Đề Xuất 11/2022 # Nhận Diện Và Ứng Xử Với Lợi Ích Nhóm Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 # Top 20 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 11/2022 # Nhận Diện Và Ứng Xử Với Lợi Ích Nhóm Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhận Diện Và Ứng Xử Với Lợi Ích Nhóm Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sau hơn 25 năm đổi mới, phát triển đất nước, Việt Nam đã có được nhiều thành tựu to lớn trên hầu khắp các lĩnh vực. Nhưng đồng thời với những thành tựu to lớn đó, đất nước cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức bởi tác động, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và bởi những vấn đề nội tại được tích đọng trong suốt chặng đường phát triển vừa qua. Trong số đó, “lợi ích nhóm” đang nổi lên như là một vấn đề hàm chứa những tác động gây tổn hại trên nhiều phương diện đối với sự phát triển đất nước và được coi là một trong những vấn đề cấp bách cần giải quyết. Bởi vậy, việc nhận diện lợi ích nhóm và lựa chọn cách thức ứng xử phù hợp là cần thiết.

1/ Một số biểu hiện chủ yếu của lợi ích nhóm trong nền kinh tế Việt Nam

Trước hết cần thống nhất rằng sự tồn tại của các nhóm lợi ích là khách quan và luôn hình thành trong đời sống kinh tế – xã hội của mọi quốc gia, mọi hình thái xã hội dù chế độ chính trị khác nhau, có chăng chỉ khác nhau ở hình thức biểu hiện.

“Nhóm lợi ích” xuất hiện lần đầu khoảng giữa thế kỷ XIX trong các nền dân chủ đại nghị. Theo đó, nhóm lợi ích được hiểu là tập hợp những người cùng chí hướng, cùng mưu cầu một lợi ích, với phương thức hoạt động chủ yếu là tìm cách tác động lên chính quyền (nghị viện, chính phủ, các hội đồng địa phương) hoặc khai thác sự đa nghĩa trong một số điều khoản luật để giành lấy mục đích. Nó bao gồm đa dạng các đoàn thể, các tổ chức nghề nghiệp, xã hội, các cơ cấu dân quyền, thiện nguyện… Sự tồn tại của nhóm lợi ích phần lớn được coi là tích cực. Đây là cách hiểu kinh điển về nhóm lợi ích ở các xã hội Âu – Mỹ, nơi nó được sinh ra và hoạt động trên một nền tảng luật pháp ổn định.

Nhìn chung có khá nhiều định nghĩa khác nhau về nhóm lợi ích, song cơ bản sự khác nhau giữa các định nghĩa không nhiều, tựu trung lại có thể hiểu một cách giản đơn rằng “nhóm lợi ích” là nhóm bao gồm những người có cùng những lợi ích với những hoạt động, sự kiện, hoặc một đối tượng nào đó. Vì vậy, các nhóm này gắn bó với nhau, cùng nhau bảo vệ và mở rộng những lợi ích của họ.

Trong những xã hội tồn tại nhiều giai tầng, nhiều ngành nghề thì cũng tồn tại nhiều tuyến lợi ích đan xen, lúc thì thống nhất, lúc thì mâu thuẫn nhau về lợi ích trong việc chịu tác động của chính sách của nhà nước, nên việc tồn tại các nhóm lợi ích là một thực tế khách quan, nên cần được nhìn nhận một cách khách quan như nó vốn có.

Nhóm lợi ích hàm chưa cả những tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực. Thông thường tác động tích cực thiên về phía những thành viên thuộc nhóm và toàn bộ lợi ích nhóm đặt trong tương quan với các nhóm lợi ích, nhóm xã hội khác và theo đó có thể ảnh hưởng tác động tích cực hay tiêu cực đến lợi ích của các nhóm khác hoặc đến toàn bộ xã hội. Tuy nhiên, trong các nền kinh tế thị trường, khi phạm trù nhóm lợi ích được nhìn nhận trên phương diện tác động tiêu cực thì thường sử dụng cụm từ “lợi ích nhóm”, với hàm ý rằng những lợi ích của nhóm đó có những tác động, ảnh hưởng bất lợi hay tiêu cực với các nhóm xã hội khác hay với toàn bộ xã hội. Và thực tế ở Việt Nam hiện nay, khái niệm lợi ích nhóm đang được sử dụng để ám chỉ hành vi trục lợi của một “nhóm xã hội” nào đó và hành vi đó lại gây những tổn hại nhất định đến các nhóm xã hội khác hay có những tác hại nhất định đối với xã hội. Cụ thể hơn đó là sự chi phối tiêu cực của một nhóm người, nhóm doanh nghiệp, ngành có lợi ích tương đối thống nhất, gần gũi nhau, liên kết nhau và được thực hiện một cách bất minh thông qua những tác động chính sách mà công luận kông thể giám sát được, pháp luật không điều chỉnh được.

Điều này cũng đã từng được Ngân hàng Thế giới cảnh báo cách nay vài thập kỷ rằng, các nhóm lợi ích mới ngày nay thiên về các mục đích kinh tế và do đó, đã xuất hiện những tập hợp mang màu sắc mafia. Điều này càng đúng ở những nền kinh tế đang chuyển đổi, đang phát triển, đang cải cách nhưng thiếu đồng bộ. Nhóm lợi ích ở đây được hình thành trên cơ sở các liên minh bất hợp pháp.

Vì vậy, rất cần nhìn nhận thực tế này một cách toàn diện, thực chất để có thể có một kiến giải đúng đắn làm cơ sở cho việc xây dựng những cơ chế pháp luật theo hướng công khai, minh bạch, nhằm quản lý tác động của các nhóm lợi ích, phát huy mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực do tác động của các nhóm lợi ích lên việc hoạch định chính sách, đồng thời bảo vệ những nhóm lợi ích yếu thế trong xã hội.

Ở Việt Nam hiện nay, lợi ích nhóm dường như đang hiện hữu ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện tập trung và điển hình với các biểu hiện phổ biến như sau:

Thứ nhất, lợi ích nhóm ở Việt Nam thể hiện tập trung và phổ biến ở những lĩnh vực có nhiều lợi ích hay có các cơ hội để có được các lợi ích khác nhau như: tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, tài nguyên khoáng sản… và gần đây lợi ích nhóm cũng đã len lỏi vào một số hoạt động có tính đặc thù như nghiên cứu khoa học (phân cấp kinh phí, đề cử chủ nhiệm), đào tạo (sắp xếp hội đồng chấm tuyển sinh, chấm luận văn, luận án), thậm chí cũng “ẩn hiện” cả trong công tác cán bộ (quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm).

