Đề Xuất 2/2023 # Nguyên Lý Hoạt Động Của Bình Xăng Con # Top 9 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Nguyên Lý Hoạt Động Của Bình Xăng Con # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nguyên Lý Hoạt Động Của Bình Xăng Con mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bình xăng con hay còn được gọi là bộ chế hòa khí (Carburetor) là một trong những chi tiết có chức năng trộn không khí với nhiên liệu lại theo một tỷ lệ thích hợp và cung cấp cho động cơ xăng. Hoạt động này diễn ra theo nguyên tắc hoàn toàn cơ học. 

Bộ phận này hiện tại vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong các động cơ nhỏ, động cơ cũ hay động cơ xe ô tô, đặc biệt là các xe ô tô đua có kích thước nhỏ. Mặc dù đa số các xe ô tô được sản xuất từ sau những năm 1980 đã chuyển sang dùng hệ thống phun xăng được điều khiển bởi máy tính thay thế cho bộ chế hoà khí.

Ưu điểm đặc trưng của Carburetor đó là kích thước nhỏ gọn, rẻ và dễ dàng sửa chữa, bảo hành.

Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chi tiết hơn về nó

Lịch sử ra đời của Bình Xăng Con

Giống như một số bộ phận của xe máy, thiết bị trộn nhiên liệu và không khí (bình xăng con/ bộ chế hòa khí) ra đời từ nghiên cứu được hoàn thành trong vài thế kỷ trước. Vào những năm 1730, Daniel Bernoulli, một nhà toán học và vật lý học người Thụy Sĩ đã phát hiện ra rằng áp suất không khí giảm khi vận tốc tăng. Điều này buộc không khí phải được di chuyển qua một phần hạn chế của ống; không khí tăng thì áp suất giảm. Nó được phát hiện vào khoảng năm 1797 bởi một nhà vật lý người Ý tên là Giovanni Venturi.

“Nếu áp suất giảm, vận tốc tăng, nếu vận tốc giảm thì áp suất tăng”.

Nguyên lý hoạt động của Bình Xăng Con

Khi động cơ xe máy hoạt động thì lúc này bướm khí và bướm ga cùng lúc được mở ra. Khi đó, không khí sẽ được hút vào bên trong từ phía bên trên và đi qua họng khuếch tán. Do họng khuếch tán đã bị thắt giữa nên diện tích lưu thông không khí bị thu hẹp đi và giúp ngăn chặn tốc độ của dòng khí. Nhờ vậy mà áp suất bị giảm xuống và tạo được độ chân không, giúp cho bình xăng con hút nhiên liệu thông qua đường xăng chính từ buồng phao dễ dàng và lúc này chúng sẽ phun nhiên liệu ra dưới dạng tia dòng. Lúc này, nhiệt độ bên trong cũng cao hơn do đó khiến cho xăng bị phun theo dòng và được hòa trộn với luồng không khí cùng với các cơ chế bay hơi và tạo thành hỗn hợp khí cháy.

Chú thích sơ đồ:

air cleaner: bộ lọc không khí

choke valve: bướm gió

venturi: ống tiết lưu

throttle valve: bướm ga

float chamber: buồng phao

float: phao

float valve: van phao

float arm: cần phao

jet: đường nhiên liệu

Chức năng chính của bộ chế hòa khí:

Trộn đều xăng gió để đốt cháy nhiện liệu

Điều chỉnh lượng gió dựa vào dung tích của máy

Đưa nhiên liệu dựa theo lượng gió và công suất của máy

Đến đây, bạn đã hiểu khá nhiều về những gì một bộ chế hòa khí làm và cách nó hoạt động.

Các bộ phận của bộ chế hòa khí:

Cấu tạo của bộ chế hòa khí xe máy bao gồm các thành phần sau: bướm khí, vòi xăng chính, hạt khuếch tán, buồng phao, bướm ga, bàn đạp ga, kim van xăng từ bơm tới … Đa số các bộ phận này đều được thiết kế theo một quy định chuẩn mực để nó có thể hoạt động một cách thống nhất và kết hợp hài hòa với nhau để đạt được hiệu quả trong việc trộn nhiên liệu với không khí cho ra tỷ lệ phù hợp.

Bên trong của bộ chế hoà khí có một bộ phận cực kỳ quan trọng đó là lọc khuếch tán hay còn gọi là buồng hòa khí. Chi tiết này được thiết kế giống như một đoạn ống, nhưng nó lại bị thắt lại ở đoạn giữa ống và từ đó nó được thiết kế thêm một ống phun cho đường xăng chính nữa.

Vật màu đen ở đây là chiếc phao, và nối với nó là chiếc kim. Phao xăng nằm trong phần bát chứa bên dưới của bộ chế hòa khí. Nhiên liệu (xăng) từ bình xăng lớn chảy vào bát chứa của bộ chế hòa khí qua một van kim phao. Chiếc van kim này được kích hoạt bởi chính phao xăng. Khi lượng xăng thấp, không đủ, phao hạ xuống, van kim mở ra để xăng chảy vào. Khi lượng nhiên liệu đã đủ, phao nâng lên theo mực xăng, van kim đóng lại, ngưng việc nạp nhiên liệu.

