Đề Xuất 11/2022 # Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Được Trang Bị Những Loại Súng Ngắn Nào / 2023 # Top 12 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 11/2022 # Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Được Trang Bị Những Loại Súng Ngắn Nào / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Được Trang Bị Những Loại Súng Ngắn Nào / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thông số cơ bản: trọng lượng rỗng/nạp đạn 0,84/0,91 kg; dài 194 mm; rộng 32,1 mm; cao 134 mm; nòng dài 116 mm. Súng dùng loại đạn 7,62 x 25 mm có sơ tốc 420 m/s; tầm bắn hiệu quả 50 m; tầm bắn sát thương 150 m, hộp tiếp đạn chứa được 8 viên.

TT-33 (viết tắt của Tokarev Tulla 1933) là loại súng ngắn bán tự động cỡ 7,62 mm của Liên Xô được Fedor Tokarev thiết kế vào năm 1929 với mục đích dự kiến thay thế cho người tiền nhiệm Nagant M1895. Bản mẫu chế thử TT-30 vượt qua cuộc thử nghiệm cấp quốc gia ngày 23/12/1930, năm 1933 súng được cải tiến lần cuối dùng cơ cấu cò đẩy thay cho cò quay và năm 1934 bắt đầu được sản xuất hàng loạt.

TT-33 được sản suất và sử dụng với số lượng lớn trong Thế chiến thứ 2 với khoảng 600.000 khẩu trang bị cho Hồng quân. Tuy nhiên việc sản xuất đã bị ngừng lại từ năm 1954 do Liên Xô quyết định chuyển sang dùng súng ngắn 9 mm Makarov PM hiện đại hơn. Mặc dù vậy TT-33 vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội và công an Liên Xô đến tận năm 1970.

Thân súng TT-33 hoàn toàn làm bằng thép, máy súng khá đơn giản và tin cậy, không dùng một bulong hoặc đinh vít nào mà kết nối các bộ phận bằng các khe, rãnh, lẫy và chốt hãm. Việc tháo lắp, bảo dưỡng, sửa chữa cũng rất đơn giản khi chỉ cần sử dụng hộp tiếp đạn và tay không là có thể tháo rời khẩu súng thành từng bộ phận.

TT-33 sử dụng loại đạn chày đầu tròn 7,62 x 25 mm, cải tiến từ đạn 7,63 mm Mauser gồm 2 chủng loại chính là đạn xuyên và đạn vạch đường. Thiết kế điểm chạm của đạn trên mục tiêu có độ cao chênh lệch ăn lên 15,6 cm so với điểm ngắm (ở cự ly 25 m), cho phép người sử dụng có thể quan sát toàn bộ mục tiêu trong khi ngắm bắn. Mặc dù hộp tiếp đạn có sức chứa 8 viên nhưng có thể lắp thêm viên thứ 9 trực tiếp vào buồng đạn của súng.

Súng ngắn TT-33 được sản xuất theo giấy phép tại một số quốc gia đồng minh của Liên Xô như Hungary, Triều Tiên, Ba Lan, Rumani, Nam Tư… từ những năm 1950. Trung Quốc sao chép lại TT-33 và gọi là súng ngắn “Kiểu 1954”, khi loại súng này vào Việt Nam nó được định danh Việt hóa theo cách gọi của Trung Quốc thành K54.

Hiện nay K54 vẫn là súng ngắn phổ biến nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thường được trang bị cho sĩ quan cấp úy hay lính cảnh vệ. Mặc dù nhiều quốc gia khác đã chuyển sang sử dụng các loại súng ngắn hiện đại hơn nhưng cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy K54 sẽ sớm được Việt Nam cho “về hưu”.

2. Súng ngắn Makarov PM (K59)

Thông số cơ bản: trọng lượng rỗng/nạp đạn 0,73/0,81 kg; dài 161,5 mm; rộng 30,5 mm; cao 126,75; nòng dài 93,5 mm. Súng dùng loại đạn 9 x 18 mm có sơ tốc 315 m/s; tầm bắn hiệu quả 50 m; hộp tiếp đạn chứa được 8 – 12 viên.