Nhìn chung, lợi ích nhóm có những biểu hiện “muôn hình vạn trạng”, biến đổi linh hoạt và ngày càng phủ rộng, cũng như len sâu khắp các lĩnh vực, địa phương, quy mô và các cấp độ; nhưng đều có chung một đặc trưng phổ biến là khai thác, lạm dụng các kẽ hở của quy định, chính sách và ẩn mình trong vỏ bọc pháp luật; đồng thời ngày càng hành động có tổ chức và luôn “lớn tiếng” nhân danh những điều tốt đẹp (vì lợi ích chung, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng tập thể), nhưng thực chất đó chỉ là lợi dụng danh nghĩa lợi ích chung, lợi ích cộng đồng để thu vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, nhóm cánh hẩu của mình, hoặc tận dụng nhiệm kỳ công tác của mình càng nhiều càng tốt…

Và đây là một số biểu hiện lợi ích nhóm điển hìn đã và đang hiện hữu trong nền kinh tế Việt Nam. Chẳng hạn, đã có hiện tượng sản xuất hàng loạt quy hoạch và đầu tư công (xây dựng khu, cụm công nghiệp, xây dựng cảng, xây dựng sân bay, sân golf) ở một loạt địa phương, bất chấp các căn cứ khoa học, khả năng đầu tư thực tế và hiệu quả kinh tế – kỹ thuật, nhưng lại rất có lợi cho lợi ích nhóm, ăn chênh lệch giá đất. Thậm chí, có thể vì động cơ riêng mà “đẻ non” hay tùy tiện thay đổi quy hoạch; quản lý dự án gian dối và tìm mọi sức ép tăng nợ công để có tiền đầu tư những dự án hạ tầng “khủng”, chất lượng thấp hoặc đầu tư không đúng lúc và đúng cách, bất chấp hiệu quả kinh tế – xã hội và gánh nặng trả nợ khổng lồ cho thế hệ sau. Đó là hiện tượng quan chức hay lãnh đạo, cơ quan doanh nghiệp sẵn sàng chi tiền tỷ từ công quỹ của doanh nghiệp để mua công nghệ cũ, công ghệ không phù hợp với giá trên trời, cốt để kiếm cho mình những khoản lợi lộc riêng theo kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Trường hợp Bệnh viện Bình Dân là một ví dụ – tại bệnh viện này vào cuối năm 2011, Giám đốc bệnh viện đã chi nhiều tỷ đồng để mua hai dàn máy nội soi tiêu hóa Double balloon; hai dàn máy nội soi niệu; máy chống nhiễm khuẩn, nhưng gần như những máy này không được sử dụng hiệu quả, hoặc có máy thì “trùm mền”. Trong khi máy nội soi niệu cũ đang hoạt động bình thường, thậm chí chất lượng hình ảnh còn hơn cả máy mới mua.

Ở lĩnh vực tài chính – tiền tệ – ngân hàng, lợi ích nhóm có thể coi là căn bệnh mãn tính với việc phân bổ vốn đầu tư ngân sách và tín dụng ưu đãi kiểu dàn trải, theo cơ chế xin – cho và nhất là theo mức phần trăm phong bì “lại quả” và sự “biết điều” của đối tượng, người và địa phương nhận được vốn cấp. Hành vi này đích thị là các hiện tượng “ăn chia”, “phân bổ” lợi ích cục bộ, gây thất thu ngân sách nhà nước các cấp. Đó là hiện tượng lạm dụng chỉ định thầu, ép thầu, chạy thầu hay đấu thầu dự án kiểu hình thức, “quân xanh quân đỏ”, miễn sao “người mình” được trúng thầu, bất chấp các quy định pháp lý hay năng lực chất lượng thực hiện dự án thầu. Hơn nữa, đó còn là hiện tượng bắt tay giữa quan chức, ngân hàng và doanh nghiệp trong hoạch định và thực thi chính sách, phân bổ và điều tiết dòng tiền; khiến nơi thừa vốn, nơi đói vốn, bất chấp tiêu chuẩn an toàn và những ưu tiên cho vay cần có trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

Trong quản lý giá cả những ngành độc quyền, đó là hiện tượng giá cả chỉ có lên một chiều hoặc lên nhanh, xuống chậm, với những độ vênh từ vài chục tới vài trăm phần trăm giữa giá nội với giá ngoại, giữa giá điều chỉnh lên và giá điều chỉnh xuống bất chấp các xu hướng và động thái thị trường, cũng như lợi ích chính đáng và sự bất bình của người dân.

TH: T.Giang – SCDRC

Nhận Diện Đúng Đắn Về Những Biểu Hiện Của Lợi Ích Nhóm Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

NHẬN DIỆN ĐÚNG ĐẮN VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN

CỦA LỢI ÍCH NHÓM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Lợi ích nhóm và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lợi ích nhóm

Lợi ích nhóm là lợi ích mà một nhóm người liên kết với nhau cùng thực hiện và bảo vệ lợi ích đó. Trong đời sống xã hội, ngày càng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau, các nhóm này có thể vừa có lợi ích chung, vừa có lợi ích riêng, có lợi ích tích cực, c ó lợi ích tiêu cực. Lợi ích nhóm tích cực là lợi ích chính đáng, hợp pháp của một nhóm người c ó cùng mục tiêu, mục đích trong sự tôn trọng lợi ích của Nhà nước và lợi ích của tập thể, hài hòa với các loại lợi ích khác. Còn lợi ích nhóm tiêu cực là lợi ích mà một nhóm người liên kết với nhau để trục lợi, vơ vét của chung (của Nhà nước và tập thể), mưu lợi cho nhóm mình. Lợi ích nhóm tiêu cực luôn gắn với hành vi tham nhũng của những người có chức, có quyền (nghĩa là lợi ích nhóm tiêu cực gắn với quyền lực nhà nước) gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, của Nhân dân, khiến cho nền kinh tế dần bị vắt kiệt, đồng thời tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế tiêu cực phát triển. Nói cách khác, lợi ích nhóm tiêu cực là lợi ích của nhóm người lợi dụng chức vụ, quyền lực, quan hệ để móc nối, thông đồng với nhau nhằm lách luật, làm những điều phi pháp để trục lợi, thu vén lợi ích cá nhân, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và của cá nhân khác. Đây là yếu tố cản trở sự phát triển lành mạnh, bền vững của nền kinh tế và của xã hội, là lợi ích nhóm mà Đảng ta yêu cầu phải đấu tranh phòng, chống. Trong khuôn khổ bài viết, cụm từ “lợi ích nhóm” được sử dụng với nghĩa này.

