Đề Xuất 2/2023 # Oxytocin Trong Sản Khoa: Những Điều Cần Biết # Top 5 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Oxytocin Trong Sản Khoa: Những Điều Cần Biết # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Oxytocin Trong Sản Khoa: Những Điều Cần Biết mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Lê Thị Phương – Khoa sản phụ khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long.

Oxytocin là thuốc dùng trong sản khoa, có tác dụng gây co bóp tử cung cả về tần số lẫn cường độ. Oxytocin là tên gọi chung quốc tế của dạng thuốc ống tiêm, với hàm lượng 1 ml 5 IU và 10 IU.

1. Chỉ định dùng Oxytocin

1.1. Trước khi sinh

Oxytocin được dùng để gây chuyển dạ ở các trường hợp buộc phải chủ động đình chỉ thai nghén do một số nguy cơ mà không cần thiết mổ lấy thai như:

Bên cạnh đó, oxytocin còn được sử dụng để gây cơn co tử cung trong trường hợp khởi phát chuyển dạ hoặc đã chuyển dạ nhưng lại tiến triển bất thường, chẳng hạn như:

Ối vỡ non, vỡ sớm, cạn ối hoặc bị nhiễm khuẩn;

Cơn co tử cung thưa, yếu;

Chuyển dạ kéo dài;

Màng ối đã vỡ nhưng chưa chuyển dạ, hoặc chưa có cơn co tử cung.

1.2. Sau khi sinh

Sau khi thai đã xổ hoặc đã mổ lấy thai ra, bác sĩ có thể chỉ định truyền oxytocin nhằm đề phòng và xử trí tích cực những trường hợp:

Chảy máu giai đoạn 3 của chuyển dạ;

Điều trị băng huyết sau sinh;

Chảy máu sau sảy thai, hoặc nạo hút thai.

2. Chống chỉ định

Chống chỉ định truyền oxytocin tuyệt đối khi không có chỉ định đẻ đường dưới (không thể sinh đường âm đạo) trong những trường hợp sau:

Bất tương xứng đầu thai nhi – khung chậu;

Nhau/rau tiền đạo trung tâm hoặc có khối u tiền đạo;

Cơn co cường tính;

Suy thai cấp tính và mãn tính;

Test có/không đả kích kèm theo biểu hiện bệnh lý;

Sản phụ mắc bệnh lý tim mạch gây rối loạn cung lượng tim hoặc các bệnh lý mạn tính nặng…;

Cơ sở y tế không có phòng và phương tiện mổ, không có bác sĩ phẫu thuật.

Ngoài ra, một số tình huống chống chỉ định dùng oxytocin tương đối còn bao gồm tử cung có sẹo do vết mổ lấy thai trước đây; đa thai, đa ối; sa dây rốn khi thai nhi còn sống; hoặc người mẹ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục như herpes sinh dục hoặc sùi mào gà.

3. Cách dùng và liều lượng oxytocin trong sản khoa

3.1. Cách dùng

Oxytocin có thể tiêm bắp, tiêm truyền tĩnh mạch chậm hoặc dùng bơm truyền tự động. Các bước tiến hành như sau:

Pha 5 đơn vị oxytocin vào 500 ml dung dịch glucose 5% / natri clorid 0,9% / dung dịch Ringer lactat;

Truyền nhỏ giọt tĩnh mạch chậm (TTM), liều lượng ban đầu khoảng 5 – 8 giọt/phút tới khi cơn co tử cung xuất hiện;

Bác sĩ tiến hành bấm ối, xé rộng màng ối;

Theo dõi sát tim thai, chuyển dạ bằng monitor sản khoa và cơn gò tử cung;

Điều chỉnh liều lượng giọt oxytocin nhằm đạt được tần suất cơn co thích hợp với diễn tiến của cuộc chuyển dạ;

Dựa trên tình hình của cuộc đẻ chỉ huy mà có thể cho oxytocin chảy chậm hoặc kết hợp với thuốc giảm co làm mềm cổ tử cung nếu cơn co mau.

Ghi lại diễn biến chuyển dạ trên biểu đồ.

Truyền oxytocin trong sản khoa được xem là phát huy hiệu khi sản phụ có cơn co đều đặn, cổ tử cung mở hết, có thể cho sinh đường dưới, và nhịp tim thai tốt, ngôi lọt và và em bé khỏe mạnh.

Sau sinh con, có thể dùng oxytocin để xử trí tích cực giai đoạn 3 chuyển dạ, cũng như đề phòng và điều trị băng huyết do đờ tử cung theo đúng phác đồ.

3.2. Liều lượng

TTM bằng bơm truyền tự động với liều lượng ban đầu 0,001 – 0,002 IU/phút, cách mỗi 30 phút tăng lên 0,001 – 0,002 IU/phút, cho đến khi có tối đa 3 hoặc 4 cơn co bóp tử cung trong 10 phút. Lưu ý tốc độ tối đa khuyến cáo 0,02 IU/phút, không được nhiều hơn 5 đơn vị trong 24 giờ và không TTM cả liều trong cuộc đẻ chỉ huy.

TTM chậm 5 IU ngay sau khi lấy nhau ra. Nếu đã TTM để gây chuyển dạ đẻ hoặc thúc chuyển dạ thì 1 vài giờ sau phải tăng tốc độ truyền trong giai đoạn 3. Có thể lựa chọn tiêm bắp ergometrin thay thế oxytocin khi không cần tác dụng nhanh.

