám sát các chính sách, pháp luật đã được thông qua…” 3.

Có thể thấy rằng, quan niệm lý luận về quyền hành pháp ở Việt Nam đang tiệm cận với quan niệm phổ quát trên thế giới. Có sự đồng thuận khá cao giữa các nhà nghiên cứu ở Việt Nam khi cho rằng, quyền hành pháp tuy về nguyên nghĩa là chấp hành và tổ chức thực thi các đạo luật nhưng không đơn thuần chỉ là sự chấp hành các đạo luật một cách thụ động. Quyền hành pháp ngày nay không chỉ là công việc điều hành chính sách quốc gia mà còn phải thực hiện công việc hoạch định chính sách quốc gia (để cơ quan lập pháp phê chuẩn chính sách một cách chính thức hoặc tự quyết định những chính sách thuộc thẩm quyền của hành pháp bằng quyền lập quy độc lập hoặc lập pháp ủy quyền). Về mặt lý luận, hành pháp và hành chính là hai khái niệm có những điểm khác biệt. Khái niệm hành chính dùng để chỉ hoạt động chấp hành chính sách của các công chức. Khái niệm hành pháp dùng để chỉ hoạt động hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Quan chức chính phủ chính là những người hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Quyền trình dự án luật, trình các chương trình phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, quyền ban hành văn bản pháp quy và quyền xử lý hoặc đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật đều thuộc phạm vi quyền hành pháp. Chủ thể quan trọng nhất thực hiện quyền hành pháp là Chính phủ (Thủ tướng và các thành viên Chính phủ). Việc thực hiện các công việc cụ thể thuộc nội hàm của “hành pháp” ngoài Chính phủ còn bao gồm các cơ quan cấp dưới của Chính phủ.

1.2 Sự thể hiện quyền hành pháp trong mô hình tổ chức quyền lực nhà nước theo Hiến pháp năm 2013 a) Vị trí, tinh chất của Chính phủ được xác định lại theo hướng cơ quan thực hiện quyền hành pháp

Hiến pháp năm 2013 xác định lại vị trí, tính chất của Chính phủ, đưa lên hàng đầu tính chất là cơ quan hành chính riêng biệt, độc lập: “Chính phủ là cơ quan HCNN cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam…”.

Tiếp đến, Hiến pháp đã ghi nhận một chức năng, nhiệm vụ có tính chất nổi bật và cũng là quan trọng nhất của Chính phủ, đó là “thực hiện quyền hành pháp”. Quy định Chính phủ thực hiện quyền hành pháp bao hàm cả vị trí của Chính phủ trong phân công thực hiện quyền lực nhà nước, và chức năng hành pháp của Chính phủ.

Nói Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, trước hết là nói đến việc phân công quyền lực (phân quyền) giữa các nhánh quyền lực nhà nước, theo đó, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Giữa 3 cơ quan (3 nhánh quyền lực) này có sự phối hợp và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực được trao. Nói cách khác, trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, tương ứng với quyền lập hiến, lập pháp thuộc về Quốc hội và quyền tư pháp thuộc về Tòa án nhân dân. Sự phân công quyền lực này vừa bảo đảm tính thống nhất, vừa bảo đảm tính phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, trên cơ sở hướng tới sự cân bằng và bảo đảm sự thông suốt của quyền lực. Đây là bước tiến có tính đột phá trong lịch sử lập hiến ở nước ta. Quy định Chính phủ là cơ quan thực hiện hành pháp mang lại cho Chính phủ một vị thế mới trong bộ máy nhà nước, bảo đảm tính độc lập tương đối hơn trong quan hệ với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp. Theo đó, tạo cơ sở tăng cường tính chủ động, linh hoạt và tính sáng tạo của Chính phủ trong hoạt động, đồng thời, thiết lập tiền đề khách quan cho việc Chính phủ có thể kiểm soát đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp. Với chức năng thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ thực hiện việc hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, tổ chức thực hiện Hiến pháp và pháp luật để duy trì và bảo vệ trật tự cộng cộng, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp vẫn tiếp tục giữ quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Tính chất là “cơ quan chấp hành của Quốc hội” của Chính phủ là việc Chính phủ có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ phải là đại biểu Quốc hội, do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chính phủ trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; chấp hành và tổ chức thi hành các đạo luật, các nghị quyết của Quốc hội. Đây là thể hiện tính chịu sự giám sát, chịu trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trước Quốc hội; là cơ sở cho việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ; là bảo đảm sự gắn bó chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội, bảo đảm tính thống nhất trong việc thực hiện quyền lập pháp và hành pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Chính phủ có trách nhiệm phải tuân thủ và thực hiện các luật, nghị quyết của Quốc hội, báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.

b) Mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan nhà nước khác được xác định lại theo tinh thần mới

Theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ, Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ “trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH)”. Quy định này có nghĩa là Chính phủ phải chủ trì soạn thảo, trình Quốc hội xem xét, ban hành các dự án luật. Nhằm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động, linh hoạt trong việc đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, Hiến pháp đã bỏ quy định về thẩm quyền của Quốc hội “quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” quy định tại Điều 84 của Hiến pháp cũ.