Có thể khẳng định, lợi ích nhóm đang làm xói mòn lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nếu Đảng và Nhà nước không kiên quyết xử lý nghiêm minh, triệt để lợi ích nhóm sẽ càng gây thêm nhiều bức xúc trong Nhân dân và xã hội, từ đó tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng, thực hiện những âm mưu gây bạo loạn, đe dọa sự tồn vong của dân tộc và sự phát triển của đất nước. Đại hội XII của Đảng khẳng định, cần kiên quyết đấu tranh chống lợi ích nhóm nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Muốn vậy, phải ngăn chặn, hạn chế từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tạo bước chuyển biến rõ rệt nhằm củng cố lòng tin của Nhân dân, xây dựng sự đồng thuận và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân; giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trung thành, tận tụy, kỷ cương, liêm chính, Đảng ta chỉ rõ: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta” .

Lợi ích nhóm có trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với những biểu hiện đa dạng, phức tạp. Đó là:

Các quan chức nhà nước lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, móc n ố i, thông đồng với nhau để lách luật, thực hiện hành vi tham nhũng, trục lợi trong hoạt động quản lý và sử dụng đất đai (quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất…); trong đầu tư công , đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng, mua sắm vật tư, thiết bị hàng hóa, đấu thầu và chỉ định thầu, phân phối dự án hoàn thuế giá trị gia tăng, cấp phát vốn); trong khai thác tài nguyên (cấp phép và khai thác khoáng sản); trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng liên kết để thâu tóm trái pháp luật các ngân hàng thương mại, ưu ái trong việc bảo lãnh và cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước,…); trong hoạt động cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước;… Họ tìm mọi cách để chuyển tài sản của Nhà nước, của tập thể sang cho cá nhân, dùng mọi thủ đoạn để tham nhũng, lấy của công để biếu xén, hiếu hỷ nhau.

Nhà đầu tư, doanh nghiệp móc nối với một số quan chức nhà nước hình thành nhóm lợi ích để giành được các dự án, gói thầu, những khoản ưu đãi từ tiền công quỹ nhằm mục đích ki ế m lợi, làm giàu cho nhóm mình. Chẳng hạn tham nhũng trong hình thức đầu tư Hợp đồng xây dựng kinh doanh – chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây dụng – chuyển giao (BT). Các dự án BOT không đấu thầu công khai, minh bạch mà bằng hình thức chỉ định thầu. Thông qua chỉ định thầu để thực hiện các hành vi tham nhũng vì lợi ích nhóm. Thực tế, có nhiều doanh nghiệp không đủ năng lực cả về chuyên môn, nghiệp vụ và tài chính nhưng liên tiếp trúng thầu các dự án. Các doanh nghiệp này móc nối với quan chức nhà nước để xin vốn đầu tư của Nhà nước về cho doanh nghiệp mình hoạt động, nhưng nếu làm ăn có lãi thì chia nhau, còn khoản lỗ thì để lại cho Nhà nước. Hay tình trạng thông đồng, móc nối giữa khu vực công và khu vực tư để thành lập các công ty sân sau”, “công ty gia đình” rồi dùng ảnh hưởng của cá nhân để kéo các dự án về cho các công ty này.

Một bộ phận cán bộ, công chức có chức, có quyền thoái hóa, biến chất bị mua chuộc, lôi kéo nhằm trục lợi, thu vén lợi ích cá nhân. Hoặc một số cá nhân tìm cách quan hệ, móc nối với những người có chức, có quyền quyết định để được bố trí vào các chức vụ mong muốn cho bản thân hoặc cho người thân trong gia đình, trong khi năng lực, phẩm chất không đáp ứng được yêu cầu của vị trí công tác đó. .

Một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất trong các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, v.v .. lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che cho những hành vi tiêu cực vì lợi ích vị kỷ hình thành nhóm lợi ích.

Một trong những biểu hiện quan trọng khác của lợi ích nhóm đó là hoạt động rửa ti ề n qua hệ thống ngân hàng, những hoạt động cấu kết lũng đoạn thị trường tiền tệ. Thông qua việc thành lập các “công ty ma” để mua bán hóa đơn, trốn thuế.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cũng đã chỉ rõ các biểu hiện của lợi ích nhóm là: “tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích”. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”.

Nếu trước đây lợi ích nhóm chủ yếu mang tính chất cá nhân, đơn lẻ thì nay nó đã diễn ra có tổ chức và mang tính liên kết chặt chẽ, chằng chịt trên – dưới, trong – ngoài để trục lợi. Những năm gần đây, lợi ích nhóm diễn biến ngày càng phức tạp, nghiêm trọng với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, trắng trợn, phạm vi phát triển ngày càng rộng với quy mô lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác cán bộ. Hội nghị Trung ương 3 khóa XI cũng khẳng định lợi ích nhóm là một trong ba cản trở lớn nhất trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

Nguyên nhân của sự hình thành và phát triển lợi ích nhóm là do chúng ta thiếu một hành lang pháp lý để hạn chế mặt tiêu cực của lợi ích nhóm; thiếu minh bạch, thiếu tính khoa học trong quy trình hoạch định và thực hiện các chính sách, hoạt động quản lý quan liêu; c ơ chế “xin – cho” ph ổ biến, thói quen chấp nhận sự c ộng sinh và thỏa hiệp với sai trái, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và sự yếu kém trong hoạt động của một số tổ chức Đảng; sự không rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị; c ơ chế giám sát, kiểm soát còn nặng về hình thức,…

Như vậy, biểu hiện của lợi ích nhóm là hết sức đa dạng. Và c ó thể nói, cuộc đấu tranh phòng, chống lợi ích nhóm của toàn Đảng, toàn dân ta là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, phức tạp và lâu dài, đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, quyết liệt, không khoan nhượng. Song, với quyết tâm chính trị của Đảng, tinh thần cách mạng của Nhân dân, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước .

Kiểm Soát, Ngăn Chặn “Nhóm Lợi Ích” Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

Trong thời gian gần đây, nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu đã bước đầu làm sáng tỏ, nhất là trên phương diện lý luận một số vấn đề về “nhóm lợi ích”, nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ đặc điểm, bản chất, phương thức tác động, nguyên nhân hình thành “nhóm lợi ích”. Chính vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề trên sẽ góp phần nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn tác động, hậu quả của “nhóm lợi ích”, làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả “nhóm lợi ích” ở Việt Nam hiện nay. Đại hội XII của Đảng ban hành nhiều quy định, chỉ thị nhằm chấn chỉnh công tác tổ chức – cán bộ, kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, bước đầu kiểm soát, ngăn chặn được “nhóm lợi ích”_Ảnh: TTXVN

1– “Nhóm lợi ích” là tập hợp có tính tự phát hoặc tự giác nhưng hoàn toàn tự nguyện của những người có chung mục đích, chung lợi ích. Hoạt động chủ yếu của “nhóm lợi ích” là tìm cách tác động đến việc hoạch định và thực hiện chính sách làm sao có lợi nhất cho nhóm mình. “Nhóm lợi ích” vừa có tác động tích cực, vừa tiêu cực đến lợi ích chung của toàn xã hội. Những “nhóm lợi ích” nào đạt được lợi ích cho nhóm mình mà không làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng là những “nhóm lợi ích” tích cực và thường là những nhóm hoạt động công khai. Ngược lại, những “nhóm lợi ích” mà hoạt động chỉ vì lợi ích của nhóm mình, gây tổn hại đến lợi ích của các nhóm khác, đặc biệt là đến lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, là những “nhóm lợi ích” tiêu cực(1).