Đót kim được kéo lên và xuống bởi khối trượt hay còn gọi là trái ga. Việc trượt lên xuống của trái ga phù hợp với vị trí mở của bướm ga. Có 02 kiểu điều khiển trượt cơ bản cho trái ga:

1- Loại có thể điều khiển bởi dây cáp kéo với kiểu trái ga phẳng / dẹp.

2- Hoặc loại sử dụng áp suất tạo ra bởi luồng không khí đi qua bướm ga hút trái ga đi lên khi lượng khí tăng. Loại này trái ga thường kiểu hình trụ tròn. Cấu tạo phức tạp hơn khi liên kết với một màng cao su phía trên để nhận sự tác động của áp suất.

Đây là một kiểu van bướm. Nhiều bộ chế hòa khí đời đầu sử dụng thiết kế van này. Trục đĩa được gắn trên quay 90 độ. Vị trí này sẽ là bướm ga lớn nhất.

Vít chỉnh xăng và vít chỉnh gió (ga-ren-ti)

Trên các loại chế hòa khí cơ bản, sẽ có 2 vít để điều chỉnh dành cho kim xăng phụ. Việc này cho phép thay đổi tỉ lệ hòa khí để phù hợp chế độ hoạt động không tải, hoặc với sự thay đổi tương đối về nhiệt độ, môi trường, mà không cần phải thay đổi gíc-lơ phụ. Vít chỉnh xăng / Vít xăng thường nằm về phía động cơ hoặc bướm ga trên chế hòa khí. Vít có dạng điều chỉnh bởi tua vít dẹt. Thường nằm sát với thân bình xăng con. Vít gió thường nằm về phí họng gió (phía bình xăng con lắp với lọc gió). Vít cũng có dạng đầu chỉnh tua vít dẹt. Tuy nhiên, vít thường nổi bên ngoài và liên kết với một lò xo. Với các hãng khác nhau, vít có thể chỉnh bằng tay, hoặc được bọc núm để vặn chỉnh.

Kim xăng:

 Gíc-lơ chính / Gíc-lơ phụ (Main Jet / Pilot Jet) Việc hút xăng từ buồng phao để hòa trộn không khí thông thường được thực hiện qua 02 kim xăng. Kim xăng chính / Gíc-lơ chính / Gíc-lơ xăng (Main Jet) và Kim xăng phụ / Gíc-lơ phụ / Gíc-lơ gió (Pilot Jet). Kim xăng phụ thường nhỏ hơn kim xăng chính.

 Kim xăng phụ (Gíc-lơ phụ / gió)

 Kim xăng phụ sẽ xử lý cho hỗn hợp hòa khí cho động cơ hoạt động ở chế độ không tải / Ga-ren-ti cho đến độ mở 15 – 20% của bướm ga. Không khí đi vào từ cửa nạp / họng gió của CHK (phần nối với lọc gió). Luồng khí tạo ra áp suất khi đi ngang mạch của Gíc-lơ phụ, và hút xăng qua Gíc-lơ phụ. Hỗn hợp hòa khí này với lượng nhiên liệu thấp hơn, bởi chế độ hoạt động cầm chừng của động cơ không cần nhiều năng lượng

Kim xăng chính (Gíc-lơ chính / xăng)

 Kim xăng chính với kích thước to hơn nằm kế bên kim xăng phụ. Kim xăng chính cung cấp nhiên liệu ở mức 50% đến độ mở bướm ga hoàn toàn. Gíc-lơ chính được lắp dạng ren vít vào kim phun / vòi phun nằm phía trên. Lượng xăng được hút lên đi qua kim phun và thoát ra khoang chính của CHK. Vòi phun quản lý lượng nhiên liệu cho hỗn hợp hòa khí ở mức 15 đến 60% độ mở của bướm.

Van gió – Choke (trường hợp đề không nổ người ta hay dung đến nó và gọi là ‘’kéo e”)

 Ở chế độ khởi động, nếu động cơ đang nguội, hoặc khó khởi động vào sáng sớm, cần một lượng hòa khí giàu xăng để việc khởi động dễ dàng. Và công việc này do van gió – Choke đảm nhận. Choke có thể được điều chỉnh trực tiếp bằng nút kéo trên bình xăng con. Hoặc một số loại xe cho phép chỉnh thông qua tay kéo lắp trên ghi đông phía bên trái. Với những bộ chế hòa khí đời cũ, van gió cấu tạo như bướm ga đặt vị trí họng CHK phía trước. Khi kéo Choke, van đóng lại, giảm lượng không khí đi vào khoang chính CHK. Trong lúc đó, lượng nhiên liệu được hút qua Gíc-lơ phụ vẫn không đổi. Như vậy, hỗn hợp trở nên giàu xăng hơn.

Với những bình xăng con loại mới, lưu lượng không khí và nhiên liệu không đổi. Thiết kế Choke khác đi. Có một mạch được làm riêng cho van gió. Cửa mạch được điều khiển bởi van choke, là một lỗ nhỏ vị trí phía trước họng gió. Mạch này dẫn trực tiếp đến lượng nhiên liệu tại buồng phao. Khi kéo Choke, van tại cửa mạch được mở ra, cho phép một lượng không khí đi vào mạch. Và luồng không khí tạo ra áp suất, hút một lượng nhiên liệu tại buồng phao. Cung cấp cho hỗn hợp hòa khí trên khoang chính của CHK trước khi nạp vào buồng đốt. Lượng nhiên liệu do mạch Choke cung cấp làm giàu thêm hỗn hợp hòa khí giúp việc đốt cháy được dễ dàng hơn. Khi động cơ đã khởi động, đóng Choke lại, chỉ còn kim xăng phụ làm nhiệm vụ cấp nhiên liệu. Lúc này hỗn hợp hòa khí trở lại với tỉ lệ bình thường để động cơ hoạt động ở chế độ không tải.