Điều trị chảy máu sau sinh (đã xổ nhau thai)

TTM chậm 5 – 10 IU hoặc tiêm bắp 10 IU; đối với trường hợp nặng, TTM tổng liều 40 IU với tốc độ truyền là 0,02 – 0,04 IU/phút.

4. Lưu ý khi dùng oxytocin trong sản khoa

Để quá trình truyền oxytocin gây chuyển dạ sinh con trong sản khoa được diễn ra an toàn và phát huy hiệu quả tối đa, cần ghi nhớ một số lưu ý sau:

Yêu cầu đánh giá tình hình cả mẹ lẫn con trước khi gây chuyển dạ bằng oxytocin;

Cần giám sát chặt chẽ tần số nhịp tim thai, theo dõi cơn co bóp tử cung cũng như độ mở cổ tử cung, và độ lọt của ngôi để kịp thời xử trí trong suốt thời gian truyền oxytocin;

Trong trường hợp ca sinh chỉ huy kéo dài hơn 6 giờ nhưng không tiến triển tốt thì phải phẫu thuật lấy thai;

Để giữ được độ ổn định, oxytocin phải bảo quản trong bao bì kín, với nhiệt độ 15 – 30°C;

Một số tác dụng phụ khi truyền oxytocin có thể bao gồm nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, tim đập nhanh, giãn mạch, hạ huyết áp và da nổi mẩn.

5. Tai biến và xử trí khi dùng Oxytocin trong sản khoa

5.1. Cơn gò cường tính

Cơn gò cường tính là trình trạng có nhiều hơn 5 cơn co bóp tử cung trong vòng 10 phút và mỗi cơn co kéo dài trên 90 giây. Ngược lại với việc tăng số giọt truyền khi cơn co tử cung quá thưa và nhẹ, nếu gò quá mạnh thì lập tức giảm lưu lượng truyền và có thể kết hợp dùng giảm co tử cung.

Đối với cơn gò cường tính, cần nhanh chóng xử trí bằng cách:

Ngưng truyền oxytocin;

Phối hợp thuốc giảm gò như phác đồ dọa vỡ và vỡ tử cung;

Theo dõi sát tần số cơn gò, cũng như tình trạng tim thai khoảng 30 – 45 phút;

Phẫu thuật lấy thai hoặc hỗ trợ sinh bằng dụng cụ tùy theo điều kiện nếu cơn gò tử cung không giảm sau 45 phút.

5.2. Thai suy cấp trong chuyển dạ

Nếu đẻ chỉ huy bằng truyền oxytocin không được theo dõi tốt hoặc can thiệp xử trí muộn thì có nguy cơ gặp tai biến thai suy, hay thậm chí là tử vong. Do đó, khi phát hiện dấu hiệu suy thai phải ngừng truyền oxytocin và xử trí đúng theo phác đồ thai suy cấp. Trong trường hợp đã dừng truyền oxytocin 15 phút mà vẫn không có kết quả, bắt buộc phải phẫu thuật để cứu lấy thai hoặc tiến hành kẹp sản khoa forceps nếu đủ điều kiện.

5.3. Các tai biến khác

Dọa vỡ – vỡ tử cung: Xảy ra khi truyền oxytocin gây cơn co mau và mạnh, xử trí bằng cách phẫu thuật để cứu mẹ và con;

Nhau bong non: Tham khảo phác đồ nhau bong non;

Giãn cơ trơn: Xuất hiện nếu dùng oxytocin liều cao trực tiếp kết hợp gây tê hoặc gây mê cho sản phụ.

Ngộ độc nước: Khi truyền oxytocin liều cao trong thời gian dài, điều trị theo triệu chứng, kết hợp giảm truyền nước cũng như điều chỉnh điện giải.

Ảnh hưởng đến thai nhi: Có nguy cơ gây ngạt sau sinh, hoặc tăng Bilirubin/máu là nguyên nhân vàng da sơ sinh.

Truyền oxytocin với mục đích gây hoặc thúc đẻ chuyển dạ đòi hỏi phải được chỉ định bởi các bác sĩ có trình độ chuyên khoa sản và chỉ được thực hiện ở những bệnh viện lớn có đầy đủ phương tiện, trang thiết bị y tế. Yêu cầu này nhằm đảm bảo khả năng kiểm soát tốc độ tiêm truyền của đội ngũ nhân lực và sẵn sàng đối phó với các tai biến nặng có nguy cơ xảy ra cho sản phụ và thai nhi. Đối với những cơ sở y tế hoặc phòng khám nhỏ hơn chỉ được dùng oxytocin trong sản khoa để phòng ngừa và điều trị xuất huyết sau khi xổ nhau thai.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có đầy đủ trình độ chuyên môn và phương tiện kỹ thuật để thực hiện hiệu quả phương pháp truyền oxytocin trong sản khoa. Tại đây có đội ngũ bác sĩ chuyên môn Sản khoa được đào tạo bài bản, giàu kinh nghiệm, hệ thống trang thiết bị y tế đầy đủ, hiện đại, chất lượng dịch vụ chuyên nghiệp, đem lại hiệu quả kỹ thuật cao, góp phần bảo vệ sức khỏe thai kỳ cho cả mẹ và bé.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Những Điều Cần Biết Về Mũi

Trong phạm vi bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu vì sao mà mỗi người cần có những sự hiểu biết bình thường về mũi khi mũi của họ ở trong tình trạng bị dị ứng hoặc ” dễ bị kích ứng”. Đó là các vấn đề sau:

Cấu trúc cơ bản của mũi và tên gọi những thành phần giải phẫu của mũi.

Mũi đã chuẩn bị như thế nào để bảo đảm được tính chất an toàn của không khí khi được hô hấp vào phổi.