Ở Việt Nam, khái niệm “nhóm lợi ích” thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực. Với quan niệm này, “nhóm lợi ích” không được hiểu là lợi ích của giai cấp, tầng lớp xã hội mà là lợi ích của một thiểu số người có quan hệ mật thiết với nhau, tìm cách mang lại lợi ích cho nhóm mình, đi ngược lại lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Đây là những “nhóm lợi ích” cần phải được kiểm soát và ngăn chặn.

Nhìn một cách tổng thể, trong phạm vi quốc gia, chưa có sự lũng đoạn của “nhóm lợi ích” tiêu cực, nhưng đã có biểu hiện, tác động của “nhóm lợi ích” lên quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Trên bình diện nhỏ hơn, ở một số tỉnh, bộ, ngành đã có sự lũng đoạn của “nhóm lợi ích” đối với chính quyền; có nơi “nhóm lợi ích” đã can thiệp sâu vào quá trình hướng lái chính sách ở một số lĩnh vực. Sự chi phối, lũng đoạn về kinh tế sớm hay muộn cũng dẫn đến sự chi phối công tác tổ chức – cán bộ và lũng đoạn về chính trị trên các phạm vi khác nhau(2). Đây là điều vô cùng nguy hiểm. Việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong nhiệm kỳ khóa XII thi hành kỷ luật một số tổ chức đảng (Ban cán sự đảng Bộ Công Thương, Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng,…) đã minh chứng cho nhận định trên.

Như vậy, có thể thấy, bản chất của “nhóm lợi ích” tiêu cực chính là sự cấu kết, móc ngoặc của những người có quyền lực với nhau hoặc người có quyền lực với doanh nghiệp bất liêm nhằm trục lợi, tham nhũng. Để mưu cầu, giành giật, chiếm đoạt lợi ích vật chất, danh tiếng, quyền lực cho bản thân và phe nhóm mình, tác động đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách, “nhóm lợi ích” thường sử dụng các phương thức sau đây:

Một là, sử dụng phương thức kinh tế. Đây là phương thức tác động cơ bản, phổ biến và mang lại lợi ích lớn. Đó là việc “nhóm lợi ích” tìm cách mua chuộc, hối lộ quan chức, người có quyền ra quyết định hoạch định, thực thi chính sách. Việc mua chuộc, hối lộ quan chức có thể bằng tiền, vật phẩm, tặng phẩm,… Phương thức này là quan trọng, có tác dụng lớn, nhưng trong thực tế, việc sử dụng phương thức này của các “nhóm lợi ích” cũng “muôn hình vạn trạng”, lúc ào ạt, nhanh, mạnh, lúc ngấm ngầm, chậm rãi, nhưng đưa lại lợi ích lớn hơn các phương thức khác. Phương thức kinh tế cũng thường được sử dụng kết hợp, lồng ghép với các phương thức khác, ít khi được sử dụng tách biệt, đơn lẻ và riêng rẽ. Đây là một trong những phương thức căn bản nhất, lâu đời nhất và tồn tại dưới mọi chế độ(3).

Hai là, sử dụng phương thức chính trị. Với phương thức này, “nhóm lợi ích” có người nằm trong bộ máy có thể tác động, chỉ đạo, chi phối,… quá trình hoạch định, thực thi chính sách. Khi nhóm có đại diện trong tổ chức, bộ máy công quyền, họ sẽ dùng quyền lực, các mối quan hệ để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhóm mình. Trong trường hợp “nhóm lợi ích” không có đại diện trong tổ chức, bộ máy công quyền, họ sẽ tìm cách móc ngoặc, quan hệ với quan chức, những người có quyền ra quyết định để mua chuộc, chi phối một hay một vài mắt xích, bộ phận trong bộ máy công quyền. Đây cũng là phương thức phổ biến được các “nhóm lợi ích” sử dụng và trên thực tế tỏ ra rất hiệu quả.

Ba là, sử dụng báo chí – truyền thông. Nhận thức được vai trò quan trọng của các phương tiện thông tin đại chúng, “nhóm lợi ích” tìm cách kết thân, mua chuộc một số phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo một số cơ quan báo chí để tuyên truyền, đưa tin, viết bài theo mong muốn, định hướng của “nhóm lợi ích”, bẻ lái dư luận theo ý đồ của nhóm. Phương thức tác động thông qua báo chí – truyền thông rất tinh vi, khó nhận biết, dễ đánh lừa dư luận, đã và đang được các “nhóm lợi ích” sử dụng triệt để.

Với những đặc điểm, biểu hiện, phương thức tác động hết sức phong phú, đa dạng, “nhóm lợi ích” đã len lỏi, có mặt ở hầu hết các ngành, lĩnh vực, ở mọi cấp, mọi khâu, công đoạn của quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao “nhóm lợi ích” tiêu cực lại xuất hiện nhiều và tác động mạnh mẽ như vậy?

“Nhóm lợi ích” hình thành do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan là do mặt trái của cơ chế thị trường. Từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập với thế giới, cán bộ, đảng viên hằng ngày, hằng giờ tiếp xúc với hàng và tiền, đối mặt với nhiều cám dỗ. Nhiều người không giữ được mình, không làm chủ được bản thân, bị đồng tiền, lợi ích vật chất làm cho lóa mắt, dẫn đến sa ngã. Trong cơ chế thị trường, quan điểm, tư tưởng đề cao giá trị của đồng tiền, lối sống cá nhân, vị kỷ, thích hưởng thụ dần ăn sâu vào suy nghĩ, tư tưởng của không ít cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế nhanh chóng, sâu rộng khiến nền kinh tế chưa kịp thay đổi, chuyển biến, thích ứng về cơ chế, chính sách. Hệ thống pháp luật còn nhiều lỗ hổng, sơ hở, thiếu minh bạch cũng là mảnh đất màu mỡ để hình thành các “nhóm lợi ích” tiêu cực tham nhũng, trục lợi.