Lò xo:

Có chức năng tạo lực đối trọng với lực nâng của da bơm. Khi 2 lực này cân bằng thì cục ga sẽ đứng yên một chỗ tương ứng với việc ta giữ ga ở một mức cố định nào đó. Khi nhả ga ra, lò xo này sẽ đẩy cục ga đi xuống thu hẹp họng gió.

Cách chỉnh chế hòa khí xe máy:

ốc bên trái (vít gió), ốc bên phải (ga -lăng-ti)

Đối với xe máy thì cách chỉnh chế hòa khí xe máy Yamaha, Honda, hay các loại xe hãng khác nếu khá giống nhau. Cụ thể các nước thực hiện như sau: 

Cách điều chỉnh bộ chế hòa khí xe máy

Bước 1: Bạn dựng chân chống giữa của xe lên để xe được cân bằng và tìm vị trí của bình xăng con/ bộ chế hòa khí. Ở đây sẽ có 2 ốc vít giống như ô tô gọi là ốc gió và ốc xăng. Ốc xăng hay còn gọi là ốc ga -lăng-ti. 

Bước 2: Dùng tua vít vặn hết tất cả 2 ốc siết chặt cho đến khi ốc siết chặt lại.

Bước 3: Nới lỏng ốc xăng khoảng 1,5 – 2 vòng và tiến hành nổ máy xe và giữ nguyên như thế cho đến khi tiếng nổ lịm dần thì tiến hành nới lỏng ốc gió. Nới từ từ cho đến khi tiếng nổ tròn, đều là được được.

Cách xả xăng ở bộ chế hòa khí:

Cách xả xăng ở bộ chế hòa khí rất đơn giản. Bạn chỉ cần dùng tua vít vặn mở vít xả xăng ở bên dưới là có thể đẩy hết được xăng cặn bên trong bình ra ngoài. 

ốc xả xăng trên bộ chế hòa khí của xe Honda Blade

Vệ sinh bộ Chế Hòa Khí

Nguyên Lý Hoạt Động Của Động Cơ Xăng 2 Kỳ Mà Bạn Chưa Biết

[BẬT MÍ] Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ mà bạn chưa biết

[BẬT MÍ] Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ mà bạn chưa biết

Khi đã nắm rõ nguyên lý hoạt động của động cơ xăng thì sẽ giúp bạn hiểu cơ bản về hoạt động của từng loại máy được trang bị lên động cơ như máy phát điện. Từ những hiểu biết đó có thể hỗ trợ trong quá trình sử dụng máy móc thật hiệu quả. Vậy bạn có biết nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ được vẫn hành như thế nào không, nếu bạn chưa biết thì hãy để Vinafarm bật mí.

Nội dung bài viết

1. Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ

1.1 Cấu tạo động cơ 2 kỳ

1.2 Nguyên lý hoạt động của động cơ 2 kỳ

2. So sánh động cơ 2 kỳ và 4 kỳ có gì khác nhau

2.1 Điểm giống nhau của động cơ 2 kỳ và 4 kỳ

2.2 Điểm khác nhau của động cơ 2 kỳ và 4 kỳ  

1. Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ

Trước khi bước vào nguyên lý hoạt động thì chúng tay hãy tìm sâu về cấu tạo của động cơ 2 kỳ.

1.1 Cấu tạo động cơ 2 kỳ

Cấu tạo của động cơ 2 kỳ ít chi tiết nhất so với động cơ 4 kỳ. Do ít chi tiết nên việc bảo dưỡng cũng như sửa chữa không quá khăn so với những loại động cơ khác.

Pit-tông: Trong tất cả động cơ hiện nay điều có pít-tông, phụ kiện này được sử dụng để truyền lực giãn nở của khí sang trục quay cơ học của trục khuỷu thông qua một nốt. Piston được chuyển động tịnh tiến trong xilanh.

Trục khuỷu: Đây là bộ phận có khả năng chuyển động từ động tỉnh sáng chuyện động quay.

Thanh truyền: Thanh truyền dùng để truyền dao động từ piston đến trục khuỷu, nó hoạt động như một cánh tay đòn.

Bugi: Đây là bộ phận không thể thiếu được trong động cơ xăng, dùng để đánh lửa tạo ra lửa điện để đốt cháy hỗn hợp nhiên liệu.

Cửa nạp: Cửa nạp có nhiệm vụ dẫn hỗn hợp khí từ bộ chế hòa khí vào bên trong buồng đốt để thực hiện việc đốt cháy.

Cửa xả: Cửa xả có nhiệm vụ đưa khí thải ra bên ngoài.

Bánh đà: Đây là bộ phận khá quan trọng, dùng để lưu trữ năng lượng.

1.2 Nguyên lý hoạt động của động cơ 2 kỳ

Khi động cơ làm việc sẽ chia làm 2 kỳ là  kỳ đầu và kỳ sau.