Makarov (hay còn được gọi là PM) là loại súng ngắn bán tự động do Nikolay Makarov thiết kế vào cuối thập niên 1940. Việc chế tạo súng ngắn PM (Pistol Makarov) là kết quả của cuộc cạnh tranh cho vị trí khẩu súng ngắn dành cho sĩ quan Quân đội Xô Viết. PM được chọn vì có kích thước nhỏ, gọn, trọng lượng nhẹ; cấu tạo đơn giản, ít bộ phận chuyển động, kinh tế, dễ chế tạo, độ chính xác cao, sử dụng tiện lợi, dễ bảo quản, sửa chữa và điều chỉnh.

Thân súng PM nguyên bản làm hoàn toàn bằng thép, ở các phiên bản hiện đại hóa làm bằng hợp kim; có các khe, chốt, khoang để lắp nòng súng, bệ cò, vòng cò, bệ búa, khóa nòng, hộp tiếp đạn, ốp báng, chốt an toàn. Loại súng này được trang bị phổ biến trong quân đội và cảnh sát cho đến khi xảy ra sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991.

Súng ngắn Makarov sử dụng loại đạn 9 x 18 mm mới có giá thành sản xuất tương đối thấp, loại đạn này có sức xuyên phá mạnh ở tầm gần. Hộp tiếp đạn nguyên bản của súng sử dụng lò so đẩy thẳng với sức chứa 8 viên ( lên đến 12 viên ở phiên bản cải tiến), có chốt chặn khóa nòng báo hết đạn.

Giống như TT-33, súng ngắn PM cũng được sản xuất tại các quốc gia đồng minh của Liên Xô như Bulgaria, Đông Đức, Trung Quốc… Cách định danh K59 của Việt Nam cũng tương tự như trường hợp K54.

So với K54 thì trong quân đội súng ngắn K59 ít phổ biến hơn, chủ yếu trang bị cho sĩ quan từ cấp tá trở lên. Tuy nhiên súng ngắn K59 cùng với phiên bản cải tiến của nó là CZ 83 lại được sử dụng rất rộng rãi bên ngành công an.

Súng ngắn CZ 83 là phiên bản xuất khẩu của súng ngắn CZ 82 được chế tạo tại Tiệp Khắc cũ và Cộng hòa Séc, Slovakia ngày nay. CZ 83 được coi là một phiên bản nâng cấp của súng ngắn K59, vẫn sử dụng đạn 9 x 18 mm Makarov, loại súng này có mặt tại Việt Nam từ cuối những năm 1980.

CZ 83 trang bị hộp tiếp đạn 12 viên, đầu ruồi và thước ngắm gắn phản quang cho khả năng ngắm ban đên rất tốt, bên cạnh đó hành trình cò dài và nhẹ hơn. Theo nhận xét của những người đã từng bắn thử cả 3 loại súng thì đạn bắn đi từ CZ 83 có độ chụm rất tốt, thành tích thường cao hơn hẳn khi bắn bằng K59 hay K54.

Ba Loại Súng Và Đạn Phổ Biến Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam / 2023

Các loại súng và đạn phổ biến của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Hiện nay, hai loại súng ngắn phổ biến nhất được trang bị cho Quân đội Nhân dân Việt Nam là khẩu K54 và K59 và loại súng trường được biết đến rộng rãi nhất là AK-47.

1. Súng ngắn Tokarev TT-33 (K54)

 Thông số cơ bản: trọng lượng rỗng/nạp đạn 0,84/0,91 kg; dài 194 mm; rộng 32,1 mm; cao 134 mm; nòng dài 116 mm. Súng dùng loại đạn 7,62 x 25 mm có sơ tốc 420 m/s; tầm bắn hiệu quả 50 m; tầm bắn sát thương 150 m, hộp tiếp đạn chứa được 8 viên.