Mũi đã tự làm sạch và tự bảo vệ mình như thế nào.

Tại sao khi mũi bị sưng lại ảnh hưởng đến cảm giác ngửi của bạn.

Khi đọc mục này nên dùng gương để giúp bạn có thể tự quan sát được mũi của mình, và có thể hiểu rõ hơn về cấu trúc giải phẫu của mũi.

♦ Những điểm mốc ngoài

Mũi ngoài nằm chính giữu mặt, gồm một khung được tạo nên bởi xương và sụn, được phủ ở bên ngoài bởi cơ và da, và lót ở bên trong bởi niêm mạc. Ở trên, mũi ngoài được gắn vào phần dưới trán bởi gốc mũi, tiếp theo đó là sống mũi rồi đến đỉnh mũi, sau đó uốn cong xuống dưới và hinh như tận cùng ở ngay sát phía trên của môi với lỗ mũi mở ra cho không khí vào ở hai bên. Vùng giữa đỉnh và chỗ mũi tiếp cận với da của môi trên gọi là đáy hoặc nền của mũi. Ở nền(đáy) của mũi là hai lỗ mũi trước. Thành ngoài của hai lỗ mũi là hai cánh mũi, trông giống như cái tường bao quanh hai lỗ mũi, ở giữa có một tổ chức giống như cái cột ngăn cách hai lỗ mũi gọi là cột giữa. Phía trong lỗ mũi là niêm mạc mĩ màu hồng, ở trên mặt niêm mạc có những lông mũi, lông mũi có tác dụng ngăn cản các hạt bụi, những tiểu thẻ có hại qua mũi vào phổi.

Dưới một lông mũi là các nang lông nhỏ, nếu các nang lông này bị viêm nhiễm thì niêm mạc mũi cũng bị ảnh hưởng. Cánh mũi giới hạn với má bởi một rãnh gọi là rãnh mũi má. Từ đầu rãnh chạy xuống góc của miệng, ở mỗi bên có một nếp gấp ở trên da gọi là rãnh mũi môi, rãnh này càng thầy rõ khi tuổi càng cao.

♦ Phần xương và sụn của mũi ngoài

Ấn vào gần gốc mũi ở 1/3 trên của sống mũi thấy cảm giác chắc và cứng và phần đó gọi là cầu xương của mũi. Nếu ấn vào bất cứ vùng nào ở ngay phía trên của phần giữa sống mũi tới đỉnh mũi thì thấy mềm hơn, vì cấu tạo của nó là sụn chứ không phải là xương, đó là 2/3 dưới của mũi. Sụn là phần của cái khung mà trên đó và quanh nó là các tổ chức sụn thưa, và mềm hơn xương. Phần sụn ở phía trên và phần sụn bên ở phía dưới tạo nên phần chính của mũi có sự hỗ trợ thêm của những sụn nhỏ ít chất sụn hơn, gọi là các sụn mũi phụ.

Tất cả các tổ chức sụn đó tạo nên cầu sụn của mũi. Vì tổ chức sụn ở 2/3 dưới của mũi mềm dẻo, linh hoạt hơn là xương nên có tác dụng tự bảo vệ mũi không dễ bị vỡ khi bị va chạm. Phần sụn bên ở phía dưới kết hợp với các mô mỡ, các tổ chức liên kết và uốn khom lại để tạo nên cánh mũi, và do kết cấu như vậy nên đã có tác dụng nâng hỗ trợ cho thành ngoài của lỗ mũi, và giữ cho lỗ mũi luôn mở rộng để cho sự hô hấp được dễ dàng.

♦ Mô tả cấu trúc trong mũi

Hai phần ba của mũi mà bạn không thể thấy khi nhìn qua gương là một cái hốc cấu trúc rất tinh vi nằm rong sọ, giữa ổ não ở phía trên và khoang miệng ở phía dưới, cái hốc đó có kích thước lớn hơn và bạn có thể tưởng tượng, đường biên phía trên của nó bắt đầu từ gốc mũi đi sâu thẳng vào phía sau từ 10 đến 12 cm hoặc từ 4 đến 5 inch

2/ Thành phần của hốc mũi

Bạn không thể nhìn thấy thành ngoài bên phải hoặc bên trái của mũi khi nhìn qua lỗ mũi của bạn. Khi khám mũi các bác sĩ phải sử dụng dụng cụ khám đặc biệt mới nhìn thấy phần đó của mũi.

Ba chỗ kéo dài hình chữ nhật nổi lên từ thành ngoài và tạo nên những điểm mốc nổi len rõ nhất của nó gọi là các xoăn của mũi. Xoăn mũi nhỏ nhất và ở trên cao nhất là xoăn trên, tiếp theo về kích thước và vị trí khi trú là xoăn giữa, xoăn lớn nhất và ở gần sàn của mũi nhất là xoăn dưới. Các xoăn uốn cong xuống dưới và tách ra khỏi thành ngoài để tạo ra được một khoảng trống giữa nó và thành ngoài. Những khoảng trống đó rất quan trọng, vì chúng kiểm tra luồng không khí vào và qua mũi, và bảo đảm cho sự tiếp xúc chặt chẽ của không khí với màng niêm mạc mũi.Mỗi khoảng trống hoặc ngách mũi( đường khe thông khí) được đặt tên theo xoăn đã tạo nên nó. Như vậy, ngách mũi trên nằm dưới xoăn trên, ngách mũi giữa ở dưới xoăn giữa, ngách mũi dưới ở dưới xoăn dưới.