Kỳ đầu: Khi động cơ làm việc piston di chuyển từ điểm chết trên xuống điểm chết dưới, ở giai đoạn này nhiên liệu và không khí đi vào buồng đốt thực hiện quá trình cháy, khi đó mép trên của piston sẽ giãn nở sinh ra công, gần cuối quá trình này mép trên piston sẽ di chuyển qua gờ trên của cửa thải, khí thải trong lúc này sẽ tự do ra ngoài nhờ sự chênh lệch áp suất giữa khí thải và môi trường, lúc đó trục khuỷu đã quay được nửa vòng. Khi piston di chuyển xuống, cửa nạp sẽ bắt đầu nạp khí vào bên trong xilanh và tiếp tục đẩy khí thải ra bên ngoài, quá trình này sẽ lập đi, lập lại như vậy. Lưu ý trong suốt quá trình áp suất dường như không thay đổi.

Kỳ sau: Đây còn được gọi là hành trình đi lên của piston, khi piston tự điểm chết dưới lên điểm chết trên, khi này các hỗn hợp nhiên liệu sẽ bị nén lại, ở kỳ này bugi đánh lửa và đốt cháy nhiên liệu đồng thời việc quét khí vẫn được  tiếp tục cho đến khi cửa nạp đóng lại dẫn đến áp suất cacte giảm.

2. So sánh động cơ 2 kỳ và 4 kỳ có gì khác nhau

2.1 Điểm giống nhau của động cơ 2 kỳ và 4 kỳ

Điểm giống nhau của động cơ 2 kỳ và 4 kỳ đều là động cơ biến nhiệt năng khi đốt cháy nhiên liệu thành cơ năng.

2.2 Điểm khác nhau của động cơ 2 kỳ và 4 kỳ

– Điểm khác đầu tiên ai cũng có thể nhìn thấy là động cơ hai kỳ thường có cấu tạo đơn giản rất nhiều so với động cơ bốn kỳ, động cơ 2 kỳ không có  xupáp và các bộ phận khác của cơ cấu phối khí như trục cam, cò mổ…​ mà đối với động cơ bốn kỳ thì có.

– Cũng do đó động cơ 2 kỳ chạy êm hơi so với 4 kỳ nhờ không có xupáp và các bộ phận khác của cơ cấu phối khí như trục cam.

– Độ rung động rất ít do hai vấn đề chính, thứ nhất chu kỳ sinh công nhiều hơn, thứ hai là do thiết kế 2 kỳ nhỏ gọn nên không vướng phải vấn đề tăng số vòng quay trục cơ để giảm kích thước động cơ, vì thế số vòng quay trung bình thấp hơn 4 kỳ.

– Cùng với công suất như 4 kỳ, mà động cơ 2 kỳ thường nhẹ hơn là do có rất ít bộ phận.

– Động cơ 2 kỳ dễ sửa chữa và bảo dưỡng hơn rất nhiều, vì đông cơ xăng 2 kỳ có rất ích phụ kiện.

– Động cơ 2 kỳ có quá trình ngắn hơn so với động cơ 4 kỳ, do động cơ xe bốc hơn chính vì thế các linh kiện phải chịu lực rất lớn khiến tuổi thọ ngắn hơn. Hơn nữa lực hút nhiên liệu của hai kỳ phải phụ thuộc trực tiếp và lực nén của piston, vì vậy những động cơ đã qua sử dụng thời gian dài thường rất khó nổ, nhất là vào buổi sáng.

– Độ bền của động cơ phải phụ thuộc của người sử dụng chúng, ở động cơ 4 kỳ phải chú ý thật nhiều về việc thay nhớt và nên chọn những loại nhất chất lượng.

– Còn đối với động cơ 2 kỳ nên pha nhớt theo tỷ lệ của nhà sản xuất đưa ra. Nếu pha nhớt quá ít việc tản nhiệt và bôi trơn máy kém, còn pha quá nhiều việc cháy hỗn hợp khí không tốt, cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động của máy.

– So với độ bền của động cơ 2 kỳ và 4 kỳ, thì động cơ 4 kỳ chiếm nhiều ưu thế hơn.

Bài viết bên trên đã làm rõ ràng tất cả nguyên lý làm việc của động cơ xăng 2 kỳ cũng như những cấu tạo của máy.  Nếu còn bất kỳ câu hỏi thắc mắc nào thêm, quý khách vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chính xác và miễn phí.

Toàn Bộ Nguyên Lý Hoạt Động Của Động Cơ Xăng 2 Kỳ Và 4 Kỳ

[BẬT MÍ] Toàn bộ nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ và 4 kỳ

Khi bạn nắm được nguyên lý hoạt động của động cơ xăng sẽ giúp bạn hiểu biết cơ bản về hoạt động của các loại máy có trang bị động cơ như máy phát điện. Từ đó có thể hỗ trợ cho quá trình sử dụng máy móc hiệu quả cũng như giúp phát hiện những sự cố hư hỏng để đưa ra phương án khắc phục hợp lý.