Về mặt chủ quan, “nhóm lợi ích” tiêu cực xuất hiện là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, đề cao lối sống thực dụng, giá trị vật chất, chủ nghĩa cá nhân ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị – tư tưởng, đạo đức, lối sống còn hình thức; những sai sót, vi phạm không được phê phán, xử lý nghiêm minh; công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; chưa phát huy được vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội. Suy cho cùng, dù có lý giải thế nào, thì nguyên nhân chính, chủ yếu của mọi thói hư tật xấu, những căn bệnh vốn tồn tại trong Đảng từ nhiều nhiệm kỳ qua và cho đến nay vẫn tồn tại, trong đó có việc hình thành các “nhóm lợi ích” tiêu cực chính là do chủ nghĩa cá nhân. Do vậy, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nói chung, kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích” nói riêng thì cần phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

2– Văn kiện Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương thời gian qua đã chỉ ra sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có “nhóm lợi ích”, với các biểu hiện cục bộ, bè phái, tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp và đối tượng khác để trục lợi; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân, gia đình, phe nhóm mình; đã xuất hiện những quan hệ không lành mạnh giữa các doanh nghiệp của tư nhân và cơ quan quản lý nhà nước, can thiệp vào quá trình xây dựng, thực thi chính sách để giành lấy đặc quyền, đặc lợi, hình thành “lợi ích nhóm”; tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp nhà nước móc ngoặc với cán bộ, công chức nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân để hình thành “nhóm lợi ích”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn hại cho Nhà nước và doanh nghiệp, làm suy giảm lòng tin của nhân dân(4).

Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong một số bài nói, bài viết, tiếp xúc cử tri cũng đã đề cập đến thực trạng, biểu hiện, hậu quả của “nhóm lợi ích”. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay“, ngày 29-2-2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Lợi ích nhóm” đơn giản là lợi ích cục bộ, móc ngoặc với nhau…, đôi bên cùng có lợi, chung nhau làm ăn vì lợi ích cục bộ. Nhưng bây giờ nhiều khi không chỉ quan hệ giữa hai bên, hai người mà đã thành “đường dây”, “sự ăn cánh” của một nhóm người mưu lợi ích riêng, làm hại lợi ích chung. Dẫn lại lời của C.Mác, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Khi mà tư bản đầu sỏ tài chính cấu kết với quyền lực chính trị thì nó chi phối xã hội ghê gớm lắm!”(5).

Trong bài phát biểu tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết hoạt động năm 2017, triển khai nhiệm vụ tài chính – ngân sách năm 2018, ngày 8-1-2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ rõ: Công tác quản lý tài sản công vẫn đang còn nhiều quan ngại, còn thất thoát, lãng phí lớn, thậm chí còn để các “nhóm lợi ích” “làm phép” để hưởng lợi khổng lồ trên tài sản công. Do vậy, phải “chặt đứt nhóm lợi ích thao túng hưởng lợi trên tài sản công quốc gia”(6). Tiếp đó, tại Hội nghị đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, ngày 21-11-2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ ra nguyên nhân kìm hãm quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, thoái vốn là do lợi ích nhóm, tham nhũng, tư lợi cá nhân; đặc biệt là tình trạng “sân trước”, “sân sau”. Thủ tướng cho biết: “Không những 1 sân trước mà 4, 5 sân sau. Có ông (doanh nghiệp nhà nước) 14 – 15 cái sân sau”(7).

“Nhóm lợi ích” tiêu cực đã để lại hậu quả nặng nề trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nguồn lực đất nước bị tổn thất, nhân dân không được thụ hưởng đầy đủ chính sách đầu tư của Nhà nước. “Nhóm lợi ích” làm cho tệ tham nhũng ngày càng tràn lan, một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái; đạo đức xã hội xuống cấp, nhiều giá trị tinh thần, truyền thống tốt đẹp bị mai một; gây bất bình trong những cán bộ, đảng viên, công chức lao động chân chính, trách nhiệm nhưng đang phải chật vật lo lắng cho cuộc sống hằng ngày. Nguy hiểm hơn, nó làm giảm sút, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, là mầm mống cho những bất ổn, xung đột trong xã hội,…

Nhận thức được hậu quả và nguy cơ của “nhóm lợi ích” đối với đất nước và xã hội, kể từ Đại hội XI đến nay, Đảng ta đã tăng cường, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đến Đại hội XII đã bổ sung thêm nội dung xây dựng Đảng về đạo đức. Đảng ta đã ban hành 2 nghị quyết chuyên đề về công tác xây dựng Đảng: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII. Bên cạnh đó, Đảng còn ban hành nghị quyết về công tác đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân,… Các nghị quyết này, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và khóa XII đã đưa ra nhiều nhóm giải pháp hữu hiệu để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trong đó có việc kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng cùng các đại biểu dự Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác của ngành nội chính Đảng, năm 2018_Ảnh: TTXVN

Cùng với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng ta đã khẩn trương nghiên cứu, ban hành các quy định, chỉ thị về công tác tổ chức cán bộ, về kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương,… Đặc biệt, ngày 23-9-2019, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW ” về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền “. Với việc ban hành Quy định này, việc kiểm soát quyền lực, chống “nhóm lợi ích” trong công tác cán bộ, các hành vi chạy chức, chạy quyền đã được chỉ ra cụ thể. Trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cá nhân, người đứng đầu đã được cụ thể hóa. Đây là lần đầu tiên vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền chính thức được đề cập trong văn bản của Đảng do Bộ Chính trị ban hành. Quy định số 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị được ví như một thứ “vắc-xin” hiệu quả, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích” trong công tác tổ chức – cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền trước thềm đại hội đảng các cấp đang đến gần.

Có thể nói, chưa có nhiệm kỳ nào như nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng ta lại ban hành nhiều quy định, chỉ thị nhằm chấn chỉnh công tác tổ chức – cán bộ, kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng như vậy. Tính chung, “trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành 4 nghị quyết và 1 quy định; Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành hơn 120 nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế, thông báo, hướng dẫn,… về xây dựng, chỉnh đốn Đảng để triển khai thực hiện”(10); nhờ đó, đã góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, bước đầu kiểm soát, ngăn chặn được “nhóm lợi ích”. Nếu như trong giai đoạn trước, “nhóm lợi ích” hoạt động mạnh mẽ, ráo riết, thậm chí có lúc công khai, thì hiện nay, với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhiều “nhóm lợi ích” đã bị tan rã, thành viên của nhóm bị xử lý kỷ luật. Các “nhóm lợi ích” tiêu cực giờ đây không còn như trong giai đoạn trước, mà đang ẩn mình, hoạt động tinh vi hơn, từng bước thay đổi phương thức, chờ đợi thời cơ để hoạt động trở lại.