Nó quan trọng nhất vì kích cỡ lớn nhất và nó đảm đương nhiều công việc của mũi, và vì nó là đương khe ( thông khí) mà sự dẫn lưu của ba xoang quan trọng nhất đổ vào(trán) thì dẫn lưu vào các khoảng không (đường khe) khác.

Nước mắt thường xuyên được các tuyến lệ tạo ra và số lượng nước mắt không cần thiết cho sự làm trơn ướt mắt thì phải được dẫn lưu đi, nếu không thì mắt của bạn lúc nào cũng như đang khóc vậy.

Nước mắt thừa đổ vào một cấu trúc như một cái túi nằm giữa góc mắt và gốc mũi. Khi bạn chớp mắt cái túi đó bị ép và nước mắt dược chảy vào ống mũi lệ, và nó được dẫn lưu xuống mũi ở phần trước của ngách.

Những tế bào thấy nổi rõ lên trên niêm mạc mũi gọi là những tế bào thượng bì hình cột, có lông chuyển xếp giả tầng. Đó là những tế bào lớn, trông giống như những cái cột trên đầu có chỗ nhô ra giống như một sợi lông, gọi là lông chuyển. Những tế bào có lông chuyển đó ở bên trên được một màng nhầy bảo phủ. Màng này do các tuyến và các tế bào trong niêm mạc tiết ra và bao gồm hai lớp (lá): lớp trên nhầy hơn, dày hơn, gọi là lớp gel, lớp dưới loãng hơn, mỏng hơn gọi là lớp dung dịch, tuy nhiên lớp này cũng vừa đủ rộng để có thể bao phủ được những phần lông chuyển nhô ra từ những tế bào niêm mạc.

Những vấn đề này sẽ được đề cập tới khi nói về những loại viêm mũi đặc biệt. Dưới những tế bào niêm mạc có rất nhiều tổ chức thần kinh, bạch huyết và các mạch máu. Các tổ chức trên đặc biệt phong phú ở phía trên ba xoăn mũi. Phần đó của niêm mạc có tính chất cương, cũng giống như tỏ chức của dương vật với khả năng làm máu đầy căng hoặc rút đi, trống rỗng và giãn ra khi đầy máu. Sự đáp ứng đó rõ nhất ở phần niêm mạc bao phủ những xoăn mũi và rất dễ nhận thấy nhất ở phía trên xoăn mũi dưới.

3/ Chức năng của mũi

Mũi có rất nhiều công dụng, thông qua ba chức năng chủ yếu của mũi sau đây:

+ Mũi là phần đầu của cơ quan hô hấp.

+ Mũi có nhiệm vụ chuẩn bị, để không khí thở vào trở thành một yếu tố an toàn trước khi qua mũi vào phổi, cụ thể với các công việc sau:

Giữ ấm và làm ẩm không khí hút vào

Lọc, giữ lại, sau đó đào thải ra ngoài những tiểu thể có hại và các hôi khí ra khỏi không khí thở vào.

Diệt các vi trùng và virus gây bệnh

Tái hấp thu nước trong không khí thở ra

+ Mũi còn là cơ quan khứu giác có chức năng ngửi

+ Mũi cũng tham gia vào việc phát âm và các xoang xương đổ và mũi là các hòm cộng hưởng âm thanh cho tiếng nói.

Chúng tôi sẽ đề cập tới các chức năng trên của mũi để thấy rõ hơn công dụng của chúng.

Tế bào của sự ngửi hay tế bào khứu giác khu trú cao trong niêm mạc của hốc mũi và ở trong vùng phía trên xoang trên của mũi . điều kiện cần thiết cho khứu giác bình thường là không khí phải được lưu thông và tiếp xúc đều đặn thường xuyên với các tế bào khứu giác. Điều đó tất nhiên đòi hỏi là mũi phải được thông thoáng.

Phần lớn không khí thở vào được hướng tới để đi qua đường khe không khí rộng lớn của ngách mũi giữa nằm ở giữa ngách mũi giũa và thành ngoài của hốc mũi và như vậy là qua phía trên phần đỉnh của xoang mũi dưới. Khoảng 10% không khí thở vào thì hướng tới trần hoặc vùng vòm mũi, sau đó đi về phía sau của mũi, đi qua một vùng đặc biết của niêm mạc mũi, vùng của cơ quan khứu giác.

Cơ quan khứu giác là một cấu trúc nhờ nó mà chúng ta cảm giác được các mùi trong không khí thở vào. Phần còn lại của không khí thở vào đi qua mũi hoặc theo đường khe dẫn khí của ngách mũi dưới dọc theo sàn của mũi hoặc dọc theo vách mũi. Toàn bộ không khí qua mũi người bình thường đều đi qua những đường khe dẫn khí hẹp đó, thường là chỉ từ 1 – 3 mm đường kính. Điều đó có nghĩa là không khí được tiếp xúc chặt chẽ với màng niêm mạc mũi trong suốt lỗ trình qua mũi của nó. Vì những đường cong và những khe rãnh do các xoang vách mũi tạo ra nên lường không khí bình thường luu thông qua các đường khe dẫn khí của mũi hoặc là theo cách ùn đến hay cách xô đẩy nhau.