Nội dung bài viết

1. Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 4 kỳ

1.1 Cấu tạo động cơ xăng 4 kỳ

1.1.1 Pit-tong

1.1.2 Trục khuỷu

1.1.3 Thanh truyền

1.1.4 Xilanh     

1.1.5 Kim phun

1.1.6 Xupap nạp – xả   

1.1.7 Ống nạp     

1.1.8 Ống xã

1.2 Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 4 kỳ

1.2.1 Kỳ nạp

1.2.2 Kỳ nén

1.2.3 Kỳ nổ

1.2.4 Kỳ thải

2. Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ

2.1 Cấu tạo động cơ xăng 2 kỳ

2.1.1 Bugi

2.1.2 Pit-tông

2.1.3 Cửa thải, nạp

2.1.4 Thanh truyền

2.1.5 Trục khuỷu

2.1.6 Các te

2.1.7 Bánh đà

2.1.8 Xilanh

2.2 Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ

2.2.1 Kỳ đầu

2.2.2 Kỳ sau

3. Điểm giống và khác nhau giữa động cơ 4 kỳ và 2 kỳ

3.1 Giống nhau

3.2 Khác nhau

4. Ưu và nhược điểm của động cơ xăng 4 kỳ và 2 kỳ

4.1 Ưu điểm động cơ xăng 4 kỳ và 2 kỳ

4.2 Nhược điểm động cơ xăng 4 kỳ và 2 kỳ

4.2.1 Động cơ xăng 4 kỳ

4.2.2 Động cơ xăng 2 kỳ

1. Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 4 kỳ

1.1 Cấu tạo động cơ xăng 4 kỳ

1.1.1 Pit-tông

Trong một động cơ, pít-tông được sử dụng để chuyển lực giãn nở của khí sang trục quay cơ học của trục khuỷu thông qua một thanh nối. Pít-tông có thể làm điều này bởi vì nó được bảo đảm chặt chẽ trong xi-lanh bằng cách sử dụng vòng piston để giảm thiểu khoảng trống giữa xi-lanh và pít-tông!

1.1.2 Trục khuỷu

Trục khuỷu là bộ phận có khả năng chuyển đổi chuyển động tịnh tiến sang chuyển động quay.

1.1.3 Thanh truyền

Một thanh kết nối chuyển chuyển động từ piston sang trục khuỷu hoạt động như một cánh tay đòn.

1.1.4 Xilanh

Đây là phụ kiện vô cùng quen thuộc với nhiều động cơ, theo đó xilanh giữ vai trò quan trọng của động cơ, nó là vật thể chứa pit–tông, để thực hiện quá trình di chuyển sinh công.

1.1.5 Kim phun

Đầu kim phun có hình dạng chốt được sử dụng rất nhiều trong động cơ 4 kỳ, kim phun chủ yếu giúp nhiên liệu được nén dưới áp suất cao bởi bơm phun nhiên liệu, thông qua ống thép tới đầu phun.

1.1.6 Xupap xả – Xupap nạp

Xupap có vai trò quan trọng không kém với các bộ phận khác, các xupap đóng, mở đúng thời điểm để cung cấp nhiên liệu cũng như giúp khí thải thoát ra. Trong kỳ nén và đốt thì các xupap này được đóng kín. Các xupap này hoạt động nhờ hệ thống trục cam mới hoạt động được.

1.1.7 Ống nạp

 Ống nạp có nhiệm vụ dẫn khí hỗn hợp từ bộ chế hòa khí vào các xy lanh động cơ.

1.1.8 Ống xả

Ống xả có nhiệm vụ dẫn khí xả từ xy lanh động cơ ra ngoài trời. Yêu cầu của ống xả là giảm sức cản đối với dòng khí xả để thải sạch khí cháy ra ngoài.

1.2 Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 4 kỳ

Động cơ xăng 4 kỳ được ứng dụng khá phổ biến trong nhiều ngành nghề hiện nay, với lợi thế tiết kiệm nhiên liệu, công suất hoạt động tốt,..Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng sẽ bao gồm 4 chu trình giống như tên gọi của nó.

1.2.1 Kỳ nạp

Khi piston di chuyển từ trên xuống dưới sẽ tạo ra một khoảng trống giúp hỗn hợp xăng và không khí được dẫn vào buồng đốt, khi xupap nạp mở thì xupap xả sẽ đóng lại tạo điều kiện thuận lợi để xăng bay hơi và hòa vào không khí, đây cũng được gọi là quá trình chế hòa khí.

1.2.2 Kỳ nén

Đây là quá trình mà xupap nạp và xả đều phải được đóng lại hoàn toàn, piston sẽ chuyển động ngược trở lên trên xilanh, nhưng trước khi nó chạm tới điểm chết trên để thực hiện chu trình mới, bugi đánh lửa sẽ đốt cháy hỗn hợp xăng và khí

1.2.3 Kỳ nổ

Tia lửa điện của bugi sẽ đốt cháy hỗn hợp xăng và khí, khi cháy hỗn hợp trong xi lanh sẽ tạo ra áp suất rất lớn, quá trình này diễn ra khi xupap nạp và thải vẫn phải đóng kín.

1.2.4 Kỳ thải

Trong quá trình này piston sẽ di chuyển từ dưới lên trên, khi đó xupap nạp vẫn đóng và xupap thải sẽ mở để piston đi lên đẩy khí thải ra ngoài. Khi piston đã di chuyển đến điểm chết trên, xupap nạp mở ra và xupap thải đóng trong xi lanh sẽ diễn ra 1 quá trình mới.

2. Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ

2.1 Cấu tạo động cơ xăng 2 kỳ

2.1.1 Bugi

bugi có bộ phận mang dòng điện đến buồng đốt, đốt cháy hỗn hợp nhiên liệu không khí dẫn đến sự giãn nở đột ngột của khí.

2.1.2 Pit-tông

Các pít-tông là đúc hình trụ bằng thép hoặc hợp kim nhôm. Phần trên, đầu kín, được gọi là vương miện, tạo thành bề mặt dưới của buồng đốt và nhận lực tác dụng bởi các khí đốt. Bề mặt bên ngoài được gia công để vừa khít với xi lanh và có rãnh để nhận vòng piston làm kín khoảng cách giữa piston và thành xi lanh. Trong các rãnh pít-tông phía trên có các vòng nén đơn giản ngăn không cho khí đốt thổi qua pít-tông. Các vòng thấp hơn được thông hơi để phân phối và giới hạn lượng dầu bôi trơn trên thành xi lanh. Các chốt pít-tông (các ông chủ) được đúc ở hai bên đối diện của pít-tông và các chốt thép cứng được lắp vào các ông chủ này đi qua đầu trên của thanh nối .

2.1.3 Cửa thải, Cửa nạp

Hai cửa này rất là quan trọng trong động cơ 2 kỳ, cửa thải và cửa nạp đều cho hòa khí đi vào bên trong buồng đốt và đưa khí thải ra bên ngoài

2.1.4 Thanh truyền

Mỗi thanh truyền nối trong động cơ thẳng hàng hoặc cặp thanh trong động cơ loại V được gắn vào một cú ném của trục khuỷu. Mỗi cú ném bao gồm một trục khuỷu có bề mặt ổ trục, trên đó lắp vòng bi vòng bi được gắn và hai má hướng tâm nối với các phần của trục khuỷu quay trong ổ đỡ chính, được hỗ trợ bởi khối xi lanh

2.1.5 Trục khuỷu

Thiết kế trục khuỷu cũng thiết lập chiều dài của hành trình piston vì độ lệch hướng tâm của mỗi lần ném bằng một nửa hành trình truyền vào piston. Tỷ lệ của hành trình piston với đường kính lỗ xi ​​lanh là một xem xét thiết kế quan trọng. Trong những năm đầu của sự phát triển động cơ, không có cơ sở hợp lý cho việc thành lập tỷ lệ này tồn tại, và một loạt từ đoàn kết tới 1 tới 1 / 2 được sử dụng bởi các nhà sản xuất khác nhau.

2.1.6 Các-te

Cấu tạo của Các-te rất quan trọng khi vận hành động cơ xăng, các-te được kết nối bên dưới hộp trục khuỷu qua trung gian của một đệm làm kín. các-te dùng để chứa nhớt làm bôi trơn các chi tiết trên động cơ xăng.

Các-te được làm bằng thép không rỉ hoặc bằng nhôm, bên dưới có bố trí nút xả nhớt, bên trong có bố trí một bộ lọc nhớt bôi trơn. Vách ngăn để làm giảm sự dao động của nhớt khi xe chuyển động, đồng thời bảo đảm được nhớt luôn ngập lưới lọc khi xe chuyển động ở mặt đường nghiêng.

2.1.7 Bánh đà

Chu kỳ của động cơ đốt trong sao cho mô-men xoắn (lực quay) chỉ được áp dụng không liên tục như mỗi xi-lanh hỏa hoạn. Giữa các xung lực này, các pít-tông tăng lên khi nén và sự đối lập với chuyển động quay do tải trọng của động cơ mang theo mô-men âm. Gia tốc xen kẽ gây ra bởi xung lực và giảm tốc gây ra bởi quá trình nén dẫn đến việc quay không đồng nhất. Để chống lại xu hướng chậm lại và tăng tốc này là chức năng của bánh đà, được gắn vào một đầu của trục khuỷu. Bánh đà bao gồm một đĩa gang tròn nặng với một trung tâm để gắn vào động cơ. Khối lượng quay nặng của nó có động lượng đủ để chống lại mọi thay đổi về tốc độ quay của nó và buộc trục khuỷu quay đều ở tốc độ này. Động cơ do đó chạy trơn tru mà không có bằng chứng về xung quay. Vành ngoài của bánh đà thường mang răng bánh răng để nối với động cơ khởi động.

2.1.8 Xilanh

Xi lanh có vai trò vô cùng quan trọng động cơ xăng là một bộ phận chính trong động cơ, bên trong xi-lanh có piston di chuyển lên xuống.

2.2 Nguyên lý hoạt động của động cơ xăng 2 kỳ

2.2.1 Kỳ đầu

Pittong di chuyển từ điểm chết trên xuống điểm chết dưới giai đoạn này hỗn hợp nhiên liệu và không khí sẽ được đưa vào trong buồng đốt thực hiện quá trình cháy, trong lúc đó mép trên pittong sẽ giãn nở sinh công gần cuối quá trình khi mép trên của Pittong di chuyển qua gờ trên của cửa thải, khí thải thoát tự do ra ngoài nhờ sự chênh lệch áp suất giữa khí thải và môi trường, lúc đó trục khuỷu sẽ quay được nữa vòng. Khi pit-tong di chuyển xuống cửa nạp bắt đầu mở đồng thời nạp khí vào xilanh và tiếp tục đẩy khí thải ra ngoài quá trình lập đi lập lại như vậy. Lưu ý trong suốt quá trình áp suất dường như không thay đổi.