Riêng mối quan hệ với Tòa án – cơ quan cơ quan thực hiện quyền tư pháp và với các cấp chính quyền địa phương, mối quan hệ này chưa có thay đổi nhiều. Sự tham gia của Chính phủ – hành chính, hành pháp – đối với tư pháp chỉ có một số công việc về điều tra, thi hành án hình sự. Với chính quyền địa phương, tuy được bàn nhiều và trên thực tế cũng đã có những quy định mới về nền hành chính – hành pháp, song trong mối quan hệ giữa Chính phủ với chính quyền địa phương lại ít có nhiều điểm mới, hơn nữa, còn tồn tại nhiều những điểm không rõ. Hiến pháp vẫn giữ các quy định cũ về cơ quan chính quyền địa phương như coi Hội đồng nhân dân (HĐND là) “cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương”, Ủy ban nhân dân (UBND là “cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan HCNN ở địa phương”; HĐND vừa chịu sự “hướng dẫn, kiểm tra” của Chính phủ, vừa chịu sự “giám sát và hướng dẫn” của UBTVQH, UBTVQH có quyền giải tán HĐND cấp tỉnh. Hiến pháp không xác định được tính chất “cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” của HĐND thuộc về hành pháp hay lập pháp… Những quy định như vậy không thể hiện được vai trò chỉ đạo, lãnh đạo thống nhất của Chính phủ đối với cơ quan chính quyền địa phương như một yếu tố tất yếu của nền hành chính – hành pháp. Đồng thời, ở một khía cạnh khác lại thể hiện sự bao biện hành chính hóa, can thiệp thái quá vào các cấp chính quyền địa phương vốn đã được Hiến pháp trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Hiến pháp sửa đổi đã ghi nhận vai trò hoạch định chính sách của Chính phủ (đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, UBTVQH quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn…” (khoản 2 Điều 96); quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật (khoản 1); thi hành các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân (khoản 3 Điều 96); bổ sung quyền ban hành văn bản pháp quy của Chính phủ như một nhiệm vụ, quyền hạn độc lập để thực hiện chức năng hành pháp “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật” (Điều 100).

d) Hình thức hoạt động của Chính phủ thể hiện nổi bật cơ chế vận hành và thực thi quyền hành pháp của Chính phủ

Hiến pháp khẳng định Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ. Quy định rõ hơn nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng đối với Chính phủ, nhất là đối với hệ thống HCNN: Thủ tướng “Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật”; “Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống HCNN từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia” (khoản 1, khoản 2 Điều 98). Với các sửa đổi, bổ sung này, vị thế và vai trò của Thủ tướng đã nâng cao hơn. Thủ tướng Chính phủ thực sự trở thành nhân tố định hướng các mục tiêu chung và thúc đẩy, định hướng xây dựng chính sách và toàn bộ hoạt động của Chính phủ và hệ thống HCNN từ Trung ương tới địa phương trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện 1. Xác định đúng tính chất vị trí của Chính phủ

Về vấn đề trách nhiệm của tập thể Chính phủ, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992: “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước”. Trách nhiệm của Chính phủ phải báo cáo công tác trước Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước là thực hiện trách nhiệm giải trình trước Quốc hội, UBTVQH và Chủ tịch nước. Thông qua báo cáo công tác của Chính phủ, Quốc hội, UBTVQH và Chủ tịch nước thực hiện việc giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý điều hành của Chính phủ. Đây cũng là yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch hoạt động quản lý điều hành của Chính phủ.

2. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và mối quan hệ qua lại giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các thiết chế quyền lực khác

Đối với Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước; báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (Điều 98). Thủ tướng có thể bị Quốc hội miễn nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước (trong các trường hợp phạm sai lầm, phạm tội chẳng hạn, hay nhận được nhiều phiếu tín nhiệm thấp trong các cuộc lấy phiếu tín nhiệm thường kỳ).

Đối với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: báo cáo công tác trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý (Điều 99). Bộ trưởng có thể bị Quốc hội miễn nhiệm, trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, có thể bị Chủ tịch nước tạm đình chỉ công tác, theo đề nghị của Thủ tướng.

Hiến pháp năm 2013 vẫn giữ quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội” biểu hiện sự quá cẩn trọng đôi khi lại làm hạn chế tính độc lập của Chính phủ và không triển khai được lý luận về sự kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền như chính Hiến pháp đề ra. Việc Hiến pháp chưa đi đến xác định Chính phủ là “cơ quan hành pháp cao nhất” mà vẫn giữ quy định “Chính phủ là cơ quan HCNN”, kể cả là cao nhất đi nữa, đã không thể hiện đúng vai trò của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Chỉ khi quy định Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất mới bảo đảm tính độc lập tương đối của Chính phủ, xác định vai trò của Chính phủ trong việc hoạch định và điều hành chính sách của Quốc gia, xác định vị trí trung tâm trong quốc gia của Chính phủ, và cũng là xác định người chịu trách nhiệm chính về sự phát triển của đất nước, tạo cơ sở phát huy hơn nữa tính chủ động, sáng tạo của Chính phủ trong thực thi quyền hành pháp, đặc biệt là tạo cơ sở cho việc hình thành cơ chế kiểm soát của Chính phủ đối với Quốc hội trong việc thực thi quyền lập pháp. Có đủ quyền hành pháp chính là tiền đề để Chính phủ thực hiện nhiệm vụ cơ quan HCNN cao nhất.

– Trong quan hệ quyền lực giữa Quốc hội và Chính phủ, mặc dù đã có nhiều đổi mới, tuy vậy vẫn còn những bất cập sau đây:

+ Vấn đề bảo đảm tính độc lập tương đối, tính chủ động, sáng tạo của Chính phủ trong hoạt động quản lý, điều hành. Một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cho Quốc hội như quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (ở Hiến pháp đã bỏ nhưng Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn giữ), quyền quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước v.v.. đang cản trở tính chủ động, độc lập của Chính phủ.

– Đối với thiết chế Chủ tịch nước, trong lĩnh vực hành pháp, Chủ tịch nước tham gia thành lập Chính phủ dưới hình thức: đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, nghe báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội); trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ theo đề nghị (trình) của Thủ tướng (khoản 3 Điều 28 Luật tổ chức Chính phủ năm 2015). Trong cơ chế quyền lực nhà nước nói chung, nguyên thủ quốc gia, thực quyền cũng như hình thức, đều được coi là người đứng đầu hành pháp. Điều đó thể hiện ở quyền của nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm Thủ tướng, quyết định chấp nhận hoặc giải tán Chính phủ. Bình thường, mọi việc của Chính phủ đều do Thủ tướng điều hành, nhưng khi có vấn đề phát sinh cần có sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia thì nguyên thủ quốc gia sẽ nắm quyền điều hành đối với Chính phủ. Đối với Chính phủ nước ta, mặc dù có những nét đặc thù, nhưng cơ bản vẫn mang những đặc điểm chung đó thể hiện qua việc Chủ tịch nước giới thiệu Thủ tướng để Quốc hội bầu, căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ… Vậy, cần thể hiện nội dung này theo hướng: bình thường, Chủ tịch nước giao hết cho Thủ tướng (thay mình) điều hành công việc của Chính phủ. Chỉ trong các trường hợp thật cần thiết (chẳng hạn khi Thủ tướng bất lực), Chủ tịch nước sẽ dự họp và khi đó Chủ tịch nước sẽ là người chủ toạ phiên họp.

