Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Dạy Con Easy &Amp; Lợi Ích Đối Với Mẹ Và Bé / 2023 # Top 15 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Phương Pháp Dạy Con Easy &Amp; Lợi Ích Đối Với Mẹ Và Bé / 2023 # Top 15 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phương Pháp Dạy Con Easy &Amp; Lợi Ích Đối Với Mẹ Và Bé / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phương pháp dạy con EASY là gì?

EASY là nếp sinh hoạt mang tính chất chu kì lặp đi lặp lại của trẻ sơ sinh từ khi chào đời. Chu kì này sẽ được lặp lại trong một ngày, được tính từ việc bé ngủ dậy buổi sáng và EAT (ăn), sau đó là đến ACTIVITY, bé sẽ có thời gian chơi, vận động; tiếp đó là SLEEP: mẹ cho bé ngủ và YOUR TIME nghĩa là mẹ có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hoặc làm những công việc khác của mẹ. Vòng lặp này sẽ được bắt đầu lại khi bé kết thúc việc ngủ và lại tỉnh giấc để ăn cho đến khi hết một ngày và bé ngủ giấc đêm.

Có một số mẹ nghĩ EASY là phương pháp luyện ngủ nhưng điều này hoàn toàn không chính xác. Như đã nêu ở trên, EASY là nếp sinh hoạt của bé, luyện ngủ (bằng các phương pháp Để trẻ khóc – Cry It Out, Để trẻ khóc có kiểm tra – Cry it out with check hay Nhấc lên đặt xuống – Pick up Put down…) chỉ là một phần của EASY mà thôi.

Bé dần hình thành nhịp sinh học khi biết được thứ tự các việc sẽ diễn ra tiếp sau đó. Bé hiểu khi ngủ dậy, mình sẽ được ăn, ăn xong mình có thời gian chơi với mẹ và sau đó, khi mệt rồi, mình sẽ được đi ngủ. Đây có thể được coi là yếu tố then chốt xây dựng kết nối và niềm tin giữa mẹ và bé. Mẹ hiểu đúng về chu kì của con, con cũng có thể hiểu và chờ điều tiếp theo sẽ diễn ra.

Mẹ đừng nghĩ con bé xíu vậy sao hiểu được. Khoa học đã chứng minh được dù là ở động vật bậc nào, dù mức độ phát triển có khác nhau thì cũng hoạt động theo thói quen hay còn có thể gọi là nhịp sinh học. Chính vì thế, loài người – động vật bậc cao cũng không nằm ngoài qui luật này của tạo hóa. Mẹ yên tâm, bé hoàn toàn có thể hiểu và hình thành nhịp sinh hoạt phù hợp với sự phát triển trong các giai đoạn của mình. Mẹ càng tôn trọng, càng hiểu nhịp sinh học của con bao nhiêu thì con càng dễ dàng thể hiện đúng và đủ nhu cầu của mình bấy nhiêu.

Việc đọc được đúng tín hiệu của bé giúp giảm thiểu tình trạng ăn vặt (do mẹ nghĩ con đói, tiếp tục cho ăn thêm trong khi thực chất bé gắt ngủ chẳng hạn), ngủ không thành giấc (do bé không đói, mẹ cho con ti cách cữ ti trước một khoảng thời gian ngắn, bé chỉ ti được sữa đầu gây buồn ngủ và ngủ trên ti mẹ)

Bên cạnh đó, mẹ cũng sẽ có thời gian để nghỉ ngơi và làm những công việc cá nhân của mình khi bé ngủ. Mẹ có thể thư giãn, chăm sóc bản thân và phần nào bớt đi căng thẳng trong quá trình nuôi con.

Phương Pháp Easy – Tuyệt Chiêu Nuôi Con Mạnh Khoẻ, Mẹ Nhàn Tênh / 2023

Phương pháp EASY là một nếp sinh hoạt mang tính chu kì lặp đi lặp lại dành cho trẻ sơ sinh. Điều này không chỉ giúp bé ăn ngon, ngủ ngoan. Mà còn là tuyệt chiêu “vàng” giúp hội mẹ bỉm sữa giảm thiểu sự mệt mỏi vì chăm sóc bé.

Phương pháp EASY là gì?