2.2.2 Kỳ sau

Còn gọi là hành trình đi lên, piston sẽ di chuyển từ điểm chết dưới lên điểm chết trên, trong giai đoạn này hỗn hợp nhiên liệu sẽ bị nén lại, ở cuối kỳ 2 bugi đánh lửa sẽ đánh lửa và đốt cháy nhiên liệu, đồng thời việc quét khí vẫn được tiếp tục cho đến khi cửa cửa nạp đóng, dẫn đến áp suất cacte giảm. Trong thực tế thể tích của xilanh với động cơ 2 kì  có chỉ số ¥ = 0.1-0.38.

3. Điểm giống và khác nhau giữa động cơ 4 kỳ và 2 kỳ

3.1 Giống nhau

Đều là động cơ nhiệt biến nhiệt năng khi đốt cháy nhiên liệu thành cơ năng.

3.2 Khác nhau

Ở động cơ 2 kỳ kết cấu của động cơ này không quá phức tạp, việc hút và thoát khí cháy nhờ vào pít-tông và các lỗ hút, lỗ thoát nằm ngay tại xilanh máy. Cơ cấu động cơ đơn giản. Việc sửa chữa xe 2 kỳ cũng đơn giản hơn. Tuy nhiên nếu cứ sử dụng lâu ngày, pít-tông, bạc bị lỏng, thì một phần hòa khí bị thất thoát qua khe hở giữa pít-tông và xilanh. Điều này làm xe bị hao xăng hơn so với động cơ 4 kỳ cùng tình trạng.

Động cơ 2 kỳ có thời gian ngắn hơn, nên động cơ xe bốc hơn, chính vì vậy mà các linh kiện động cơ phải chịu nhiều lực hơn, khiến tuổi thọ không thể cao bằng xe 4 kỳ. Hơn nữa, lực hút nhiên liệu ở động cơ 2 kỳ phụ thuộc trực tiếp vào lực nén của pít-tông, nên với những xe đã bị dão thường là rất khó nổ, nhất là vào buổi sáng.

4. Ưu và nhược điểm của động cơ xăng 4 kỳ và 2 kỳ

4.1 Ưu điểm động cơ xăng 4 kỳ và 2 kỳ

Về hiệu quả, 4 thì chắc chắn thắng. Điều này là do thực tế là nhiên liệu được tiêu thụ cứ sau 4 lần.

Động cơ bốn thì nặng hơn; chúng nặng hơn 50% so với động cơ 2 stroke tương đương.

Thông thường, động cơ 2 thì tạo ra nhiều mô-men xoắn hơn ở RPM cao hơn, trong khi động cơ 4 thì tạo ra mô-men xoắn cao hơn ở RPM thấp hơn.

Động cơ 4 thì cũng êm hơn rất nhiều, động cơ 2 thì to hơn đáng kể và có âm thanh ù ù đặc biệt, cao vút.

Bởi vì động cơ 2 thì được thiết kế để chạy ở tốc độ RPM cao hơn, chúng cũng có xu hướng hao mòn nhanh hơn; động cơ 4 thì thường bền hơn. Điều đó đang được nói, động cơ 2 thì mạnh hơn.

Động cơ hai thì có thiết kế đơn giản hơn nhiều, giúp chúng dễ sửa chữa hơn. Động cơ bốn thì có nhiều bộ phận hơn, do đó chúng đắt hơn và sửa chữa tốn kém hơn.

Động cơ hai thì đòi hỏi phải trộn trước dầu và nhiên liệu, trong khi động cơ 4 thì không.

Bốn nét thân thiện với môi trường hơn; trong động cơ 2 thì, dầu bị cháy cũng được thải ra không khí cùng với ống xả.

4.2 Nhược điểm động cơ xăng 4 kỳ và 2 kỳ

4.2.1 Động cơ xăng 4 kỳ

Động cơ xăng 4 kỳ có cấu tạo khá phức tạp, việc chế tạo và bảo dưỡng gặp nhiều khó khăn hơn so với động cơ 2 kỳ.

Động cơ 4 kỳ chạy đầm hơn động cơ 2 kỳ, không gây nhiều tiếng ồn khi động cơ hoạt động bền, cần để ý nhiều đến chế độ dầu bởi nếu độ nhớt kém chất lượng sẽ làm linh kiện nhanh mòn và nhanh hư do đó phải chọn nhớt chất lượng, nếu hư hỏng ở chi tiết nào thì rất khó sửa chữa do cấu tạo phức tạp nên việc sửa chữa cũng rất khó khăn.

4.2.2 Động cơ xăng 2 kỳ

Tuổi thọ động cơ xăng 2 kỳ gắn hơn động cơ 4 kỳ do thiếu hệ thống bôi trơn. Động cơ 2 kỳ gây nhiều ô nhiễm nặng nề cho môi trường, vì thiết kế khá đơn giản, ống xả thải ra khói bụi từ hỗn hợp nhiên liệu, và cũng tạo ra mùi khó chịu. Không kinh tế khi dùng nhiên liệu do thiết kế đơn giản. Tiếng động cơ rất là to không êm như động cơ 4 kỳ.

Qua bài viết trên mong rằng đã giải đáp được các thắc mắc của các bạn về nguyên lý hoạt động của động cơ xăng, một loại động cơ được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hiện nay.