– Đối với quyền tư pháp, sự tham gia của Chính phủ – hành chính, hành pháp – đối với tư pháp không chỉ có một số công việc về điều tra, thi hành án hình sự như nêu ở trên mà cái căn bản là Chính phủ phải đảm nhận lấy công tác quan trọng lâu này quy định cho một thiết chế độc lập là Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố. Chức năng công tố, xét về bản chất là thuộc hành pháp, tuy đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp trù liệu chuyển thành Viện Công tố và đưa về hành pháp vẫn chưa thực hiện.

3. Xác định rõ tính chất, vai trò và các mối quan hệ giữa Chính phủ và các Bộ

Hiến pháp năm 2013 chưa quy định rõ về sự phân công, phối hợp giữa Chính phủ và cơ quan tư pháp, trong đó đặc biệt là Chính phủ phải nắm quyền công tố thay cho Viện kiểm sát và quyền quản lý hành chính đối với tư pháp.

Tương tự, trong chức năng của Chính phủ còn có cả việc phải quản lý nhà nước đối với tư pháp là nằm trong vai trò thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước. Về bản chất, quyền quản lý các Toà án địa phương về cán bộ và cơ sở vật chất là thuộc về hành pháp. Việc lâu nay giao cho TANDTC – là cơ quan xét xử, không phải cơ quan quản lý – quản lý công tác cán bộ và cơ sở vật chất của các Toà án địa phương đã tạo ra nguy cơ tách biệt, khép kín của các Toà án, không bảo bảo đảm nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa hành pháp và tư pháp.

4. Xác định rõ mối quan hệ giữa Chính phủ (Trung ương) với chính quyền địa phương (Địa phương)

Cũng như ở đa số các nước khác,Chính phủ nước ta được cấu thành từ những cơ quan nhất định. Sự hiện diện các cơ quan này trong bộ máy HCNN nói chung, trong Chính phủ nói riêng là để “thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước” (Điều 22 Luật Tổ chức Chính phủ). Trong hoạt động của Chính phủ, các cơ quan này thực hiện hai mặt công tác: tham gia hoạt động của tập thể Chính phủ và thực hiện quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác được giao.

Trong suốt một thời gian dài, cơ cấu tổ chức của Chính phủ đều được xây dựng theo hướng chuyên ngành: Chính phủ gồm có các Bộ, cơ quan ngang bộ là những cơ quan của Chính phủ – thành viên Chính phủ – với số lượng đông đảo tổ chức theo ngành, lĩnh vực (quản lý chuyên ngành) và một số lượng lớn các cơ quan được gọi là cơ quan thuộc Chính phủ – không phải thành viên Chính phủ – cũng được quy định thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực. Trong quá trình cải cách hành chính, chúng ta đề ra việc “Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý…” và thiết lập: “Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chínhsách,hướng dẫn và kiểm tra thực hiện” 4. Đây là kết quả của nhận thức mới về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ trong điều kiện quản lý mới. Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực: tính tất yếu của việc chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường. Điều này là hoàn toàn phù hợp. Chuyển đổi cơ chế kinh tế sang kinh tế thị trường là yếu tố quyết định của chuyển đổi cơ cấu Chính phủ theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Có thể thấy, tính quyết định là cơ chế kinh tế, cung cách quản lý mới tất yếu đặt ra phải chuyển đổi mô hình quản lý. Nói cách khác, chấp nhận nền kinh tế thị trường tức chúng ta phải quay về với lối quản lý HCNN chủ yếu bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra.

4. Quy định rõ cơ chế chịu trách nhiệm của Chính phủ và các thành viên Chính phủ

Cần xác định lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm những Bộ theo từng mảng công việc với số lượng phù hợp. Có hình thức quy định bằng luật số lượng các bộ và những bộ nào để thể hiện và khẳng định tính ổn định của cơ cấu Chính phủ. Trong từng Bộ cũng phải sắp xếp, kiện toàn tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ theo hướng quản lý tổng hợp, đa ngành, liên thông, bỏ tầng nấc trung gian, giảm đầu mối, khắc phục trùng dẫm, không rõ chức năng, nhiệm vụ. Gắn liền với sự chuyển đổi này, một vấn đề mới cũng được đặt ra cần phải giải quyết sớm đó là phải xác định lại địa vị pháp lý, tính chất của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Theo đó, các cơ quan này cần được thành “cơ quan quản lý nhà nước về mảng công việc”, không còn là “cơ quan quản lý nhà nước” độc lập mà trở về với vị trí “cơ quan tham mưu, giúp việc” cho Chính phủ.