Trẻ em khi mới sinh ra chưa hề nhận thức được thích hay không thích cái gì. Tất cả những biểu hiện của trẻ là do bản năng chi phối. Ngay từ lúc này, bé rất cần mẹ định hướng, thiết lập và tạo thói quen sinh hoạt tốt. Và EASY chính là một phương pháp tuyệt vời. Để tạo lập nếp sinh hoạt tốt cho bé.

EASY là viết tắt của từ tiếng Anh (Eat – Activity – Sleep – Your time). Dịch ra tiếng Việt là chuỗi hoạt động bao gồm: Ăn – Chơi – Ngủ – Mẹ thư giãn.

Đây là một khái niệm về chu kì sinh hoạt dành cho bé sơ sinh. Theo đó, bé ngủ dậy sẽ được cho ăn (Eat). Được vui chơi vận động (Activity). Sau đó mẹ cho bé ngủ (Sleep).  Và mẹ sẽ có thời gian để thư giãn (Your time).

Khi bé ngủ dậy, mẹ lại tiếp tục thực hiện các bước trong một chu kỳ EASY mới. Cứ như vậy lặp đi lặp lại. Cho đến khi bé đi vào giấc ngủ đêm.

Tuy nhiên không ít mẹ bỉm sữa lầm tưởng. EASY là phương pháp luyện ngủ cho trẻ sơ sinh. Thế nên, chúng ta cần hiểu đúng EASY là phương pháp luyện nếp sinh hoạt cho bé ngay từ khi con còn rất nhỏ. Do đó, việc luyên ngủ. Chỉ là một phần trong phương pháp nuôi con EASY mà thôi.

Những lợi ích mà phương pháp EASY mang lại cho mẹ và bé

Lợi ích mà phương pháp EASY đối với bé

Khi áp dụng phương pháp EASY cho con. Bé sẽ dần hình thành một đồng hồ sinh học của riêng mình. Khi biết được thứ tự các việc sẽ diễn ra tiếp sau đó.

Bé sẽ hiểu khi ngủ dậy, mình sẽ được ăn. Ăn xong mình có thời gian chơi với mẹ. Và sau đó, khi mệt rồi, mình sẽ được đi ngủ. Đây có thể được coi là yếu tố then chốt. Để xây dựng và kết nối niềm tin giữa mẹ và bé. Khi đó, mẹ hiểu đúng về chu kì của con. Con cũng có thể hiểu và chờ điều tiếp theo sẽ diễn ra.

Vì thế, nếu mẹ “kết nối” được với nhịp sinh học của con sớm bao nhiêu. Con càng có điều kiện phát biểu nhu cầu bấy nhiêu. Đây là một điều có lợi cho bé rất nhiều.

Lợi ích mà phương pháp EASY cho mẹ

Khi mẹ và con sinh hoạt theo phương pháp EASY. Mẹ không nhầm lẫn các tín hiệu con “phát” ra. Mẹ không bị nhầm tiếng khóc vì con mệt muốn đi ngủ. Với khi con đòi ăn. Hay tiếng khóc con chán muốn thay đổi trò chơi. Hoặc khóc bởi con đau bụng…

Khi đó, mẹ sẽ biết cách phản ứng với từng nhu cầu khác nhau của bé. Mẹ hiểu được con hơn. Và tránh được vô vàn các vấn đề ăn ngủ phức tạp của con. Đặc biệt khi con bước vào giai đoạn 4, 6, 10 hay 14 tháng.

Việc đọc được đúng tín hiệu của bé. Sẽ giúp giảm thiểu tình trạng ăn vặt. Hay ngủ không thành giấc. Bên cạnh đó, mẹ cũng sẽ có thời gian để nghỉ ngơi. Và làm những công việc cá nhân của mình khi bé ngủ. Mẹ có thể thư giãn, chăm sóc bản thân. Và phần nào bớt đi căng thẳng trong quá trình nuôi con.

Lợi ích lâu dài

Phương pháp EASY chính là nền tảng cơ bản giúp bé yêu tự lập. Như bạn có thể thấy, trình tự trong chu kỳ EASY tách rời việc ăn và ngủ. Bởi giai đoạn hoạt động: CHƠI.