3– Dự báo trong thời gian tới, “nhóm lợi ích” tiêu cực sẽ tiếp tục tác động đến quá trình hoạch định, thực thi chính sách trên tất cả các ngành, lĩnh vực, ở mọi quy mô, cấp độ… “Nhóm lợi ích” sẽ liên kết với nhau một cách tinh vi, chặt chẽ hơn, nên rất khó phát hiện, ngăn chặn. Sự cấu kết giữa những người có chức, có quyền với doanh nghiệp tiếp tục sẽ là xu hướng chủ đạo. Đặc biệt, “nhóm lợi ích” hoạt động mạnh mẽ, có tác động, gây hậu quả lớn đến xã hội ở những ngành, lĩnh vực còn có nhiều sơ hở, lỗ hổng về cơ chế, chính sách, thiếu minh bạch trong quản lý, điều hành,… Thậm chí, đã manh nha xuất hiện sự cấu kết giữa “nhóm lợi ích” ở trong nước với “nhóm lợi ích” ở nước ngoài, “nhóm lợi ích” kinh tế với “nhóm lợi ích” chính trị, hình thành nhóm đa lợi ích. Đây là xu hướng mới và sẽ mạnh lên trong thời gian tới. Trước xu hướng trên, nếu chúng ta không có quyết tâm chính trị cao, không tỉnh táo, dũng cảm, không có những giải pháp đủ mạnh, thì “nhóm lợi ích” sẽ tiếp tục chi phối, thao túng nền kinh tế đất nước. Do vậy, hơn lúc nào hết, trong giai đoạn hiện nay, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta đề ra là kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích” tiêu cực. Đây là nhiệm vụ, yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước, sự thành bại của công cuộc đổi mới và cũng là niềm mong mỏi của hơn 96 triệu đồng bào trong cả nước.

Để kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích” phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, phải dựa vào nhân dân, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Đó là các giải pháp về chính trị – tư tưởng, tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị; giải pháp về cơ chế, chính sách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giải pháp về tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về công tác tổ chức – cán bộ; về phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội, của báo chí – truyền thông; tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn với đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn “nhóm lợi ích” với quan điểm không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Các nhóm giải pháp trên cần được tiến hành một cách đồng bộ, kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, làm từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài; đồng thời, lựa chọn những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trọng điểm, mang tính đột phá, phù hợp để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt.

Cần khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích” nói chung, kiểm soát, ngăn chặn “nhóm lợi ích” trong hoạch định và thực thi chính sách nói riêng, đặc biệt là trong một số lĩnh vực nhạy cảm, đang gây bức xúc trong xã hội, như quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên…; có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế – xã hội để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”; chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực (quyền lực chính trị, quyền lực hành chính, quyền lực kinh tế) của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị; công khai, minh bạch trong quản lý, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, xóa bỏ cơ chế “xin  - cho”, “duyệt – cấp”, độc quyền, đã và đang tồn tại ở một số lĩnh vực mà cho đến nay vẫn chưa thể khắc phục được./.

Theo Tapchicongsan.org.vnhttp://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/816206/kiem-soat%2C-ngan-chan-%E2%80%9Cnhom-loi-ich%E2%80%9D-o-viet-nam-hien-nay.aspx

Một Số Ý Kiến Về “Lợi Ích Nhóm” Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

1. Khái niệm và phân loại lợi ích nhóm

Theo nguyên nghĩa, “Lợi ích nhóm” là lợi ích của một nhóm người gắn kết với nhau, hỗ trợ, móc ngoặc với  nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau có lợi ích và bảo vệ lợi ích đó.

Xét về mục đích và tính chất, lợi ích nhóm có thể phân chia thành hai loại: lợi ích nhóm tích cực và lợi ích nhóm tiêu cực.

Lợi ích nhóm tích cực là lợi ích chính đáng, hợp pháp của một nhóm người. Trong xã hội tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp, nhóm người có đặc điểm, hoàn cảnh khác nhau, việc hình thành lợi ích nhóm tích cực là một nhu cầu khách quan, chính đáng, tự nhiên. Lợi ích của các thành viên trong tổ chức công đoàn, phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật v.v… cũng là lợi ích nhóm tích cực. Như vậy, lợi ích nhóm tích cực là lợi ích chính đáng, hợp pháp, phù hợp, không mâu thuẫn với lợi ích của dân tộc quốc gia, hướng tới và hài hòa với lợi ích xã hội, lợi ích dân tộc và quốc gia.

Hội thảo “Nhận diện lợi ích nhóm” tại Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Lợi ích nhóm tiêu cực là lợi ích cục bộ của những đơn vị, địa phương, của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và thậm chí với quốc gia, dân tộc. Ở đây, cần phân định mức độ nguy hiểm, tác hại của các loại lợi ích nhóm tiêu cực.

Lâu nay chúng ta thường nói đến lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, đơn vị. Thực chất đây cũng là một loại lợi ích tiêu cực. Phạm vi, quy mô của loại lợi ích này rất rộng, có thể là lợi ích cục bộ của một tổ, đội, phòng, ban cho đến lợi ích cục bộ của một phường, xã, huyện, tỉnh. Loại lợi ích này phục vụ cho một tập hợp người, địa phương, đơn vị. Về bản chất, là giành được nhiều lợi ích hơn cho địa phương, đơn vị mình, không tính đến lợi ích của toàn cục, của các địa phương, đơn vị khác. Trong thực tế, biểu hiện của loại lợi ích này là tranh thủ cấp trên “chạy dự án, công trình”, như dân gian thường nói xã, phường “chạy” trên huyện, huyện “chạy” trên tỉnh, tỉnh “chạy” trên các Bộ, ngành ở Trung ương. Mặc dù có xung đột với lợi ích toàn cục nhưng tác hại của lợi ích loại này chưa đến mức đối kháng, lũng đoạn, chi phối lợi ích toàn cục. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát, ngăn chặn lợi ích cục bộ thì dễ biến tướng, phát triển thành lợi ích nhóm tiêu cực cao hơn.

