Đề Xuất 12/2022 # Nền Kinh Tế Du Lịch Việt Nam – Văn Hóa Du Lịch Việt Nam / 2023 # Top 16 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Nền Kinh Tế Du Lịch Việt Nam – Văn Hóa Du Lịch Việt Nam / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nền Kinh Tế Du Lịch Việt Nam – Văn Hóa Du Lịch Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nền kinh tế du lịch Việt Nam hiện nay đang chịu khá nhiều ảnh hưởng nặng nề từ bão lũ, và dịch bệnh. Trước tình hình hiện nay thì nước ta đang có dấu hiệu hồi phục và phát triển trở lại sau những biến cố

1. Kinh tế du lịch – chìa khóa phát triển nền kinh tế rộng mở

   1. Ngành kinh tế du lịch là gì?

Kinh tế du lịch – chìa khóa phát triển nền kinh tế rộng mở

Ngành kinh tế du lịch trong những năm mới đây đang ngày càng phát triển bởi những tiềm năng được khai thác triệt để và có đạt kết quả tốt. Kinh tế du lịch được rất nhiều các những người có chuyên môn kinh tế đưa rõ ra khái niệm nhưng có một định nghĩa khá rõ ràng về ngành kinh tế du lịch.

Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tình đặc thù riêng biệt của dịch vụ và được xem là ngành công nghiệp không khói. DDây là ngành kinh tế có vai trò khai thác các tài nguyên sẵn có của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tới tham quan.

Ngành kinh tế du lịch bao gồm 2 loại:

Du lịch trong nước: Là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm thăm quan, du lịch dành cho khách du lịch nội địa hoặc những khách du lịch tới thăm quan tại đất nước đó.

Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan du lịch tại các đất nước khác.

   2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch – nền kinh tế du lịch Việt Nam

Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch có những đặc điểm du lịch sau:

Tính tổng hợp, liên ngành: ngành kinh tế du lịch hay bất kỳ một ngành nào thuộc cơ cấu nền kinh tế của một đất nước đều có mối liên hệ khắn khít và không thể tách rời khỏi nhau. Ngành kinh tế du lịch cần phải mang tính tổng hợp và gắn kết với các lĩnh vực khác như giao thông, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường, văn hóa hay thể thao,…

Tính xã hội hóa: Ngành kinh tế du lịch có đặc điểm xã hội hóa,

có nghĩa là

 có sức 

thu hút

 mọi thành phần chủ thể kinh tế xã hội tham gia (bao gồm cả những chủ thể 

nội địa

 và chủ thể nước ngoài, tức là 

du khách

 nước ngoài).

Tính xanh và sạch: Toàn cầu đang hướng đến sự toàn cầu hóa tuy nhiên đồng thời vẫn phải đưa ra những biện pháp chống thế giới hóa, nhất định là bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. Với đặc trưng là ngành công nghiệp không khói, ngành kinh tế du lịch cần phải giữ vững được cái tên như vậy sao cho đúng với thực tế nhất có thể.

Tính ích lợi và hiệu quả kinh tế cao: Ở đây, chúng tôi muốn nói tới chính là ngành công nghiệp gà đẻ trứng vàng, đấy chính là tính lợi ích và đạt kết quả tốt kinh tế mà ngành kinh tế du lịch đem lại cho nền kinh tế, đóng góp vào ngân sách và cấp độ tăng trưởng GDP của một đất nước.

   3.

Vai trò

 của ngành kinh tế du lịch

Ngành kinh tế du lịch được xem là chìa khóa đẩy mạnh nền kinh tế phát triển phong phú hóa, đa phương hóa tại đất nước nước ta. nhất định, ngành kinh tế du lịch có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế ở một vài khía cạnh sau:

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tốc độ tăng trưởng

Ngân sách nhà nước

Tổng 

vốn đầu tư

Công nghệ 

tối tân

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

Nền văn hóa phong phú

2. Du lịch

đất nước ta

phát triển vượt bậc – nền kinh tế du lịch Việt Nam

Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Quang Tùng (tại Diễn đàn cấp cao du lịch Việt Nam diễn ra ngày 12-9-2019), du lịch nước ta đang ở giai đoạn phát triển nhanh, mạnh với lượng du khách quốc tế tăng trưởng cao. Giai đoạn 2016-2018, tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch quốc tế đạt 12,8%/năm.