Khi luồng không khí phẳng lặng ta gọi là lưu thông một cách đều đặn và liên tục. không khí luu thông qua vòm mũi và qua vùng ngửi theo cách đều đặn và liên tục. điều đó đã tạo điều kiện tốt nhất cho sử cảm nhận tốt nhất cho cơ quan khứu giác với không khí thở vào. Trái lại, luồng không khí đi qua phần thấp nhất của mũi thì lại xô đẩy nhau. Luồng không khí không đều và xô đẩy nhau này đã va chạm đẩy những hạt nhở quay cuồng giống như trong một cơn gió bão, và làm cho chúng dễ bị màng nhầy của niêm mạc mũi bắt giữ lại không cho chúng lọt theo không khí vào phổi. Bạn có thể đã nhiều lần hít ngửi thực phẩm, goa hoặc mùi rượu ngon.

Thật ngạc nhiên tại sao sự hít ngửi lại làm cho cảm giác ngửi được sắc sảo hơn?

Quá trình hít ngửi trên thực tế đã làm thay đổi các lưu thông của không khí qua mũi. Trong hít ngửi thì nhiều không khí hơn đã được hướng lên cao vào mũi, qua vùng và ở đó nó được các tế bào khứu giác thử ngiệm. sự thử nghiệm càng tốt thì càng trứng tỏ về khả năng khứu giác của bạn. Mỗi ngày có khoảng 10. 000 lít không khí đã đi qua mũi vào người bình thường. và tuy có một số lượng lớn không khí đi qua những đường khe dẫn rất hẹp như thế, mà sự hô hấp vẫn diễn ra 1 cách bình thường, gần như là không phải chú ý tới hoặc phaircos 1 sự cố gắng nhỏ nảo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM: Phòng tránh các bệnh về mũi bằng nước muối biển sâu

Tất Cả Những Điều Cần Biết

Máu khó đông (Hemophilia) – tất cả những điều cần biết

Bệnh máu khó đông hemophilia là gì?

Bệnh máu khó đông, bệnh ưa chảy máu hay bệnh hemophilia (heamophilia) là tên gọi chung chỉ tình trạng rối loạn đông máu, trong đó cơ thể suy giảm khả năng tạo cục máu đông, một bước khởi đầu trong quá trình cầm máu. Hệ quả là người bệnh sẽ bị chảy máu trong thời gian dài hơn khi gặp chấn thương, dễ bị bầm tím và tăng khả năng xuất huyết khớp, não.Những người bị nhẹ có thể chỉ bị khó đông với các vết thương lớn như tai nạn hay phẫu thuật, trong khi chảy máu trong khớp có khả năng gây tổn thương vĩnh viễn; xuất huyết não dẫn đến đau đầu, co giật, mất ý thức.

Có hai loại bệnh máu khó đông chính: bệnh máu khó đông A (hemophilia A, do thiếu hoạt tính của yếu tố đông máu VIII) và bệnh máu khó đông B (hemophilia B, do thiếu hoạt tính của yếu tố IX). Tỉ lệ bệnh máu khó đông A là khoảng 1/5.000–10.000, trong khi bệnh máu khó đông B xuất hiện ở 1/40.000 nam giới khi sinh; [2, 5] nữ giới hiếm khi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Nguyên nhân gây bệnh máu khó đông

Bệnh máu khó đông hemophilia phát sinh do thiếu hoạt tính các yếu tố VIII và IX. Hai protein này được sản xuất nhờ hai gen nằm trên nhiễm sắc thể X (NST giới tính).

Hemophilia A đặc trưng bởi các đột biến tại nhiễm sắc thể Xq28 và gây ra thiếu hoạt động chức năng của yếu tố VIII; các đột biến này có thể là đảo đoạn, mất đoạn, đột biến sai nghĩa, vô nghĩa hoặc dịch khung. Đảo đoạn chịu trách nhiệm cho 45% các ca hemophilia nặng; đột biến vô nghĩa hay các đột biến dịch khung (đột biến làm tạo ra protein nhỏ hơn bình thường) cũng đóng góp vào các trường hợp nặng. Đột biến mất đoạn gây ra kiểu hình bệnh trung bình. Đột biến sai nghĩa chủ yếu đóng góp vào kiểu hình bệnh nhẹ hoặc trung bình.

Homophilia B đặc trưng bởi các đột biến từ Xq27.1-q27.2, làm thay đổi protein chức năng sản xuất bởi gen yếu tố IX. Đột biến này thường làm cho thiếu protein chức năng hoặc sản xuất protein mất chức năng. Các đột biến chịu trách nhiệm cho bệnh máu khó đông B bao gồm mất đoạn gen lớn, đột biến vô nghĩa và đột biến dịch khung.

Bệnh máu khó đông di truyền như thế nào?

Thông thường, phụ nữ sở hữu hai nhiễm sắc thể X và nam giới có một nhiễm sắc thể X và một nhiễm sắc thể Y. Vì các đột biến gây ra bệnh là đột biến dạng lặn liên kết X, một phụ nữ mang khuyết tật trên một nhiễm sắc thể X có thể không bị ảnh hưởng, vì alen trội tương đương trên nhiễm sắc thể còn lại sẽ tự biểu hiện để tạo ra các yếu tố đông máu cần thiết. Do đó, những người nữ dị hợp tử chỉ là những người mang gen di truyền. Tuy nhiên, nhiễm sắc thể Y ở nam giới không có gen cho các yếu tố VIII hoặc IX. Nếu các gen chịu trách nhiệm sản xuất yếu tố VIII hoặc yếu tố IX hiện diện trên nhiễm sắc thể X của nam giới bị đột biến thì không có gen tương đương nào trên nhiễm sắc thể Y để bù đắp, do đó gen thiếu hụt không được che giấu và rối loạn sẽ gây hậu quả.