TT-33 (viết tắt của Tokarev Tulla 1933) là loại súng ngắn bán tự động cỡ 7,62 mm của Liên Xô được Fedor Tokarev thiết kế vào năm 1929 với mục đích dự kiến thay thế cho người tiền nhiệm Nagant M1895. Bản mẫu chế thử TT-30 vượt qua cuộc thử nghiệm cấp quốc gia ngày 23/12/1930, năm 1933 súng được cải tiến lần cuối dùng cơ cấu cò đẩy thay cho cò quay và năm 1934 bắt đầu được sản xuất hàng loạt.

TT-33 được sản suất và sử dụng với số lượng lớn trong Thế chiến thứ 2 với khoảng 600.000 khẩu trang bị cho Hồng quân. Tuy nhiên việc sản xuất đã bị ngừng lại từ năm 1954 do Liên Xô quyết định chuyển sang dùng súng ngắn 9 mm Makarov PM hiện đại hơn. Mặc dù vậy TT-33 vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội và công an Liên Xô đến tận năm 1970.

Thân súng TT-33 hoàn toàn làm bằng thép, máy súng khá đơn giản và tin cậy, không dùng một bulong hoặc đinh vít nào mà kết nối các bộ phận bằng các khe, rãnh, lẫy và chốt hãm. Việc tháo lắp, bảo dưỡng, sửa chữa cũng rất đơn giản khi chỉ cần sử dụng hộp tiếp đạn và tay không là có thể tháo rời khẩu súng thành từng bộ phận.

TT-33 sử dụng loại đạn chày đầu tròn 7,62 x 25 mm, cải tiến từ đạn 7,63 mm Mauser gồm 2 chủng loại chính là đạn xuyên và đạn vạch đường. Thiết kế điểm chạm của đạn trên mục tiêu có độ cao chênh lệch ăn lên 15,6 cm so với điểm ngắm (ở cự ly 25 m), cho phép người sử dụng có thể quan sát toàn bộ mục tiêu trong khi ngắm bắn. Mặc dù hộp tiếp đạn có sức chứa 8 viên nhưng có thể lắp thêm viên thứ 9 trực tiếp vào buồng đạn của súng.

2.  Súng ngắn Makarov PM (K59).

Thông số cơ bản: trọng lượng rỗng/nạp đạn 0,73/0,81 kg; dài 161,5 mm; rộng 30,5 mm; cao 126,75; nòng dài 93,5 mm. Súng dùng loại đạn 9 x 18 mm có sơ tốc 315 m/s; tầm bắn hiệu quả 50 m; hộp tiếp đạn chứa được 8 – 12 viên.

Makarov (hay còn được gọi là PM) là loại súng ngắn bán tự động do Nikolay Makarov thiết kế vào cuối thập niên 1940. Việc chế tạo súng ngắn PM (Pistol Makarov) là kết quả của cuộc cạnh tranh cho vị trí khẩu súng ngắn dành cho sĩ quan Quân đội Xô Viết. PM được chọn vì có kích thước nhỏ, gọn, trọng lượng nhẹ; cấu tạo đơn giản, ít bộ phận chuyển động, kinh tế, dễ chế tạo, độ chính xác cao, sử dụng tiện lợi, dễ bảo quản, sửa chữa và điều chỉnh.

Thân súng PM nguyên bản làm hoàn toàn bằng thép, ở các phiên bản hiện đại hóa làm bằng hợp kim; có các khe, chốt, khoang để lắp nòng súng, bệ cò, vòng cò, bệ búa, khóa nòng, hộp tiếp đạn, ốp báng, chốt an toàn. Loại súng này được trang bị phổ biến trong quân đội và cảnh sát cho đến khi xảy ra sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991.

Súng ngắn Makarov sử dụng loại đạn 9 x 18 mm mới có giá thành sản xuất tương đối thấp, loại đạn này có sức xuyên phá mạnh ở tầm gần. Hộp tiếp đạn nguyên bản của súng sử dụng lò so đẩy thẳng với sức chứa 8 viên ( lên đến 12 viên ở phiên bản cải tiến), có chốt chặn khóa nòng báo hết đạn.