Ở đây, có một vấn đề cốt yếu lâu nay chưa được minh định: Thế nào là địa phương và chính quyền địa phương? Có phải tất cả các đơn vị hành chính mà Hiến pháp định ra đều là địa phương và chính quyền được xác lập cũng là chính quyền địa phương hay không? Câu trả lời không khó khi chúng ta quan niệm tất cả chúng đều chính quyền nhà nước theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê nin (Công xã, Xô viết và ở Việt Nam là HĐND) đóng ở các cấp từ trung ương xuống địa phương (Trung ương – tỉnh – huyện – xã). Nhưng hiện nay, dưới ánh sáng tư tưởng dân chủ, tự quản thì vấn đề này cần phải nhìn nhận lại: Địa phương không phải là tất cả các cấp đơn vị hành chính mà chỉ là đơn vị hành chính có tính chất quần cư – lãnh thổ vốn tồn tại tự nhiên được Nhà nước thừa nhận. Còn các đơn vị hành chính được phân định từ trên thì không phải địa phương mà chính chúng là bộ máy hành chính – hành pháp của Trung ương, thuộc Trung ương – cánh tay nối dài của Trung ương chỉ đạo xuống các lãnh thổ – là bộ phận thuộc hành pháp có chức năng tổ chức thực thi pháp luật để quản lý nhà nước ở địa phương, bảo đảm sự thống nhất, thông suốt của nền hành chính 5. Do vậy, cần xác định lại mối quan hệ giữa Chính phủ (Trung ương) với chính quyền địa phương (Địa phương) theo lối mới: địa phương là những lãnh thổ cơ bản với chính quyền là cơ chế tự quản; còn các cấp hành chính trung gian lâu nay vẫn gọi là địa phương như tỉnh, huyện thì không phải là địa phương mà thuộc phạm trù trung ương. Quan hệ giữa Chính phủ với các cấp hành chính (tỉnh, huyện) đó là quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo trong nền hành chính – hành pháp. Còn quan hệ với các cấp chính quyền địa phương có tính chất lãnh thổ (xã, thị trấn, thị xã, thành phố) là quan hệ hỗ trợ – kiểm soát. Từ đây sẽ thay đổi cách thức tổ chức chính quyền ở từng loại đơn vị hành chính: Đối với các đơn vị trung gian, bộ máy chủ yếu là quan chức hành chính do Nhà nước cấp trên chỉ định để tổ chức thực hiện quyền hành pháp ở địa phương; còn các cấp lãnh thổ phải được quản lý bằng thiết chế hội đồng do dân bầu để tổ chức và thực hiện phân quyền, tự quản. Chỉ có như vậy vấn đề tổ chức lại chính quyền địa phương mới đạt được kết quả.

Chính phủ – quyền hành pháp – có nhiệm vụ hoạch định chính sách nhà nước và chịu trách nhiệm trước chính sách đưa ra đó. Hiến pháp cũng phải xác định trách nhiệm của Chính phủ đối với chính sách của mình nhưng cơ chế trách nhiệm chưa được làm rõ. Đặc biệt, vấn đề trách nhiệm tiêu cực của Chính phủ (Chính phủ có bị bất tín nhiệm, bị giảỉ tán giữa nhiệm kỳ như Hiến pháp năm 1946 đã có quy định hay không) thì vẫn như các Hiến pháp trước là không được quy định. Khi Hiến pháp không (hoặc chưa) nêu vấn đề này, có nghĩa là sự thể hiện vị trí, vai trò của Chính phủ với tính cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp là chưa hoàn toàn thành công. Bản năng của Chính phủ với tính cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp – hoạch định và thực thi chính sách quốc gia – đòi hỏi phải có cơ chế cộng đồng trách nhiệm (trách nhiệm tập thể – collective responsibility) rất cao. Các phiên họp Chính phủ phải được tổ chức sao cho có thể bảo đảm để các thành viên thẳng thắn bàn thảo các vấn đề gai góc của quốc gia, giải quyết những xung đột về lợi ích trong hoạch định chính sách. Tính trách nhiệm tập thể thể hiện một Chính phủ thực thi quyền lực “mạnh mẽ và sáng suốt”. Đương nhiên, đi cùng với tính trách nhiệm tập thể đoàn kết, thống nhất này phải là cơ chế chịu cùng trách nhiệm tập thể chung – bị bất tín nhiệm, bị lật đổ. Cơ chế đó chính là góp phần đề cao vị trí của Chính phủ đúng với tính chất thực hiện quyền hành pháp của nó./.

Quyền Hành Pháp Và Chủ Thể Thực Hiện Quyền Hành Pháp

Ngày đăng: 23/04/2017 02:19

Tựu trung lại: quyền lực nhà nước bao gồm 3 nhánh quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, theo đó:

– Quyền lập pháp là quyền làm ra hiến pháp và luật, do cơ quan lập pháp thực hiện.

– Quyền hành pháp là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước, có nhiệm vụ thực thi pháp luật. Quyền hành pháp do một bộ máy hành chính nhà nước phức tạp trải rộng từ trung ương tới địa phương thực hiện.

– Quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật do cơ quan tư pháp thực hiện.

Như vậy, theo quan niệm của đa số học giả nước ngoài, chủ thể thực hiện quyền hành pháp là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (đứng đầu có thể là tổng thống hoặc thủ tướng tùy theo từng chính thể).

Theo chúng tôi Phạm Hồng Thái: ở Việt Nam hiện nay, “quyền hành pháp… được phân công tới các cơ quan nhà nước ở địa phương, tới cộng đồng lãnh thổ. Như vậy, quyền hành pháp ở Việt Nam được thực hiện bởi toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ỏ trung ương và địa phương và cả các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương – Hội đồng nhân dân các cấp”(1).

Một quan niệm khác cho rằng: “chủ thể của quyền hành pháp là sự kết hợp giữa thẩm quyền tập thể của Chính phủ với từng thành viên Chính phủ… Mặt khác, quyền hành pháp không chỉ giới hạn ở tập thể Chính phủ và các thành viên Chính phủ, mà trên thực tế, quyền hành pháp còn được ủy quyền, phân cấp cho chính quyền địa phương” (2).

Các quan niệm trên đều thống nhất ở một điểm, đó là quyền hành pháp được thực hiện bởi các hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương và địa phương. Ngoài ra, theo quan điểm của chúng tôi Phạm Hồng Thái, quyền hành pháp được thực hiện bởi các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Các quan điểm trên đều không sai nhưng thiết nghĩ là chưa đủ. Mặc dù tại Điều 94 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp”, tuy nhiên, về mặt lý luận và thực tiễn pháp lý – hành động đây không phải là chủ thể duy nhất thực hiện quyền hành pháp nếu dựa theo quan niệm về quyền hành pháp một cách đơn giản nhất là quyền triển khai, thực hiện pháp luật. Vậy, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ mấy nhà nước, những chủ thể nào sẽ tham gia thực hiện quyền hành pháp? Ngoài Chính phủ, có thể liệt kê một số chủ thể sau:

Một là Quốc hội: ngoài nhiệm vụ, quyền hạn lập hiến, lập pháp thể hiện rõ rệt chức năng lập pháp, những nhiệm vụ, quyền hạn khác cũng bao hàm những hoạt động triển khai thực hiện pháp luật (quyển hành pháp). Ví dụ chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước như: ” Quyết định mục tiêu, Chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bàn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước” – Điều 70 Hiến pháp năm 2013.