Lợi ích nhóm tiêu cực ở mức độ cao thường là lợi ích của một nhóm người ít hơn, chỉ phục vụ cho một nhóm người nhất định, tính cố kết, liên thông, móc ngoặc chặt chẽ, khép kín và tinh vi hơn; xung đột, mâu thuẫn có tính chất đối kháng, gây thiệt hại cho lợi ích chung của nhân dân, của xã hội, và quốc gia, dân tộc, cản trở quá trình phát triển kinh tế, xã hội, làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước v.v…

“Lợi ích nhóm” hay “nhóm lợi ích” mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước đề cập đến là lợi ích nhóm tiêu cực, cần phải đấu tranh, ngăn chặn. Lợi ích nhóm tiêu cực có thể phân loại như sau:

– Căn cứ vào chủ thể: có thể bao gồm lợi ích nhóm tiêu cực cho số đông (đơn vị, địa phương) và lợi ích nhóm cho số ít. Trong đó lợi ích nhóm có số ít nguy hiểm hơn, tác hại hơn.

– Căn cứ vào mục đích của lợi ích có thể phân chia thành lợi ích cho đơn vị, địa phương và lợi ích cho một nhóm người.

– Căn cứ vào tính chất của lợi ích: lợi ích ở đây không chỉ là lợi ích vật chất mà nó còn bao hàm tất cả những gì mà người ta muốn có như vật chất, danh tiếng, quyền lực, sự thuận lợi, thăng tiến, vị trí làm việc cho bản thân và người thân trong gia đình v.v…

2. Nhận diện lợi ích nhóm tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, ở nước ta, lợi ích nhóm tiêu cực phát triển khá phổ biến, hiện diện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Nhưng, phổ biến nhất, tác hại và nguy hiểm nhất là lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và được thể hiện dưới các dạng sau đây:

– Tạo quan hệ với cấp trên, với cơ quan có thẩm quyền, khi cần thiết có thể “hối lộ” dưới mọi hình thức để giành được kinh phí, đề tài, dự án v.v… cho đơn vị, địa phương v.v… (trong khi có thể bố trí kinh phí, đề tài, dự án cho đơn vị, địa phương khác sẽ có lợi và hiệu quả hơn).

– Tạo quan hệ, móc ngoặc với những người có chức, có quyền quyết định để được bố trí vào các chức vụ mong muốn cho bản thân hoặc cho người thân trong gia đình, trong khi năng lực, phẩm chất không đáp ứng được yêu cầu của vị trí công tác đó.

– Nhà đầu tư, doanh nghiệp tạo quan hệ móc nối với cơ quan, người có thẩm quyền quyết định, hình thành nhóm lợi ích để xây dựng các dự án, chủ trương đầu tư hoặc giành được các dự án “phát triển kinh tế – xã hội” nhằm mục đích kiếm lợi, có chi trả % cho chủ đầu tư, không tính đến hiệu quả đầu tư hoặc hiệu quả thấp, miễn là “có việc” là “có ăn”. Người có chức quyền, thoái hóa, biến chất, chỉ chăm lo thu vén lợi ích cá nhân, chỉ phê duyệt cho đơn vị, cá nhân nào biết quan hệ, biết điều, chi trả % đậm hơn.

– Các doanh nghiệp là “sân sau”, đồ đệ trung thành của những người có chức, có quyền hình thành nhóm lợi ích, cố kết với nhau để cùng nhau có lợi ích, bảo vệ lợi ích cho nhau. Doanh nghiệp và các đồ đệ trung thành phải chăm lo lợi ích của “sếp” tạo dựng uy tín, lo lót để che chắn khuyết điểm của “sếp”, để “sếp” được vào những vị trí công tác mong muốn v.v… Đến lượt “sếp” phải trả ơn, chăm lo lợi ích của các doanh nghiệp, đồ đệ của mình, phê duyệt cho họ những dự án “béo bở”, cất nhắc họ vào những vị trí làm việc hứa hẹn nhiều bổng, lộc v.v…

– Một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất trong các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát, cơ quan điều tra v.v… cũng bị móc nối và vì lợi ích vị kỷ của mình hình thành nhóm lợi ích với các cơ quan, cán bộ, công chức là đối tượng thanh tra, kiểm tra, điều tra v.v… để che chắn khuyết điểm, thậm chí làm nhẹ tội cho các đối tượng này.

3. Đặc điểm của lợi ích nhóm tiêu cực

Một là, lúc đầu là lợi ích cục bộ của đơn vị, địa phương không được kiểm soát ngăn chặn phát triển thành lợi ích nhóm tiêu cực của những nhóm ít hơn cấu kết với nhau để cùng hưởng lợi ích bất chính.

Hai là, sự cấu kết của một bộ phận cán bộ, công chức có chức, có quyền, thoái hóa, biến chất với các đơn vị kinh tế, các thành phần ngoài xã hội hỗ trợ nhau nhằm trục lợi, thu vén lợi ích cá nhân.

Ba là, luôn gắn với hành vi tham nhũng của những người có chức, có quyền. Điều đó có nghĩa là lợi ích nhóm tiêu cực gắn với quyền lực nhà nước tạo nên nhóm lợi ích tiêu cực ở cấp độ cao hơn, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, chi phối các cá nhân có thẩm quyền, ảnh hưởng đến cả các chủ trương, chính sách, quyết định của chính quyền, tính chất nguy hiểm đối với xã hội càng cao hơn.

Bốn là, cấu kết, lôi kéo những người có chức, có quyền bằng vật chất ngày càng chặt chẽ, khép kín, đủ sức lũng đoạn từ tập thể nhỏ đến tập thể lớn từ kinh tế đến chính trị.

Năm là, lợi dụng chính sách, pháp luật; nhân danh lợi ích xã hội, nhân danh quy định của pháp luật để trục lợi. Dưới danh nghĩa lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia để giành giật, chiếm đoạt lợi ích vật chất, danh tiếng, quyền lực cho bản thân và gia đình mà không thèm đếm xỉa đến lợi ích của nhân dân, của quốc gia, dân tộc.

Sáu là, được tổ chức chặt chẽ, thủ tục hợp pháp, rất khó phát hiện.

4. Tác hại của lợi ích nhóm tiêu cực

– Thứ nhất, là trở lực lớn trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; làm méo mó chính sách, ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn nhưng trong quá trình thực hiện, nếu để lợi ích nhóm tiêu cực chi phối sẽ làm sai lệch mục đích, không bảo đảm hiệu quả, không đạt được những mục tiêu đã đề ra. Khi lợi ích nhóm tiêu cực chi phối, tác động sẽ làm méo mó chính sách, suy yếu chính quyền, đe dọa sự lành mạnh của nền kinh tế, đe dọa lợi ích toàn dân, lợi ích quốc gia dân tộc.

– Thứ hai, gây thiệt hại lớn đối với tài sản của nhà nước, xã hội, tập thể và công dân, xâm phạm quyền và lợi ích của công dân.