     

3.  Súng AK-47

Súng Tiểu liên AK do Liên Xô sản xuất đầu tiên. AK viết tắt của Atomat Kalashnicov (súng Kalashnicov tự động), do Kalasnicov chế tạo năm 1947, còn gọi là súng AK 47, AK thường hay AK cỡ 7,62 mm.Sau này có một số súng được cải tiến như: AKM, AKMS, và nhiều phiên bản khác. - Súng AK trang bị cho từng người dùng để tiêu diệt sinh lực địch. Súng có lê để đánh gần.– Súng dùng đạn cỡ 7,62 mm x 39 mm kiểu 1943 do Liên Xô chế tạo hoặc kiểu 1956 do Trung Quốc chế tạo. Súng dùng chung đạn với các loại súng: Súng trường CKC, K63, trung liên RPD, RPK.– Tầm bắn ghi trên thước ngắm : 800m, AK cải tiến là 1000m.– Tầm bắn hiệu qủa: 400; hỏa lực tập trung: 800 m; bắn máy bay, quân nhảy dù : 500m– Tầm bắn thẳng: Mục tiêu cao 0.5m là 350m, mục tiêu cao 1.5m là 525m– Tốc độ của đầu đạn: AK:710m/s; AK cải tiến:715m/s– Tốc độ bắn chiến đấu: phát một: 40phát/phút, liên thanh: 100phát/phút.– Trọng lượng của súng là 3,8kg, AKM : 3,1kg, AKMS : 3,3kg.– Hộp tiếp đạn chứa 30 viên nặng 0,5 kg.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Công ty Cổ phần Đầu tư và Công nghệ Việt Hoàng.

Hotline: 0961.963.555

Quyền Và Nghĩa Vụ Của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Về Phòng Thủ Dân Sự / 2023

Quyền và nghĩa vụ của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam trong hoạt động phòng thủ dân sự được quy định tại Điều 1 Thông tư 10/2010/TT-BQP quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị quân đội, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức trung ương thực hiện Nghị định 117/2008/NĐ-CP về phòng thủ dân sự do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành. Cụ thể là:

1. Chủ trì giúp Bộ Quốc phòng, Chính phủ hướng dẫn và theo dõi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan, tổ chức khác ở Trung ương (sau đây gọi chung là bộ, ngành), các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, dự án, đề án xây dựng các công trình phục vụ nhiệm vụ phòng thủ dân sự gắn với quy hoạch thế trận quân sự các khu vực phòng thủ theo quy định của pháp luật.

2. Tham mưu, đề xuất với Bộ Quốc phòng quy định quy chế làm việc của cơ quan thường trực phòng thủ dân sự của Bộ Quốc phòng và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị quân đội và lực lượng dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự.

3. Chỉ đạo lực lượng phòng thủ dân sự thuộc các cơ quan, đơn vị quân đội và lực lượng dân quân tự vệ phối hợp với lực lượng phòng thủ dân sự của các bộ, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo lĩnh vực được phân công đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn các quân khu, cơ quan quân sự địa phương tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự.

4. Chỉ đạo Cục Tác chiến

c) Giúp Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng trong việc hướng dẫn việc lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng hệ thống công trình, hạng mục phục vụ nhiệm vụ phòng thủ dân sự gắn với quy hoạch thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ và tổ chức việc thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Điều 14 Nghị định số 152/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về khu vực phòng thủ và Điều 11, Điều 12, Điều 13 Nghị định số 117/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ về phòng thủ dân sự ( Nghị định số 117/2008/NĐ-CP);

5. Chỉ đạo Cục Cứu hộ – Cứu nạn

a) Chủ trì, phối hợp với cơ quan thường trực phòng thủ dân sự Bộ Quốc phòng giúp Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phòng thủ dân sự trong lĩnh vực phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa;