Với những quy định trên của Hiến pháp về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, thì những thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia mang tính hành pháp rõ rệt, không nằm trong chức năng lập pháp của Quốc hội.

Hai là Tòa án: các luận thuyết về quyền lực nhà nước đều chỉ ra Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp – bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật. Hiến pháp năm 2013 khẳng định điều này ở Điều 102: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.

Tuy nhiên, xem xét lịch sử hoạt động của Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 1981 đến trước khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 có hiệu lực, đã giao “việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó” (Điều 16 – Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981). về quản lý các Tòa án quân sự, Pháp lệnh năm 1985 đã giao “Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc quản lý về mặt tổ chức các Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương và các Tòa án quân sự khu vực”. Biên chế của Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn; tổng số biên chế của các Tòa án nhân dân địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định, trên cơ sở đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định biên chế cho từng Tòa án nhân dân địa phương. Đối với các Tòa án quân sự, thì bộ máy làm việc, biên chế của Tòa án quân sự cấp cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn; bộ máy làm việc, biên chế của các Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương, của các Tòa án quân sự khu vực do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định sau khi đã thống nhất ý kiến với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, về kinh phí, phương tiện hoạt động và trụ sở của các Tòa án quân sự do Bộ Quốc phòng và các đơn vị quân đội bảo đảm.

Như vậy, đã có một thời kỳ lịch sử hai nội dung quản lý về nhân sự và tài chính không nằm trong nội dung nhánh quyền tư pháp của Tòa án. Mặc dù sau khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002 có hiệu lực, quyền quản lý các Tòa án địa phương về cán bộ và cơ sở vật chất thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên, về bản chất và thực tiễn, quyền quản lý các Toà án địa phương về cán bộ và cơ sở vật chất là thuộc về quyền hành pháp.

Ba là Chủ tịch nước: Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước đồng thời được trao nhiều quyền hạn trong cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong lĩnh vực hành pháp, những quyền năng của Chủ tịch nước thể hiện khá nổi trội. Có thể liệt kê một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực hành pháp như sau:

– Chủ tịch nước tham gia thành lập bộ máy Chính phủ. Khoản 2 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 quy định Chủ tịch nước có quyền: “Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ”.

– Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam.

– Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương.

– Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước.

Như vậy, Chủ tịch nước có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng, là trung tâm của ba nhánh quyền: lập pháp – hành pháp – tư pháp.

Bốn là chính quyển địa phương: theo quy định của Hiến pháp năm 2013: “Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân” (khoản 2 Điều 113). “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao” (khoản 2 Điều 114). Như vậy, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện hai hoạt động: hoạch định chính sách và triển khai thực hiện pháp luật trong phạm vi địa phương. Đây cũng chính là những nội dung cơ bản của quyền hành pháp.

Xét dưới góc độ lý luận và luật thực định, chủ thể thực hiện quyền hành pháp không chỉ giới hạn bởi hệ thống cơ quan hành pháp mà còn được thực hiện mở rộng bởi các cơ quan quyền lực và cơ quan tư pháp, Chủ tịch nước và chính quyển địa phương. Nói cách khác, quyền hành pháp không phải là quyền độc tôn của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.

Tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều tham gia thực hiện quyển hành pháp ở những mức độ khác nhau.

Vậy lý giải điểm khác biệt đó là gì? Vấn đề ở đây là bản chất của tập quyền xã hội chủ nghĩa: quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phân nhiệm chứ không phân quyền một cách cơ học, cứng nhắc như mô hình tam quyền phân lập của các nước tư sản. Điều đó cũng có nghĩa là khi trao quyền hành pháp cho Chính phủ, Quốc hội vẫn giữ lại những thẩm quyền mang tính hành pháp. Trong khi triển khai quyền tư pháp, để đảm bảo hoạt động của mình Tòa án nhân dân vẫn thực hiện những công việc mang tính hành pháp. Ngược lại, Chính phủ và Tòa án cũng phối hợp với Quốc hội thực hiện quyền lập pháp thông qua việc thực hiện quyền sáng kiến lập pháp, đệ trình soạn thảo các dự án luật. Mặt khác quy định về thẩm quyền đại xá của Quốc hội (khoản 11 Điều 70), về bản chất đây cũng là thẩm quyền mang tính tư pháp.

Như vậy, việc triển khai thực hiện các nhánh quyền lập pháp – hành pháp – tư pháp theo mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa khá uyển chuyển, linh hoạt. Tất nhiên trong những chủ thể trên, xuất phát từ chức năng của mình, Chính phủ cùng hệ thống cơ quan hành chính địa phương là những chủ thể chủ yếu triển khai thực hiện quyền hành pháp. Cũng như quyền lập pháp là quyển cơ bản của Quốc hội và quyền tư pháp là quyền cơ bản của Tòa án nhân dân.

TS. Bùi Thị Thanh Thúy – Học viện Hành chính quốc gia

Ghi chú:

(1) chúng tôi Phạm Hồng Thái, Sự liên tục của hành pháp và quyển lực hành chính,

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/docu ment_library/get_file?uuid=bd11 d784-87c7- 4423-845c-6cb502566e36&groupld=13025.

(2) TS. Trần Anh Tuấn, “Quyển hành pháp và vai trò của Chính phủ trong thực hiện quyền lực nhà nước”

Những Vấn Đề Và Hệ Lụy Cùng Biện Pháp

Quan Điểm Việc Học Thêm – Những Câu Chuyện Xung Quanh – Gia Sư Tại Nhà Có Thể Giúp Phụ Huynh?