Một người mẹ mang gen bệnh có 50% khả năng truyền nhiễm sắc thể X bị lỗi cho con gái, trong khi người bố bị bệnh sẽ luôn truyền gen bệnh cho con gái của mình. Con trai không được thừa hưởng gen khiếm khuyết từ cha (hình trái).

Nếu nam mắc bệnh và có con với nữ không mang gen bệnh thì con gái của anh ta sẽ là người lành mang gen bệnh máu khó đông. Các con trai của ông, tuy nhiên, sẽ không bị ảnh hưởng bởi căn bệnh này (hình phải).

Cũng như tất cả các rối loạn di truyền, mỗi người cũng có thể gặp phải bệnh này cách tự nhiên thông qua đột biến mới ở một trong các giao tử của bố mẹ (máu khó đông mắc phải/tự phát), thay vì di truyền. Đột biến tự phát chiếm khoảng 33% tổng số các trường hợp bệnh máu khó đông A, [20] con số này là khoảng 30% tổng số trường hợp mắc bệnh máu khó đông B.

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh máu khó đông hemophilia

Các triệu chứng đặc trưng thay đổi tùy theo mức độ nghiêm trọng. Các triệu chứng chung là các đợt xuất huyết nội và ngoại. Những người mắc bệnh máu khó đông nặng hơn bị chảy máu nghiêm trọng hơn và thường xuyên hơn. Các triệu chứng phổ biến dễ để ý thấy nhất bao gồm:

Chảy máu không rõ nguyên nhân hoặc chảy máu nhiều do vết cắt hoặc chấn thương, hoặc sau khi phẫu thuật hoặc làm răng.

Nhiều vết thâm lớn hoặc sâu.

Chảy máu bất thường sau khi tiêm phòng.

Đau, sưng hoặc căng khớp.

Có máu trong nước tiểu hoặc phân.

Chảy máu cam mà không rõ nguyên nhân.

Ở trẻ sơ sinh, cáu kỉnh không rõ nguyên nhân.

Loại chảy máu trong đặc trưng nhất là chảy máu khớp khi máu đi vào các khoang khớp.[16] Điều này phổ biến nhất với bệnh máu khó đông nặng và có thể xảy ra tự phát (không có chấn thương rõ ràng). Nếu không được điều trị kịp thời, chảy máu khớp có thể dẫn đến tổn thương và biến dạng khớp vĩnh viễn.[16] Chảy máu vào các mô mềm như cơ và mô dưới da ít nghiêm trọng hơn nhưng có thể dẫn đến tổn thương và cần điều trị.

Xuất huyết nội hộp sọ là một biến chứng nghiêm trọng do sự tích tụ áp lực bên trong hộp sọ, dẫn đến mất phương hướng, buồn nôn, mất ý thức, tổn thương não và tử vong.

Bệnh khớp máu khó đông được đặc trưng bởi viêm màng hoạt dịch tăng sinh mãn tính và phá hủy sụn.[18] Nếu tình trạng chảy máu trong khớp không được dẫn lưu sớm, nó có thể gây ra hiện tượng chết các tế bào sụn và ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các proteoglycan. Lớp màng hoạt dịch phì đại và mỏng manh trong khi cố gắng loại bỏ lượng máu quá nhiều có thể dễ bị tái chảy máu, dẫn đến một vòng luẩn quẩn của tụ máu khớp – viêm bao hoạt dịch – tụ máu khớp. Ngoài ra, sự lắng đọng sắt trong màng hoạt dịch có thể gây ra phản ứng viêm kích hoạt hệ thống miễn dịch và kích thích hình thành mạch, dẫn đến phá hủy sụn và xương.[19]

Trẻ em mắc bệnh máu khó đông từ nhẹ đến trung bình có thể không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào khi sinh. Bố mẹ cần chú ý các triệu chứng đầu tiên ơ trẻ như là những vết bầm tím và tụ máu lớn và thường xuyên do va đập và ngã khi chúng tập đi. Thông thường, dấu hiệu đầu tiên của bệnh máu khó đông rất nhẹ là chảy máu nhiều do thủ thuật nha khoa, tai nạn hoặc phẫu thuật.

Chẩn đoán, xét nghiệm bệnh hemophilia như thế nào?

Trước khi mang thai

Trong khi mang thai

Phụ nữ mang thai có tiền sử mắc bệnh máu khó đông trong gia đình có thể xét nghiệm gen bệnh máu khó đông. Các xét nghiệm như vậy bao gồm:

Lấy mẫu nhung mao màng đệm (CVS): thường trong tuần 11–14 của thai kỳ.

Chọc dò nước ối, thường là trong tuần 15–20 của thai kỳ.

Phương pháp xét nghiệm trước sinh không xâm lấn  (NIPT) sử dụng digital PCR cũng đã được phát triển.[21]

Sau khi sinh

Nếu nghi ngờ mắc bệnh máu khó đông sau khi đứa trẻ được sinh ra, xét nghiệm máu thường có thể xác định chẩn đoán. Có thể xét nghiệm máu từ dây rốn khi sinh nếu tiền sử gia đình mắc bệnh máu khó đông. Xét nghiệm máu cũng sẽ có thể xác định trẻ mắc bệnh máu khó đông A hay B, và mức độ nghiêm trọng của nó.

Các xét nghiệm sàng lọc được dùng để xác định liệu máu có đông một cách bình thường hay không. Các xét nghiệm đó bao gồm:

Đếm tế bào tổng số (CBC).

Xét nghiệm thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa (APTT),

Xét nghiệm thời gian prothrombin (PT) 

Xét nghiệm fibrinogen.

Có thể chữa khỏi bệnh ưa chảy máu không?