Lợi ích nhóm tiêu cực gắn với tham nhũng, lãng phí vì vậy sẽ gây thiệt hại lớn về tài sản của nhà nước và nhân dân. Do lợi ích nhóm chi phối chính sách, quyết định quản lý dẫn đến đầu tư sai gây lãng phí lớn và thiệt hại tài sản do lãng phí gây ra lớn hơn nhiều so với thiệt hại tài sản do tham nhũng gây ra. Có thể thống kê về thiệt hại tài sản do tham nhũng gây ra nhưng khó có thể thống kê hết được thiệt hại tài sản do lãng phí gây ra vì lãng phí xảy ra trên nhiều lĩnh vực, dưới nhiều hình thái khác nhau, do nhiều chủ thể thực hiện, kể cả do cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước gây ra.

– Thứ ba, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội.

Lịch sử phát triển xã hội và nhà nước ở Việt Nam cho thấy, hiện tượng người lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để trục lợi lúc nào cũng có. Nếu không ngăn chặn, xử lý kịp thời và nghiêm minh sẽ dễ phát triển, lây lan thành căn bệnh của cả bộ máy nhà nước. Người liêm khiết, trung thực trở thành cô lập, thậm chí bị bức hại bằng những thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo. Hiện nay, dưới chế độ XHCN đa số đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, tuy vậy cũng không tránh khỏi tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa  biến  chất  sa  vào  tham  nhũng,  thiếu trách nhiệm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, cấu kết với các phần tử xấu ngoài xã hội và trong bộ máy nhà nước với nhau hình thành nhóm lợi ích tiêu cực gây ra lãng phí lớn tài sản của đất nước, của nhân dân. Ở nơi nào và khi nào không đấu tranh kiên quyết ngăn chặn tình trạng lợi ích nhóm tiêu cực sẽ dẫn đến tình trạng tha hóa, biến chất ngày càng lan rộng trong đội ngũ cán bộ, công chức, những giá trị đạo đức xã hội như cần, kiệm, liêm, chính sẽ bị băng hoại, đảo lộn.

– Thứ tư, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Từ ngày Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi vĩ đại, không những giành được độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc mà còn từng bước vững chắc tiến bước trên con đường xây dựng XHCN. Vì thế nhân dân rất tin tưởng vào Đảng và Nhà nước. Nhưng, do một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất hình thành những nhóm tiêu cực sa vào tham nhũng, lãng phí thu vén lợi ích cá nhân làm giảm sút  lòng  tin  của  nhân  dân,  gây  bất  bình trong dư luận xã hội, thậm chí có nơi nhân dân biểu tình phản đối thể hiện sự phẫn nộ của mình. Lợi ích nhóm tiêu cực ngày càng lan rộng kể cả trong một số cán bộ cao cấp, trong các ngành cao quý như y tế, giáo dục, trong các lĩnh vực nhạy cảm như thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo v.v… Nếu không được ngăn chặn, xử lý nghiêm minh sẽ trở thành nguy cơ đe dọa thành quả cách mạng đã tốn nhiều xương máu mới giành được.

– Thứ năm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, gây mất ổn định chính trị, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ.

Lợi ích nhóm tiêu cực làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, gây bức xúc trong dư luận xã hội, bất bình trong nhân dân. Vì vậy, các thế lực thù địch rất dễ lợi dụng xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, kích động nhân dân chống lại Đảng, Nhà nước. Trên thực tế, có lúc, có nơi các thế lực thù địch đã kích động được một bộ phận nhân dân gây bạo loạn làm mất ổn định chính trị. Nếu Đảng, Nhà nước không kiên quyết xử lý nghiêm minh, tiếp tục để lợi ích nhóm tiêu cực lộng hành, phát triển gây bức xúc trong nhân dân và xã hội sẽ tạo thuận lợi thêm cho các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện những âm mưu gây bạo loạn đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ.

5. Giải pháp đấu tranh phòng, chống lợi ích nhóm tiêu cực

Để đạt được mục tiêu, yêu cầu đấu tranh phòng, chống lợi ích nhóm tiêu cực gắn với tham nhũng, lãng phí cần xây dựng và thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

– Giáo dục cán bộ, nhân dân nhận thức đúng đắn yêu cầu bức xúc của cuộc đấu tranh phòng, chống lợi ích nhóm tiêu cực gắn với tham nhũng, lãng phí vì những căn bệnh này đang đe dọa sự tồn vong của Đảng,  Nhà  nước  và  chế  độ.  “Tích  cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội là quyết tâm chính trị của Đảng ta”(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.45).

– Tổ chức nghiên cứu cơ bản, hệ thống, toàn diện về lợi ích nhóm tiêu cực gắn với tham nhũng, lãng phí.

– Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật nói chung và pháp luật về PCTN, lãng phí nói riêng, các quy định về quản lý đất đai, quản lý kinh tế, tài chính, ngân hàng, về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

– Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp bộ máy gọn nhẹ, bảo đảm công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế, tài chính trong các cơ quan, đơn vị.

– Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật PCTN, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; sửa đổi Luật khiếu nại, Luật tố cáo.

– Xử lý nghiêm, kịp thời, công khai những vụ việc đã được phát hiện. Có biện pháp xử lý kiên quyết, nghiêm minh những người tham nhũng, lãng phí bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu. Ban hành và thực hiện quy định để xử lý thích đáng, đúng pháp luật người đứng đầu cơ quan, đơn vị, nơi nảy ra tham nhũng, lãng phí, gây hậu quả nghiêm trọng. Tịch thu sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; xử lý nghiêm minh những người bao che tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống, làm hại người khác, đồng thời có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; biểu dương và nhân rộng những tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

– Triển khai thực hiện tốt pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức và cơ quan công quyền.

– Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương đối với  cán  bộ,  công  chức;  có  quy  định  về kiểm soát, giám sát thu nhập của cán bộ, công chức.

– Hoàn thiện tổ chức và triển khai hoạt động có hiệu quả của cơ quan nội chính và PCTN ở trung ương và địa phương. Các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị phải xây dựng chương trình hành động PCTN, lãng phí.

– Tập trung chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra PCTN, lãng phí trong một số lĩnh vực trọng điểm như quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ  bản,  quản  lý  tài  chính  trong  doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách nhà nước; quản lý tài sản công; công tác quy hoạch, tuyển dụng, đề bạt, bố trí cán bộ.

– Gắn đấu tranh phòng, chống lợi ích nhóm tiêu cực, chống tham nhũng, lãng phí với công tác chỉnh đốn, xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

PGS,TS. Nguyễn Văn Mạnh

(Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhận Diện Và Ứng Xử Với Lợi Ích Nhóm Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!