Thời nay, thế hệ các em học sinh được thừa hưởng nền giáo dục hiện đại, tiên tiến nhất cùng với đó là chất lượng cuộc sống khá cao. Để cho các em được phát triển tư duy, trình độ học vấn theo kịp sự phát triển của xã hội. Nhưng ngược lại, các bậc làm cha mẹ đã phải lao động vất vả để đầu tư vào việc học tập cho các em. Vấn đề của các phụ huynh chưa dừng lại ở đó. Đầu tư cho con thôi chưa đủ, họ lại phải đau đầu chọn lựa phương pháp giáo dục cũng như cách học hiệu quả cho con để đạt được kết quả tốt.

Nhiều khi quan điểm bất đồng giữa các bậc phụ huynh trong việc định hướng cũng như chọn phương pháp học cho con.

– Học như thế nào để đảm bảo việc học và vui chơi của các em được cân bằng và tạo ra kết quả học tập tốt nhất?

Cùng phân tích các vấn đề ở trên.

Thứ nhất tâm lý làm cha mẹ luôn muốn việc học của con cái đạt được kết quả tốt nhất. Không tiếc tiền đầu tư, không tiếc công sức với việc học của con.

Nhưng học nhiều chưa chắc đã tốt nhất, không phải mình nghĩ nó tốt là sẽ tốt cho con. Nó sẽ khiến các em lâm vào các hoàn cảnh phổ biến sau:

Học nhiều khiến lượng kiến thức quá tải, phản tác dụng khiến càng học càng khó tiếp thu. Có thế gọi là

“loạn kiến thức”

Áp lực quá lớn khiến các em cảm thấy việc học càng nặng nề, và chỉ làm cho vừa lòng bố mẹ chứ tư tưởng vô cùng chán nản với việc học

Học nhiều khiến các em không có thời gian vui chơi, giải trí. Sức khỏe giảm sút không thể phục vụ tốt cho việc học, khiến nó bị gián đoạn.

Có những em bỏ học, trốn học theo bạn bè tụ tập tham gia các trò chơi tiêu cực trong xã hội (Bar, chất gây nghiện, đua xe…)

Còn về việc cho con học như thế nào cho hiệu quả để cân bằng việc học và vui chơi cho hợp lý quỹ thời gian thì có những cách giải quyết sau:

Tập trung cho con/em học chương trình trên trường là chính.

Các em yếu môn nào hãy bổ sung lượng kiến thức chủ yếu cho môn đó.

Nên cho các em tham gia các lớp năng khiếu để giải tỏa áp lực.

Phân chia thời gian học hợp lý, tạo khoảng thời gian, không gian riêng giữa những buổi học cho các em được nghỉ ngơi.

Có thể mời gia sư tại nhà đến dạy cho các em, để tiết kiệm quỹ thời gian.

Có 1 câu chuyện tác giả bài viết này muốn kể lại cũng như lưu tâm các phụ huynh cũng như các em học sinh để tránh những trường hợp tiêu cực dẫn đến hậu quả vô cùng xấu. Đây là câu chuyện của chính người thân của tác giả:

“Anh chị P đã đứng tuổi nhưng chỉ sinh được 1 cô công chúa, lẽ đương nhiên thì cô nàng luôn được cưng chiều hết mực, cộng với điều kiện gia đình khá giả. Anh P đầu tư cho cô con gái tên P.Thảo vô cùng đầy đủ, chả thiếu thứ gì Th không có, luôn hơn bạn bè. Nhưng anh P rất may mắn, Th rất ngoan, nghe lời bố mẹ, chịu khó học. Định hướng cho Th từ rất sớm, cho con đi học Tiếng Anh từ khi bé mới 5 tuổi để làm quen kiến thức, muốn con mình đi du học Úc,  anh P đã mua sẵn bảo hiểm cho con gái để sau này dùng. Và anh cũng đã định sẵn chiến lược học cho Th, phải học lực khá giỏi và Tiếng Anh phải giỏi mới có thể đi du học.

Định Hướng Từ nhỏ? Sao đến lớp 10 mới đi học tiếng anh?

Tôi bất ngờ quá, chỉ hỏi anh:

Em ghé nhà thấy cháu ngoan lắm mà anh, anh có đùa em không? Mà tại sao lại thế?

Anh ngậm ngùi:

Vì tôi và mẹ nó bắt nó học nhiều quá, học trên lớp, học ở ngoài thêm vài chỗ. Ban đầu thì tôi và vợ đưa con đi học đều đặn rồi rước về. Thấy nó chăm chỉ nên vợ chồng tôi yên tâm. Dạo sau này tôi bận, mẹ nó bận, nên để nó tự đi học. Vì nghĩ con mình học khá, ngoan ngoãn nên sẽ học tốt và không cần bố mẹ kè kè 1 bên nữa. Ai ngờ đâu, Thầy cô ở

các lớp dạy thêm

liên tục gọi cho tôi báo: Thảo không đi học đều, hầu như vắng mặt, học càng ngày càng xuống. Ngay cả GVCN của nó cũng gửi giấy mời thông báo việc học ngày càng tệ.

Lúc đó vợ chồng tôi mới thất thần, vào phòng con thì thấy nó nằm ngủ một cách mệt mỏi, lay nó dậy nó không dậy. Tôi nạt thì nó mới ngồi dậy. Nó bảo nó học cả ngày mệt nên để nó ngủ.

Tôi tức quá nạt lớn:

Con nói đi học mà sao thầy cô gọi về báo con không đi học bao lâu nay, học hành xuống dốc trầm trọng. Con nói dối bố mẹ đúng không?

Nó chả buồn cãi hay giải thích:

Bố mẹ bắt con học nhiều, con chán, con không có thời gian vui chơi, con thèm ra ngoài chơi với bạn. Con mệt, con không học nữa, không cần du học gì đâu.