Chu kỳ ngủ của bé rất ngắn. Cứ sau 40 phút bé hết 1 chu kỳ ngủ. Sau đó trở mình tỉnh giấc và đi vào chu kỳ ngủ tiếp theo. Mỗi giấc ngủ của bé sẽ gồm nhiều chu kỳ ngủ ngắn. Với EASY, con được khuyến khích tự đi ngủ khi đã mệt. Và con không cần ti mẹ để ngủ lại. Đặc biệt con không cần ăn vặt chỉ để làm “mồi” cho việc ngủ. Do đó khi thức dậy, bé thực sự đói để ăn no. Và khi bé ăn no bé có đủ năng lượng để ngủ đủ cho đến khi đói.

Mẹ cũng không bị dính lấy bé vì bé cần ti mẹ để ngủ. Khi đó, mẹ sẽ có thời gian chăm sóc bản thân mình và gia đình. Vì vậy, EASY chính là chìa khóa. Để đi đến nếp sinh hoạt ăn ngủ điều độ cho cả gia đình.

Mẹo nhỏ cho mẹ giúp quá trình EASY hiệu quả

Để phương pháp EASY nhanh đạt được hiệu quả. Mẹ có thể áp dụng những mẹo nhỏ sau:

Cho bé ngậm ti giả để hạn chế việc vừa ti vừa ngủ. Đặc biệt bạn có thể dự trữ sữa mẹ vào tủ đông. Hoặc ngăn đông tủ lạnh để luôn có sẵn sữa cho bé ti.

Dùng loa nghe nhạc mở những giai điệu nhẹ nhàng, êm ái khi con ngủ. Khi chơi cùng con. Mẹ có thể chọn những bản nhạc vui tươi có nhịp điệu nhanh hơn.

Thay đổi vị trí nằm cho bé. Thay vì suốt ngày cho con nằm một chỗ trên giường. Thì mẹ có thể linh động thay đồi chỗ nằm cho con. Như trên nệm hơi, cũi hay các loại xe cho bé…

Thường xuyên tương tác, trò chuyện cùng con. Để bé có thêm kết nối với cha mẹ.

Việc thiết lập cho trẻ một nếp sinh hoạt tốt (đặc biệt là trẻ sơ sinh). Là điều không hề dễ dàng. Các mẹ không nên nóng vội. Hãy từ từ thực hiện từng chu kỳ EASY. Ngay cả khi bé không “hợp tác. Bởi EASY là một trong những phương pháp chăm con mạnh khoẻ. Mà còn giúp mẹ có nhiều thời gian hơn cho bản thân mình.

Phương Pháp Dạy Học Môn Tự Nhiên Xã Hội / 2023

Phương pháp dạy học môn tự nhiên xã hội Biên tập bởi: nguyễn Thị Thấn

Phương pháp dạy học môn tự nhiên xã hội Biên tập bởi: nguyễn Thị Thấn Các tác giả: nguyễn Thị Thấn

Phiên bản trực tuyến: http://voer.edu.vn/c/94d71ad2

2/131

Câu hỏi 1 Ở nước ta từ trước đến nay đã trải qua mấy cuộc cải cách giáo dục?

Hint Lưu ý: Một cuộc cải cách giáo dục không phải đơn thuần là một lần thay sách giáo khoa. 2 cuộc 3 cuộc 4 cuộc

3/131

Câu hỏi 2 Read the paragraph below and fill in the missing words. 1. Cuộc cải cách giáo dục gần đây nhất (lần thứ 3) được tiến hành vào khoảng những năm sau 2000?True False

Hint Chương trình tiểu học mới được Bộ trưởng kí duyệt vào năm 2001, nhưng nhièu tài liệu lại gọi đó là Chương trình 2000 Incorrect! Correct! 2. Trong lần đổi mới giáo dục sau năm 2000, tên môn học Tự nhiên và Xã hội đã thay đổi?True False

Hint Hãy xem xét tên gọi của các môn học ở cả hai giai đoạn. Correct!

4/131

Incorrect!

Câu hỏi 3 Môn học với tên gọi “Tự nhiên và Xã hội” lần đầu tiên được dạy ở nước ta từ khi nào?