Không có cách chữa trị lâu dài cho căn bệnh này. Điều trị và ngăn ngừa các đợt chảy máu được thực hiện chủ yếu bằng cách bổ sung các yếu tố đông máu bị thiếu.[3]

Các yếu tố đông máu

Yếu tố đông máu thường không cần thiết nếu bị bệnh máu khó đông thể nhẹ.[11] Trong bệnh máu khó đông ở mức trung bình, các yếu tố đông máu thường chỉ cần thiết khi xảy ra chảy máu hoặc để ngăn ngừa chảy máu trong một số trường hợp nhất định.[11] Trong trường hợp bị bệnh máu khó đông nặng, việc áp dụng phòng ngừa bệnh máu khó đông thường được khuyến cáo hai hoặc ba lần một tuần và có thể thực hiện suốt đời.[11] Điều trị nhanh chóng các đợt chảy máu làm giảm tổn thương cho cơ thể.

Yếu tố VIII được sử dụng trong bệnh máu khó đông A và yếu tố IX trong bệnh máu khó đông B. Yếu tố đông máu thay thế có thể được phân lập từ huyết thanh người, từ tái tổ hợp hoặc cả hai. Một số người sinh kháng thể chống lại các yếu tố đông máu thay thế được truyền cho họ, vì vậy lượng yếu tố đông máu phải được tăng lên hoặc phải cung cấp các sản phẩm thay thế không phải của con người, chẳng hạn như yếu tố VIII của lợn.

Khác

Desmopressin (DDAVP) có thể được sử dụng cho những người mắc bệnh máu khó đông A nhẹ.[11] Có thể cho axit tranexamic hoặc axit epsilon aminocaproic cùng với các yếu tố đông máu để gia cố cục máu đông, làm máu dễ đông hơn.[11]

Thuốc giảm đau, steroid và vật lý trị liệu có thể được sử dụng để giảm đau và giảm sưng ở khớp.[11] Ở những người bị bệnh ưa chảy máu A nghiêm trọng đã được bổ sung yếu tố VIII, emicizumab có thể có tác dụng bổ trợ.[27]

Các phương pháp điều trị khác nhau được sử dụng để giúp những người mắc bệnh ưa chảy máu, ngoài các yếu tố đông máu bình thường. Thường thì phương pháp điều trị hiệu quả nhất là corticosteroid loại bỏ các tự kháng thể. Là một phương pháp điều trị phụ, cyclophosphamide và cyclosporine được sử dụng và được chứng minh là có hiệu quả đối với những người không đáp ứng với các phương pháp điều trị steroid.

Trong một số trường hợp hiếm hoi, liều cao Ig miễn dịch hoặc chất hấp thụ miễn dịch tiêm tĩnh mạch có tác dụng giúp kiểm soát chảy máu thay vì chống lại các tự kháng thể.[28]

Tài liệu tham khảo

Tags: bệnh ưa chảy máu, hemophilia, máu khó đông

Những Điều Cần Biết Về Thuốc Flucinar

Thuốc Flucinar là một trong những dược phẩm đang được nhiều người sử dụng nhất hiện nay. Vậy đây là thuốc gì, có tác dụng gì và được sử dụng để điều trị các loại bệnh nào?

Thuốc flucinar là thuốc gì? Tác dụng của thuốc

Flucinar là thuốc mỡ được chỉ định trong các trường hợp bị vảy nến đặc biệt là đặc dụng trong việc điều trị bệnh vẩy nến da dầu, bệnh viêm bã nhờn, chàm, eczema, liken phẳng. Đây là dạng thuốc mỡ có chứa cortisosteroid.

Thành phần chính trong 1g thuốc mỡ flucinar là 0,25 fluocinolone acetonide ( một corticosteroid tổng hợp dùng tại chỗ) và glycocorticosteroid tổng hợp với 2 nguyên tử flour trong phân tử.

Tác dụng của thuốc:

Thành phần của thuốc có sự liên kết với thụ thể steroid, các hợp chất corticosteroid sẽ làm giảm viêm nhờ việc ổn định màng lysosom bạch cầu từ đó hạn chế viêm nhiễm, chảy dịch mủ từ các vết vảy nến.

Thuốc có thể kháng tác dụng của histamin và giải phóng kinin từ chất nền, giảm sự tăng sinh các tế bào da, lắng đọng collagen và hình thành sẹo. Theo cơ chế hoạt động đó, người sử dụng thuốc sẽ cảm thấy đỡ ngứa, tế bào da cũng không tạo thêm các lớp vảy, biểu bì.

Các chất corticosteroid chứa flour có tác dụng ngăn cản sự hoạt động phân bào của các nguyên bào sợi ở da, biểu bì nhờ đó kiểm soát sự lây lan và phát triển của bệnh.

Các chất, thành phần trong thuốc flucinar dễ hấp thụ qua da, không làm cho da bị nhờn đồng thời thuốc có dạng gel sẽ thuận lợi cho việc điều trị ở các phần da có nhiều lông tóc và dễ dàng điều trị cho các trường hợp da kém hấp thụ các thuốc dạng kem hoặc thuốc mỡ.

Cơ chế tác dụng của corticosteroid đối với thuốc bôi tại chỗ gồm có 3 tính chất: tác dụng co mạnh, chống viêm, chống ngứa.

Thuốc flucinar có các công dụng:

Điều trị bệnh viêm da như viêm da thần kinh, viêm da dị ứng, viêm da tiếp xúc.

Trị bệnh vảy nến tại chỗ, không hiệu quả với việc điều trị bệnh vảy nến lan rộng.