6. Chỉ đạo Cục Dân quân tự vệ

a) Chủ trì nghiên cứu, soạn thảo trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự trong thời bình, thời chiến. Trực tiếp chỉ đạo công tác biên soạn tài liệu để bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, huấn luyện và diễn tập về phòng thủ dân sự cho lực lượng dân quân tự vệ. Chủ trì chỉ đạo, hướng dẫn việc huấn luyện, hội thi, hội thao, soạn thảo kế hoạch phòng thủ dân sự cho lực lượng dân quân tự vệ;

d) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự của lực lượng dân quân tự vệ. Phối hợp với Cục Tuyên huấn, Cục Chính sách thuộc Tổng cục Chính trị nghiên cứu, đề xuất, hướng dẫn việc khen thưởng và thực hiện chính sách đối với tập thể, cá nhân thuộc lực lượng dân quân tự vệ bị ốm đau, tai nạn, bị chết, bị thương hoặc hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo quy định của pháp luật;

đ) Tham mưu cho Hội đồng Giáo dục quốc phòng – an ninh Trung ương chỉ đạo đưa nội dung thuộc nhiệm vụ phòng thủ dân sự vào chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho các đối tượng cán bộ và chương trình giáo dục quốc phòng – an ninh cho học sinh, sinh viên và tuyên truyền cho toàn dân.

7. Chỉ đạo Cục Quân huấn

a) Chủ trì giúp Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo xây dựng chương trình, nội dung và biên soạn tài liệu huấn luyện về phòng thủ dân sự trên lĩnh vực được phân công; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, chỉ đạo huấn luyện, tổ chức diễn tập, hội thi, hội thao về phòng thủ dân sự cho các cơ quan, đơn vị quân đội;

b) Phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng giúp cơ quan thường trực phòng thủ dân sự Bộ Quốc phòng lập kế hoạch và hướng dẫn cơ quan chức năng các bộ, ngành, địa phương về nội dung bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện cho lực lượng phòng thủ dân sự và phổ biến trong toàn dân các biện pháp phòng, tránh, khắc phục hậu quả các loại vũ khí công nghệ cao, vũ khí hủy diệt lớn và các thảm họa do chiến tranh gây ra;

8. Chỉ đạo Cục Quân lực

a) Tham mưu cho Bộ Quốc phòng trong việc mua sắm, đăng kiểm và ban hành quy chế quản lý, sử dụng các loại phương tiện, trang thiết bị, vật tư bảo đảm cho nhiệm vụ phòng thủ dân sự thuộc lĩnh vực được phân công theo quyết định Thủ tướng Chính phủ đối với các đơn vị quân đội khi thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự theo khoản 1 Điều 10 của Nghị định số 117/2008/NĐ-CP;

b) Phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật tham mưu cho Bộ Quốc phòng xây dựng quy hoạch, kế hoạch sản xuất các loại phương tiện, trang thiết bị, vật tư cho nhiệm vụ phòng thủ dân sự của các đơn vị quân đội và lực lượng dân quân tự vệ; bố trí nơi cất giữ sẵn sàng đáp ứng yêu cầu huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao và thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự.

9. Chỉ đạo các cơ quan khác thuộc Bộ Tổng Tham mưu, Ban Chỉ huy quân sự bộ, ngành và lực lượng dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự trên lĩnh vực được phân công. Thường xuyên báo cáo Thủ trưởng Bộ Quốc phòng kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng thủ dân sự của Quân đội, các bộ, ngành và lực lượng dân quân tự vệ.

Trân trọng!

Việt Nam Hi Sinh Lợi Ích Kinh Tế Ngắn Hạn Để Bảo Vệ Tính Mạng Nhân Dân / 2023

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội – ông Nguyễn Đức Chung đã nói như vậy tại phiên họp cấp thị trưởng của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu các thành phố chống lại COVID-19 (CAC) năm 2020 diễn ra tối 2-6.