Rồi nó ngất xỉu, tôi với vợ phải đưa vào bệnh viện, bác sĩ nói” Cháu nó suy nhược, tâm lý không ổn định…..nên cho cháu nghỉ ngơi đừng bắt cháu làm hay học trong thời gian này”

Tôi nghe xong chợt ngẫm lại chắc khi không chở nó đi học, thì tôi và vợ cho tiền Th ăn trên lớp, cho tiền con muốn mua gì cho việc học thì mua, chắc nó không học và lấy tiền đó đi chơi, bỏ cả ăn uống nên mới đến ngày hôm nay

Tôi thất vọng lắm, bỏ ra ngoài ngồi suy nghĩ cả buổi mà không hiểu được. Tôi thương yêu nó, chỉ muốn đầu tư và muốn nó được học tập tốt nhất, nó không hiểu tôi buồn như thế nào đâu cô ạ! Anh tôi tâm sự như vậy.

Tôi chẳng biết nói gì, trách anh mình không được, trách cháu mình càng không. Nên đành khuyên anh vài câu rồi cúp máy.

Nói anh nên an ủi cháu, hỏi han xem cháu nó muốn gì rồi hướng nó quay lại con đường học, đừng tạo áp lực cho nó nữa. Nên dẫn nó đi du lịch 1 chuyến cho khuây khỏa, cả bố mẹ lẫn con đều xích lại gần nhau hơn.

Qua câu chuyện thực tế trên, tôi biết anh chị tôi đau lòng lắm, bao nhiêu tâm huyết dồn hết cho con, vậy mà giờ nhận lại là thất vọng, công sức đổ sông bể. Anh chị tôi già đi hẳn, ngay cả tôi thì tôi cũng buồn vì Thảo là cháu tôi.

Vậy nên rút ra bài học các bạn ạ, nhất là các bậc phụ huynh cũng như các em học sinh. Việc học là quan trọng nhưng phải học như thế nào? Phương pháp học ra sao? Quan trọng nhất là định hướng của Phụ huynh đối với các em cho thật đúng đắn và tích cực với tâm lý của các em.

Mất cân bằng trong việc học tập ở nhà và trên lớp

Quỹ thời gian không có cho việc thư giãn, vui chơi

Kiến thức bị dồn ép, dẫn đến việc phản tác dụng, khó tiếp thu và có thể không thu nạp được lượng kiến thức mới

Gia sư tại nhà có thể giải quyết các vấn đề mà các bậc phụ huynh đang đau đầu:

Không có thời gian quản lý việc học, đưa rước các bé đi học

Tạo quỹ thời gian cho các em nhiều hơn

Tâm lý học tập, tinh thần của các em sẽ thoải mái, cởi mở

Cân bằng được lượng thời gian học tập theo kế hoạch và hợp lý.

Quan trọng nhất, các em sẽ tiếp thu lượng kiến thức ổn định và hiệu quả nhờ phương pháp dạy hữu ích nhất của các

Gia sư

.

Trung Tâm Gia Sư ở TP. HCM hiện nay là quá nhiều. Việc chọn lựa của các Phụ huynh đương nhiên sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều vì phải phân vân không biết nơi nào Uy tín – Chất lượng đi cùng Chuyên môn. Chưa kể đến trường hợp có những Trung tâm lợi dụng tâm lý của Phụ huynh và học viên để lừa đảo, hoặc làm việc một cách vô cùng thiếu trách nhiệm. Cụ thể sẽ vẫn tiếp nhận nhu cầu – yêu cầu của Phụ huynh và học viên nhưng lại vì lợi ích cá nhân ( Kinh doanh) quên đi mong muốn của Khách hàng. Họ vẫn sẽ cho Gia sư xuống dạy các học viên nhưng không chọn lựa kỹ càng khả năng, kinh nghiệm của các Gia Sư. Chỉ làm 1 cách qua loa, vậy nên chất lượng giảng dạy và kết quả học của các em luôn không hiệu quả.

Trung Tâm Gia Sư Trí Việt có đội ngũ:

Giáo viên các trường chuyên cấp 1, 2, 3 khu vực TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai nhiều năm kinh nghiệm đi dạy.

Các bạn sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi chuyên ngành Sư Phạm nhiều bộ môn

Toán – Lý – Hóa – Ngoại Ngữ

Các bạn Sinh viên theo học các trường CĐ – ĐH với nhiều năm kinh nghiệm dạy kèm, ôn luyện thi.

Các giáo viên tự do nhiều năm kinh nghiệm không ràng buộc thời gian.

Chúng tôi cam kết sẽ đem lại kết quả học tập tốt nhất, hiệu quả nhất cho con/em của bạn.

Bồi dưỡng kiến thức, giảng dạy cho các em bằng những giờ học thú vị, bổ ích nhất cùng phương pháp dạy hợp lý và hiệu quả nhất.

Hãy đến với Trung Tâm chúng tôi, chúng tôi sẽ làm hài lòng  mọi học viên và Phụ Huynh khó tính nhất bằng sự UY TÍN – CHẤT LƯỢNG – TRÁCH NHIỆM – CHUYÊN MÔN của Trung Tâm.

Nguồn: https://giasutriviet.edu.vn

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Ngữ Pháp Toeic:thì Tương Lai Hoàn Thành, Tương Lai Hoàn Thành Tiếp Diễn

1. Thì Tương lai hoàn thành

Khái niệm

Tương lai hoàn thành (Future Perfect) được dùng để diễn tả một hành động sẽ được hoàn thành cho tới một thời điểm nào đó xác định trong tương lai.

Cấu trúc

Câu khẳng định:

S + will + have + Pll (Past participle)

Ex: He will have done it by this evening

Câu phủ định:

S + will + not + have + Pll

Ex: My sis will not have come home by 10 pm this evening.

Câu nghi vấn:

Will + S + have + Pll ?

Ex: Will your friends have come back Viet Nam before the summer vacation?

Cách dùng

Dùng để diễn tả một hành động hay sự việc hoàn thành trước một thời điểm trong tương lai

Ex: I will have arrived at the office by 7AM

Ex: When you come back, I will have typed this email

Dùng để diễn tả một hành động hay sự việc hoàn thành trước một hành động hay sự việc trong tương lai

Ex: I will have made the meal ready before the time you come tomorrow

Ex: Before 11 o’clock this morning, I will have started my project

Dấu hiệu nhận biết

Trong câu có các cụm từ sau:

By + thời gian trong tương lai

By the end of + thời gian trong tương lai

By the time …

Before + thời gian trong tương lai

1. By + thời gian trong tương lai

By 10 p.m, my sister will have finished her homework

2. By the end of + thời gian trong tương lai

By the end of this week, Amelia and Liam will have been married for 2 years.