Điều trị bệnh lupus ban đỏ hình đĩa, liken phẳng, aczama dị ứng,…

Chống chỉ định với các trường hợp:

Những người mẫn cảm, dị ứng với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Những người bị hăm bẹn, bị trứng cá đỏ, trứng cá tuổi dậy thì.

Người bị lao da, giang mai.

Không dùng thuốc cho các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn da do virus, nấm, vi khuẩn

Không dùng cho bệnh nhân bị ung thư da.

Hãy đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi sử dụng

Liều dùng thuốc flucinar

Thuốc flucinar được sử dụng để điều trị bệnh vảy nến như sau:

Thoa thuốc cho bệnh nhân tại những vùng bị bệnh với một lượng thuốc vừa đủ.

Tùy theo mức độ bệnh mà người bệnh có thể sử dụng 2-4 lần/ngày.

Nếu người bệnh cần băng kín chỗ bị bệnh thì phải rửa sạch vùng da cần thoa thuốc sau đó bôi thuốc rồi băng kín lại. Tốt nhất bạn nên sử dụng một miếng gạc ẩm nóng để băng vùng da bị bệnh.

Trong trường hợp dùng thuốc để thoa lên mặt hoặc thoa thuốc cho trẻ em thì bạn không nên băng kín.

Với loại thuốc dùng dạng kem bôi, bạn nên dùng cho các bộ phận ẩm, các hốc của cơ thể như bẹn, vùng da dưới cánh tay,…Đối với vùng da khô, da có vảy sử dụng thuốc mỡ để bôi.

Thuốc có thể gây ra một số tác dụng phụ như sau:

Gây ra hiện tượng khô da, nứt da, ngứa, bỏng da

Khiến da bị nổi mụn, đổi màu

Gây phát ban nặng

Một số trường hợp bị khó thở, thở khò khè, khó nuốt

Da bị nhiễm trùng sưng đỏ hoặc chảy mủ.

Da bị teo, hình thành vết rạn, nhiễm vi khuẩn thứ phát.

Một số trường hợp hiếm gặp là người bệnh bị suy vỏ tuyến thượng thận. Da bị rậm lông, mẫn cảm.

Những điều cần lưu ý khi sử dụng thuốc flucinar

Những lưu ý về đối tượng sử dụng

Có thể kết hợp với dầu salicylate 5% để làm mềm da nếu người bệnh bị khô da đầu và có cảm giác căng da.

Khi sử dụng thuốc để điều trị bệnh vảy nến thì bệnh nhân nên được các bác sĩ theo dõi thường xuyên để phát hiện kịp thời trường hợp bệnh phát triển nghiêm trọng hơn hoặc vảy nến hình thành mủ.

Khi sử dụng thuốc chứa dược chất fluocinolone acetonid trên vùng da rộng thì không nên băng kín vì có thể gây ra tình trạng nhiễm độc toàn thân.

Nếu bệnh nhân dùng thuốc thoa trên diện rộng, băng kín và dùng dài ngày có thể dẫn đến bệnh suy vỏ tuyến thượng thận.

Khi sử dụng thuốc cho các bệnh nhân có các vết thương nhiễm khuẩn cần phải kết hợp với thuốc kháng sinh phù hợp để tình trạng nhiễm khuẩn không lan rộng.

Không được sử dụng thuốc để nhỏ mắt và tránh dây thuốc vào mắt khi bôi vì có thể dẫn đến chứng glocom.

Khi điều trị bệnh bằng thuốc flucinar trong 3-4 tuần liên tục và vẫn không khỏi bệnh thì có thể cân nhắc ngưng hoặc giảm liều lượng thuốc xuống và hỏi ý kiến bác sĩ điều trị để tránh tác dụng phụ không mong muốn.

Bạn nên hạn chế sử dụng thuốc trên cơ thể trẻ sơ sinh và dùng với liều thấp nhất, vừa đủ để có khả năng điều trị bệnh.

Tương tự với phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú bạn cũng chỉ nên sử dụng khi cần thiết và dùng với liều lượng thấp nhất.

Trong trường hợp uống thuốc quá liều hãy có phản ứng phụ hãy đến ngay cơ sở y tế gần nhất để thăm khám và xử lý kịp thời.

Trong trường hợp quên liều phải dùng ngay khi nhớ ra. Không được bôi thuốc, sử dụng thuốc quá liều điều trị quy định.

Để thuốc không bị ảnh hưởng đến tác dụng hoạt động hoặc giảm nguy cơ gây tác dụng ngoài ý muốn thì bạn nên lưu ý bảo quản như sau:

Bảo quản trong hộp kín, để ở nhiệt độ phòng không để ở ngăn đá, để nơi khô ráo, thoáng mát.

Tránh những nơi có nguồn nhiệt nóng hoặc có ánh sáng trực tiếp.

Để thuốc tránh xa tầm tay của trẻ em và thú vật nuôi.

Một số thông tin khác về thuốc

Tên sản phẩm: Flucinar ointment

SĐK: VN 20849-17

Tên hoạt chất: Fluocinolone acetonid

Hàm lượng: thuốc mỡ 0,25 fluocinolone

Xuất xứ: Ba Lan

Quy cách đóng gói: 15g/tuýp/hộp.

Hạn sử dụng (được ghi trên bao bì): 60 tháng kể từ ngày sản xuất

HSD: 36 tháng

Bạn nên mua thuốc tại các cơ sở uy tín, dùng theo liều điều trị của bác sĩ, tránh việc tự ý sử dụng thuốc và nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Oxytocin Trong Sản Khoa: Những Điều Cần Biết trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!