Đây là sự kiện tổ chức theo sáng kiến của Thị trưởng thủ đô Seoul (Hàn Quốc) Park Won-soon, bằng hình thức trực tuyến, và có sự tham dự của lãnh đạo 40 thành phố lớn trên khắp thế giới.

Phát biểu khai mạc, Thị trưởng Seoul Park Won-soon nhắc lại mối đe dọa của đại dịch toàn cầu COVID-19, qua đó khuyến nghị chính quyền các thành phố cần ưu tiên nâng cao năng lực của hạ tầng y tế nhằm đảm bảo khả năng chống lại các bệnh dịch mới.

Đồng thời chuẩn bị đầy đủ vật tư y tế, sẵn sàng hệ thống giao thông, liên lạc cho các tình huống phòng dịch, chú trọng phát triển các công nghệ số không chạm nhằm hạn chế lây lan của các loại virus.

Thị trưởng Seoul khẳng định những biện pháp này giúp các thành phố có thể tăng sức chống chịu, đảm bảo phòng chống các loại bệnh dịch mới, giảm tổn thương đối với người nghèo, người cao tuổi, đồng thời hạn chế sự bất bình đẳng xã hội do các biện pháp phòng chống dịch gây ra.

Chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch của Hà Nội, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Đức Chung cho biết, ngay từ rất sớm, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ra lời kêu gọi cả nước Việt Nam thực hiện quyết liệt công tác phòng, chống dịch COVID-19, với tư tưởng xuyên suốt là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, “chống dịch như chống giặc”, chấp nhận hi sinh lợi ích kinh tế ngắn hạn để bảo vệ tính mạnh, sức khỏe nhân dân.

“Chính sự chỉ đạo, hành động đúng đắn và rất sớm này, đã tạo niềm tin, sự đoàn kết, nhất trí của cả hệ thống chính trị, đồng lòng, nhất trí, tự giác tham gia vào công tác phòng chống dịch” – ông Chung nói.

Theo ông Chung, thành phố Hà Nội đã tổ chức truy dấu tiếp xúc rất chi tiết và rất nhanh. Người tiếp xúc trực tiếp đưa vào cách ly tại các cơ sở y tế, doanh trại quân đội. Người tiếp xúc gián tiếp tổ chức cách ly tại nhà, có sự giám sát chặt chẽ của cộng đồng và y tế tuyến cơ sở.

Ngoài việc phản ứng nhanh, tập trung truy dấu tiếp xúc, Hà Nội đã cung cấp thông tin và tuyên truyền một cách rộng rãi, công khai, minh bạch về tình hình dịch bệnh cho tất cả mọi người dân bằng nhiều phương tiện thông tin truyền thông, xây dựng Smartcity để quản lý người cách ly…Đồng thời, tổ chức xét nghiệm nhanh, chữa bệnh tích cực cho tất cả các bệnh nhân. Tất cả những người cách ly và người bệnh đều được miễn phí.

“Các biện pháp quyết liệt, đồng bộ như trên là những nguyên nhân cơ bản, quan trọng tạo ra sự thành công của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong cuộc chiến chống COVID-19 mà Hà Nội muốn chia sẻ” – ông Chung nói.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cũng đồng tình về sự cần thiết phải thiết lập sự hợp tác giữa các thành phố để chia sẻ thông tin. Đây là một trong những cách hiệu quả nhất để đối phó với dịch COVID-19, đồng thời là cơ hội mới để tiếp tục hợp tác khắc phục, phát triển kinh tế do cuộc khủng hoảng dịch bệnh gây ra.

Kết thúc hội nghị, lãnh đạo các thành phố đã ra Tuyên bố Seoul. Tuyên bố nhấn mạnh tới mục tiêu chung là xây dựng các thành phố nơi người dân có thể có cuộc sống an toàn và lành mạnh dưới sự bảo vệ kịp thời và phòng ngừa triệt để các bệnh truyền nhiễm.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Được Trang Bị Những Loại Súng Ngắn Nào / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!