Bình Xăng Con Là Gì?

Tổng quan về bình xăng con

Bình xăng con là gì?

Cấu tạo của bình xăng con

Mỗi bình xăng con của mỗi hãng lại có cấu tạo và nguyên lý hoạt động khác nhau. Nhưng nhìn chung, một bộ chế hoà khí sẽ gồm những chi tiết sau:

Chỉnh bình xăng con như thế nào để hao ít xăng?

Bước 1: Dựng chân chống giữa sau đó dùng tua-vít vặn vít gió và ga-lăng-ti theo chiều kim đồng hồ đến khi cứng tay thì thôi

Bước 2: Nới lỏng ga-lăng-ti bằng cách vặn khoảng 1.5 – 2 vòng. Sau đó, các bạn nổ máy để động cơ có thể nóng lên.

Bước 3: Về kịch ga, nếu có tiếng nổ lụp bụp thì có nghĩa là xăng đăng bị thừa. Lúc này, các bạn nới dần vít gió khoảng 1.5 – 2.5 vòng.

Bước 4: Các bạn nới chỉnh ga-lăng-ti ngược theo kim đồng hồ đến khi động cơ nổ đều và ổn định. Khi động cơ nổ một cách êm ái và ổn định nghĩa là việc điều chỉnh đã hoàn thành.

Phân biệt chế hoà khí và phun nhiên liệu điện tử

Bộ chế hoà khí và phun nhiên liệu điện tử

Nhiệm vụ

Trộn nhiên liệu và không khí để chuyển vào động cơ

Trộn nhiên liệu và không khí để chuyển vào động cơ hoàn toàn tự động

Nguyên tắc hoạt động

Không khí đi qua cửa phun tạo thành chân không 1 phần. Lúc này do có sự chênh lệch về áp suất nên nhiên liệu đi qua ống phun và hoà vào không khí

Bộ xử lý ECU sẽ tiếp nhận mọi thông tin mà các cảm biến gửi về để xử lý theo các lập trình đã được cài sẵn từ trước.

Ưu điểm

– Cấu tạo đơn giản- Chi phí chế tạo rẻ hơn so với phun hệ thống điện tử- Tạo cảm giác về độ bốc cũng như độ giật của động cơ- Có thể tự điều hỉnh bằng tay một cách linh hoạt- Dễ sửa chữa, bảo dưỡng

– Tiết kiệm nhiên liệu một cách tối đa- Không có tình trạng thiếu xăng hay ngộp xăng- Nhiêu liệu được cung cấp một cách vừa đủ khiến động cơ hoạt động ổn định hơn và êm ái hơn. – Cung cấp nhiên liệu cho động cơ nhanh hơn so với bộ chế hoà khí.

Nhược điểm

– Thành phần hỗn hợp không được tối ưu do được điều chỉnh bẳng cơ khí ở bộ chế hoà khí- Hay xảy ra các hiện tượng như thiếu hoặc thừa xăng tại buồng đốt. – Nhiều bộ phận như phao xăng hay zicler sẽ cảm thấy “mỏi” do bộ chế hoà khí được điều chỉnh bằng cơ- Cồng kềnh, thiếu thẩm mỹ.

– Cấu tạo phức tạp- Sửa chữa khó hơn so với bộ chế hoà khí- Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa cao hơn

Độ nhạy

Bộ chế hoà khí không thể hoặc ít hoạt động được ngay khi ở nhiệt độ thấp. Bởi lẽ, lúc này, nhiên liệu sẽ bị đông và bám vào thành của xi-lanh. Do hỗn hợp khí nghèo nàn nên khiến cho nhiên liệu và gió không thể hoà vào nhau khiến động cơ bị khó khởi động. Vì vậy, nếu muốn di chuyển được, người điều khiển sẽ phải làm ấm động cơ để nhiên liệu không bị bám và cháy hết. → Độ nhạy kém hơn.

Hoạt động kể cả trong điều kiện môi trường khắc nghiệt nhất. Sẽ không cần chờ chỉnh bướm gió mà người điều khiển chỉ cần xoay chìa khoá và chờ hệ thống phun nhiên liệu hoạt động là động cơ có thể hoạt động. → Độ nhạy cao.

Bình xăng con giá bao nhiêu?

Theo đó, trên thị trường hiện nay có khá nhiều loại bình xăng con có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc, Malaysia đến Thái Lan… Các loại bình xăng này đều khá đa dạng về giá cả cũng như mẫu mã phù hợp cho từng dòng xe khác nhau.

Cụ thể, các bình xăng con đến từ Trung Quốc sẽ có giá dao động trong khoảng 300 – 700 ngàn đồng tuỳ vào dòng xe mà bạn đang đi. Những người đã sử dụng loại bình xăng con này đã nêu ý kiến rằng loại này dùng khá tốn xăng lại nhanh hỏng.

Bình xăng như Keihin, Centa… thì được nhiều người đánh giá tốt hơn vì nó có van cắt gió giúp tiết kiệm xăng hơn. Cũng vì lẽ này mà giá thành của nó cũng không hề rẻ, dao động trong khoảng từ 1 triệu đồng trở lên tuỳ thuộc vào dòng xe mà bạn đang đi.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nguyên Lý Hoạt Động Của Bình Xăng Con trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!