Câu hỏi 4

5/131

Vì sao có thể nói trong lần đổi mới giáo dục sau năm 2000, tên môn học “Tự nhiên và Xã hội” đã thay đổi?

6/131

Dạy cái gì “DẠY CÁI GÌ”

Chúng ta đang sống trong thời đại “bùng nổ thông tin”. Thông tin ngày nay phát triển vớí tốc độ rất cao không chỉ về lượng mà cả nguồn. Ngày càng có nhiều lĩnh vực thông tin mới. Nhà trường không thể thờ ơ với những thông tin đó vì chúng có quan hệ mật thiết với đời sống của xã hội và của từng thành viên trong đó có các em học sinh. Vậy làm thế nào để bổ sung những thông tin đó vào nội dung dạy học ở nhà trường. Trên thế giới có hai hướng lựa chọn và đưa thông tin mới vào nội dung học tập trong trường học. Đó là: Tăng thêm môn học mới, kéo dài thời gian đào tạo trong nhà trường. Sắp xếp lại kiến thức cũ theo hướng tích hợp, bỏ đi những kiến thức trùng lặp và bổ sung thêm những thông tin mới. Trong hai hướng trên đa số các nước đều lựa chọn hướng thứ hai, tức là hướng tích hợp. Cụ thể là sắp xếp và tích hợp các môn học hiện hành và bổ sung thêm các thông tin mới vào các môn học đã có. Tích hợp đã trở thành xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Quan điểm tích hợp được đề cao từ bao giờ? Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình giáo dục bắt đầu được đề cao ở Mỹ và các nước châu Âu từ những năm 50 – 60, ở Châu Á vào những năm 70. Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta được bắt đầu từ cuộc Cải cách Giáo dục lần thứ 3. Một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận nêu trên là trong chương trình này lần đầu tiên các kiến thức về khoa học tự nhiên và

7/131

khoa học xã hội được kết hợp trong một môn học. Môn học này được học từ lớp 1 đến lớp 5 ở trường tiểu học với tên gọi Tự nhiên và Xã hội. Trên thế giới từ những năm 50 của thế kỉ trước. Ở Việt Nam từ Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3.

Vì sao tích hợp lại trở thành xu thế phát triển giáo dục? Ngoài việc bùng nổ thông tin còn một lí do khác. Đó là ngày nay loài người đang phải đối mặt với nhiêu vấn đề như vấn đề môi trường, tài nguyên, dân số … Các chuyên gia cho rằng việc chuyên môn hoá quá cao các lĩnh vực kiến thức chính là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề của thời đại. Sự phát triển của khoa học theo chiều hướng phân khoa và chuyên khoa giúp cho nhân loại ngày càng hiểu một cách tỉ mỉ về vũ trụ bao quanh. Song phương hướng phát triển này làm cho các chuyên gia chuyên sâu một lĩnh vực quá nhỏ nên ngày càng mất đi khả năng bao quát, liên kết và nhìn nhận các sự vật và hiện tượng trong mối liên hệ qua lại vốn tồn tại trong thế giới tự nhiên và xã hội. Điều đó làm cho nhiều công trình nghiên cứu về khoa học và công nghệ cứ cố gắng làm cải thiện một mặt nào đó của thế giới tự nhiên và xã hội nhưng lại làm ảnh hưởng xấu đến các mặt khác, làm phá vỡ sự cân bằng của hệ thống vốn thống nhất và hoàn chỉnh của môi trường tự nhiên và xã hội.

8/131

9/131

“Chương trình các môn học về tự nhiên và xã hội ” CHƯƠNG TRÌNH CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI BẢNG SO SÁNH CẤU TRÚC CỦA HAI CHƯƠNG TRÌNH

BẢNG SO SÁNH CẤU TRÚC CỦA MÔN (PHẦN) KHOA HỌC

BẢN SO SÁNH CẤU TRÚC CỦA MÔN (PHẦN) LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ

10/131

11/131

“Định hướng đổi mới chương trình tiểu học 2000 ” ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC 2000 Chỉ có một chương trình tiểu học thống nhất trong toàn quốc. Chương trình phải đáp ứng được những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặt trọng tâm vào đổi mới các phương pháp dạy học. Đẩy cao mức độ tích hợp trong cấu trúc chương trình các môn học. Chương trình được xây dựng dựa trên nguyện vọng và sở thích của học sinh. Là một chương trình mở và mềm dẻo hơn các chương trình cũ. Đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá. THỰC HÀNH Trong Chương trình Cải cách có những loại chương trình tiểu học nào? Dành cho những đối tượng nào? Từ cuộc cải giáo dục lần thứ 3 tồn tại 4 loại chương trình: 1. chương trình hệ 165 tuần (đại trà) 2. Chương trình hệ 120 tuần (những vùng khó khăn) 3. Chương trình hệ 100 tuần (phổ cập) 4. Chương trình thực nghiệm công nghệ giáo dục (các trường thực nghiệm của Trung tâm công nghệ giáo dục) Hãy lấy ví dụ để chứng minh rằng Chương trình 2000: 1. Được xây dựng dựa trên nguyện vọng và sở thích của học sinh. 2. Là một chương trình mở và mềm dẻo hơn các chương trình cũ.

12/131

Câu hỏi 1 So sánh mức độ tích hợp ở giai đoạn I và II thì giai đoạn nào có mức độ tích hợp cao hơn?

13/131

Câu hỏi 2 Chương trình nào có mức độ tích hợp cao hơn?

Hint So sánh chương trình cải cách và chương trình 2000. Chương trình cải cách chương trình mới Sai Đúng

Câu hỏi 3

14/131

Chúng ta biết rằng trong chương trình cải cách chỉ có một môn học Tự nhiên và Xã hội, còn trong chương trình 2000 là 3 môn học Tự nhiên và Xã hội; Khoa học; Lịch sử và Địa lí. Chương trình nào có mức độ tích hợp cao hơn? Tại sao?

Tuy về số môn học về tự nhiên và xã hội ở chương trình mới nhiều hơn so với chương trình cũ. Song cấu trúc nội dung của các môn học này lại thể hiện mức độ tích hợp cao hơn. Vì vậy chương trình mới có mức độ tích hợp cao hơn.

Câu hỏi 1 Trong hai chương trình, Chương trình cải cách và chương trình 2000 (phần các môn về tự nhiên và xã hội) chương trình nào có mức độ đồng tâm cao hơn? Vì sao? Phần nội dung các môn về tự nhiên và xã hội trong chương trình mới được xây dựng ở mức độ đồng tâm cao hơn chương trình cải cách.

Câu hỏi 2 Những bằng chứng nào thể hiện chương trình mới có mức độ đồng tâm cao hơn?

16/131

Đối tượng học tập của môn học là chính các sự vật, hiện tượng cụ thể, gần gũi học sinh. (với các môn học khác chúng chỉ là phương tiện) Các sự vật, hiện tượng này các em học sinh đã được tiếp xúc từ trước khi tới trường từ nhiều nguồn khác nhau: gia đình, các phương tiện thông tin đại chúng, cộng đồng, bạn bè …. Kiến thức thuộc môn học được xây dựng theo quan điểm đồng tâm, nên những cái đã biết, đã học luôn là cơ sở, điểm tựa cho viẹc học tập những kiến thức tiếp theo.

17/131

“Mục tiêu các môn học về tự nhiên và xã hội ” MỤC TIÊU CÁC MÔN HỌC VỀ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI Môn học

TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

KHOA HỌC

LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ

– Con người và sức khỏe (cơ thể người, cách giữ vệ MỤC sinh cơ thể người TIÊU và phòng tránh VỀ bện tật, tai nạn)KIẾN Một số sự vật, THỨC hiên thương đơn giản trong tự nhiên và xã hội xung quanh

– Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người; cách phòng tránh một số bệnh tật thông thường và bệnh truyền nhiễm. – Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật, thực vật. – Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất .

– Các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí, các mối quan hệ thuộc phạm vi: địa phương, đất nước Việt Nam và một số nước trên thế giới.