3. By the time

By the year 2012, many people will have lost their jobs

4. Before + thời gian trong tương lai

Before 18 o’clock this afternoon, I will have played my games

2. Thì Tương lai hoàn thành tiếp diễn

Khái niệm

Thì hiện tại hoàn thành tiếp diễn (Present Perfect Continuous) được dùng để chỉ một sự việc đã diễn ra trong quá khứ nhưng vẫn còn tiếp tục ở hiện tại và có thể sẽ tiếp diễn trong tương lai. Thì này thường được sử dụng để nói về sự việc đã kết thúc trong quá khứ tuy nhiên chúng vẫn còn có thể ảnh hưởng đến tương lai hiện tại.

Cấu trúc

Câu khẳng định

S + have/ has + been + V-ing

Ex: We have been learning English since 2008

Câu phủ định

S + haven’t / hasn’t + been + V-ing

Ex: She hasn’t been watching films since last year

Câu nghi vấn

Have/ Has + S + been + V-ing ?

Ex: Have you been learning 2 languages at the same time?

Cách dùng

Dùng để diễn tả một hành động bắt đầu trong quá khứ diễn ra liên tục và kéo dài đến hiện tại

Nhấn mạnh tính liên tục của một hành động

Ex: I have been meeting with my team for 3 hours

Ex: He has been waiting for her all his lifetime

Dùng để diễn tả hành động đã xảy ra, vừa mới kết thúc nhưng kết quả của hành động vẫn có thể nhìn thấy được ở hiện tại

Ex: Henry is very tired now because of working hard for 8 hours

Ex: You are fired because you have been taking too many days off

Dấu hiệu nhận biết

All day, all week, since, for, for a long time, in the past week, recently, lately,…là một trong những dấu hiệu để ta có thể phân biệt đây là thì Tương lai hoàn thành tiếp diễn

1. Since + mốc thời gian

Ex: She has been working since the early morning.

Ex: My dad hasn’t been feeling well since 3 months ago

2. For + khoảng thời gian

Ex: They have been playing jazz for 8 hours

Ex: She’s been traveling for three months

3. All + thời gian (all the morning, all the afternoon, all day,…)

Ex: My mom has been scolding me all day

Ex: They have been cleaning the house all the afternoon

Tổng quát thì Tương lai hoàn thành, thì Tương lai hoàn thành tiếp diễn

Một cặp thì rất dễ khiến cho những người học Tiếng Anh phải đau đầu và những người đi thi phải vò đầu bứt tóc không kém gì cặp đôi hiện tại hoàn thành và hiện tại hoàn thành tiếp diễn. Và trớ trêu thay khi chúng cũng là những cặp đôi rất được lòng những người làm đề thi TOEIC và cũng thường xuyên được góp mặt trong các đề thi hiện tại để làm khó người đi thi chúng ta. Vì vậy mà bạn cần nắm rõ bản chất của từng thì để vận dụng sao cho hiệu quả.

Tương Lai Hoàn Thành

Tương Lai Hoàn Thành Tiếp Diễn

1. Công thức thì tương lai hoàn thành:

S + will have + Past Participle (QK Phân từ)

2. Cách sử dụng:

Diễn tả một hành động sẽ hoàn tất vào một thời điểm cho trước ở tương lai.

Ex:

+ They’ll have finished their project by midnight.

+ The company will have moved to the new office by next month.

+ When my mom comes back, my sister will have cleaned the floor.

3. Dấu hiệu nhận biết:

Các cụm từ chỉ thời gian đi kèm:

–  By + mốc thời gian (by the end of, by tomorrow)

–  By then

–  By the time

1. Công thức thì tương lai hoàn thành tiếp diễn:

S + will have been + V-ing

2. Cách sử dụng:

Diễn tả một hành động bắt đầu từ quá khứ và kéo dài đến một thời điểm cho trước ở tương lai.

Ex:

+ By January, I’ll have been studying English for 15 years.

+ By September 21st, I’ll have been working for this centre for 15 months.

3. Dấu hiệu nhận biết:

Các cụm từ chỉ thời gian đi kèm:

–  By … for (+ khoảng thời gian)

–  By then

–  By the time.

 NÊN XEM: TIPS ôn thi TOEIC hiệu quả cho người mất căn bảng tiếng Anh

Bài tập ôn luyện

Ngữ pháp TOEIC luôn xuất hiện rất nhiều trong suốt bài thi, là nền tảng quan trọng đòi hỏi bạn bắt buộc phải nắm thật chắc. Tương tự như 2 thì trên, thì tương lai hoàn thành và thì tương lai hoàn thành tiếp diễn rất hay có mặt trong đề thi nhưng rất nhiều người vẫn dễ nhầm lẫn và đưa ra đáp án sai. Vì vậy, để làm bài được hiệu quả, bạn cần phải nắm vững kiến thức ngữ pháp TOEIC nào là quan trọng. 

Để giúp các bạn hiểu rõ hơn về các chuyên đề Ngữ pháp TOEIC, FireEnglish giới thiệu đến bạn các khóa học TOEIC online, nhằm hướng dẫn cho các bạn các phương pháp làm bài hiệu quả, các chuyên đề từ vựng và ngữ pháp thông dụng hay xuất hiện trong đề thi. Khóa học TOEIC online này phù hợp với các bạn không có nhiều thời gian đến các lớp luyện thi bên ngoài.  Khóa học hiện đang có Voucher giảm 40% học phí dành cho những bạn đăng ký sớm nhất. 

XEM LỊCH KHAI GIẢNG VÀ NHẬN NGAY MÃ GIẢM HỌC PHÍ 40%

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quyền Hành Pháp Theo Hiến Pháp Năm 2013: Những Vấn Đề Cần Tiếp Tục Hoàn Thiện trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!