– Tự chăm sóc sức khỏe bản thân; ứng xử và đưa ra quyết định hợp lí trong đời sống để phòng tránh bệnh tật và tai nạn. MỤC Quan sát, nhận TIÊU xét, nêu thắc mắc, VỀ KĨ đặt câu hỏi, diễn NĂNG đạt những hiểu biết của mình (bằng lời nói hoặc hình vẽ…) về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội)

– Ứng xử phù hợp với với các vấn đề về sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng.- Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản và gần gũi với đời sống, sản xuất.Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm tòi thông tin để giải đáp, diễn giải những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…- Phân tích, so sánh để rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên.

– Quan sát các sự vật, hiện tượng; thu thập tìm kiếm tư liệu lịch sử, địa lí từ các nguồn khác nhau.- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp.- Phân tích so sánh, đánh giá các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí.- Thông báo những kết qủa học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…- Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống.

– Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản

– Ham học hỏi, ham hiểu biết thế giới xung

– Có ý thức thực hiện các quy tắc

18/131

Phương Pháp Dạy Học Nghiên Cứu Tình Huống, Giải Quyết Vấn Đề / 2023

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trong thực tế làm việc , học viên thường phải tiếp xúc với các “tình huống”, “vấn đề” (những khó khăn cần giải quyết…); nhưng khi học tập, Học viên chỉ được dạy các theo các môn học riêng rẽ, ít có dịp luyện tập giống như trong thực tế, các năng lực đòi hỏi lồng ghép nhiều kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Nhiều vấn đề thực tiễn không giống như khi học, hoặc chưa có giải pháp khuôn mẫu, nên học viên sau tốt nghiệp thường lúng túng, nhất là trong ra quyết định xử lý tình huống.

I. DẠY HỌC QUA NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG

a) Tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề cần được giải quyết.

b) Tình huống “có vấn đề”: là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự việc hay một quá trình nào đó của thực tế.

c) Tình huống dạy học: mô tả những sự kiện, hoàn cảnh có thực hoặc hư cấu nhằm đạt những mục tiêu, mục đích dạy học.

d) Dạy học qua (bằng) nghiên cứu tình huống: dạy học dựa trên tình huống có thật hoặc giống như thật, đòi hỏi người học phải tìm hiểu, suy nghĩ, đề ra được quyết định thích hợp nhất.

Nghiên cứu tình huống còn gọi là nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) là một trong những phương pháp dạy học chủ động, được sử dụng ngày càng phổ biến, nhằm khắc phục tình trạng thực tế là trong quá trình học tập, người học không được tự ra các quyết định; nên khi ra thực tiễn sẽ lúng túng, thiếu suy nghĩ, cân nhắc, không đề ra được quyết định hợp lý khi thực hiện nhiệm vụ theo chức trách đảm nhiệm.

2. Yêu cầu khi biên soạn tình huống, phân loại tình huống

a. Yêu cầu khi biên soạn tình huống

Tình huống được biên soạn cần đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Tình huống phải mang tính thời sự, sát với thực tế; phải chứa đựng thông tin đầy đủ, buộc người học phải sử dụng thông tin trong tình huống để giải quyết vấn đề. Trong tình huống phải cung cấp đầy đủ các dữ liệu cần thiết như thời gian, địa điểm, những nguyên nhân phát sinh sự kiện, vấn đề.

+ Tình huống đưa ra phải thể hiện những thách thức thực sự đối với người học, phải tạo ra khả năng để người học đưa ra nhiều giải pháp, để thu hút sự chú ý, kích thích tư duy, tình huống phải “có vấn đề” và không có câu trả lời duy nhất đúng cho vấn đề đó. Các nhân vật, sự kiện trong tình huống có tính hiện thực.

+ Tình huống đưa ra phải có tính phức tạp vừa đủ, buộc người học phải suy nghĩ, vận dụng khả năng trí tuệ để giải quyết. Một tình huống có thể rất dài, phức tạp hoặc rất ngắn gọn và đơn giản. Độ dài và độ phức tạp của tình huống không phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy mà giảng viên đề ra. Nói chung, độ dài của tình huống không quyết định mức độ phức tạp của tình huống. Tuy nhiên, giảng viên có thể tạo ra các nhân vật, sự kiện, bổ sung thông tin để phục vụ cho mục tiêu giảng dạy của mình.

Có nhiều loại tình huống và mục đích sử dụng khác nhau. Có thể xếp các loại tình huống theo mức độ phức tạp dần như sau:

Các tình huống chứng minh;

Tình huống đề cập tới một vụ việc.

Tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết.

Tình huống có tính chất tổng hợp.

Tình huống có tính chất tham gia trình diễn.

Tình huống chứng minh: là một câu chuyện được đặt ra, không dựa vào một hoàn cảnh hoàn toàn có thực, mà chỉ có mục đích nói lên một sự thực mà tác giả muốn diễn tả. Những tình huống này không có gì để bàn cãi, vì người học hoặc chấp nhận sự thật hoặc không.

Tình huống nêu ra vấn đề phải giải quyết: khác với tình huống về một vụ việc ở chỗ, vấn đề không được nói rõ ra. Việc đầu tiên của người học là phải tìm ra vấn đề. Với loại tình huống nêu vấn đề, thông thường người học được chỉ định thực hành những điều do tình huống đưa ra.

Tình huống trình diễn: là loại tình huống tổng hợp, trình bày thông qua các vai diễn. Người học và giảng viên đều tham dự vào việc đóng các vai của tổ chức đã thể hiện, trở thành những người trong cuộc.

Để thực hiện phương pháp dạy học bằng nghiên cứu tình huống, cần có các điều kiện sau:

a) Người học đã được chuẩn bị trước về kiến thức, đã được học hay tự học về nội dung cơ bản của tình huống nghiên cứu và cách ra quyết định khi nghiên cứu tình huống.

b) Người viết, hướng dẫn sử dụng nghiên cứu tình huống phải nắm vững kiến thức cơ bản chung về nội dung của nghiên cứu tình thuống, tốt nhất là đã gặp và giải quyết tốt tình huống được nêu để đảm bảo tình huống đó có đầy đủ các dữ kiện và giống như trong thực tế đã có (tình huống phải sát với thực tế).

c) Dữ kiện phải đủ thông tin (không thừa, không thiếu, không “bẫy” người học). Tình huống phải được viết, in, phát cho từng người (hoặc chiếu toàn bộ lên màn hình) để người học có thể tự học, có điều kiện suy nghĩ, nghiên cứu, cân nhắc khi ra quyết định; không thể yêu cầu người học chỉ nghe đọc thoáng qua mà ra ngay quyết định.

4. Cách tiến hành dạy học bằng nghiên cứu tình huống

b) Xác định mục tiêu học tập.

d) Nêu câu hỏi (để học viên ra quyết định). Có thể thực hiện theo hai cách:

Câu hỏi mở: Yêu cầu người học tự đề ra biện pháp để giải quyết vấn đề trong nghiên cứu tình huốn, giúp cho người học được chủ động, thoải mái hơn.

Câu hỏi đóng: Đề ra sẵn một số biện pháp để người học chọn ra biện pháp đúng, thích hợp nhất sau khi đã nghiên cứu, suy nghĩ trên các dữ kiện của tình huống đã cho.

Câu hỏi đóng thường được trình bày theo hai dạng:

– Đề ra hay 5 biện pháp, chọn lấy 1.

f) Tổng kết (theo mục tiêu học tập).

5. Quy trình biên soạn và dạy học theo phương pháp nghiên cứu tình huống

– Xác định rõ mục tiêu học tập.

– Để khoảng 50% thời gian giới thiệu lý thuyết hoặc những nguyên tắc cơ bản của nội dung bài học (có thể hướng dẫn cho học viên tự học, giảng viên khái quát lại).

– Khoảng 10% thời gian, giảng viên tổng kết buổi trao đổi, củng cố nâng cao phần đã học.

6. Trường hợp vận dụng phương pháp dạy học bằng nghiên cứu tình huống.

– Dạy kỹ năng ra quyết định.

– Dạy kỹ năng giải quyết vấn đề.

7. Lợi ích của việc dạy học bằng nghiên cứu tình huống

– Người học có điều kiện vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống, sự việc cụ thể xảy ra trên thực tế.

– Giúp người học làm quen với cách giải quyết tình huống cụ thể ngay trong quá trình học tập ở trường.

Nguồn: nhà xuất bản quân đội nhân dân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phương Pháp Dạy Con Easy &Amp; Lợi Ích Đối Với Mẹ Và Bé / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!