Năm 2016, đất nước ta đón 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm 2015, giúp sức trực tiếp đạt 6,96% vào GDP. Hai năm sau đón 15,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng 19,9% so với năm 2017, giúp sức trực tiếp ước đạt 8,5% vào GDP.

nếu như không có diễn biến bất thường, năm 2019 du lịch nước ta sẽ hoàn thành chỉ tiêu được Chính phủ giao, đón 18 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Trong 11 tháng của năm 2019, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt xấp xỉ 16,3 triệu lượt, tăng 15,4% so với cùng kỳ, trong khi đó lượng khách quốc tế đến châu Á-Thái Bình Dương tăng khoảng 6%, đến Đông Nam Á tăng khoảng 5%.

3. Tìm hướng đi mới

Đây chính là các phiên họp sâu hơn về những vấn đề đang còn khó khăn, “nút thắt” của ngành du lịch đất nước ta, lôi cuốn nhiều người có chuyên môn nội địa, quốc tế cùng “hiến kế”, chia sẻ kinh nghiệm.

Trong đó tại phiên toàn thể, Diễn đàn tập trung tranh luận về 2 đề tài. Đó là giải pháp để tạo dựng một Việt Nam tươi đẹp, văn hóa đặc sắc, người dân thân thiện mến khách, nhằm sửa đổi và nâng cấp thứ hạng của du lịch Việt Nam trên bảng xếp hạng toàn cầu.

Tạm kết :

Vũ – Tổng hợp, chỉnh sửa (Nguồn tổng hợp : chúng tôi chúng tôi … )

Kinh Tế Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Kinh Tế Du Lịch Việt Nam / 2023

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

1. Kinh tế du lịch là gì?

Kinh tế du lịch là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Trong quá trình hội nhập kinh tế, kinh tế du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế đất nước, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia.

Kinh tế du lịch nhằm khai thác tài nguyên có sẵn của thiên nhiên nhằm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

Ngành kinh tế du lịch gồm 2 loại:

Du lịch trong nước: là loại hình tổ chức và khai thác các địa điểm tham quan du lịch dành cho khách du lịch trong nước hoặc những khách du lịch tới tham quan tại quốc gia đó.

Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch mà khách du lịch của quốc gia nội tại có nhu cầu và thực hiện tham quan di lịch tại quốc gia khác.

2. Đặc điểm của ngành kinh tế du lịch

Tính tổng hợp, liên ngành: ngành du lịch cũng như các ngành khác, đều có mỗi quan hệ liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, tài nguyên môi trường, thể thao văn hóa…

Tính xã hội hóa: tức là ngành kinh tế du lịch thu hút mọi thành phần kinh tế xã hội tham gia.

Tính xanh và sạch: Đây được đánh giá là ngành công nghiệp không khói, có xu hướng tích cực bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp.

Tính lợi ích và hiệu quả kinh tế cao: phải khẳng định rằng kinh tế du lịch đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, góp phần tăng ngân sách và mức đô tăng trưởng GDP của mỗi quốc gia.

3. Vai trò của kinh tế du lịch đối với hội nhập quốc tế

Có thể nói kinh tế du lịch là chiếc chìa khóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa quốc gia tác động mạnh mẽ đến tổng sản phẩm quốc nội GDP; ngân sách nhà nước; tổng vốn đầu tư; công nghệ hiện đại; tổng kim ngạch xuất khẩu; nền văn hóa đa dạng.

Kinh tế du lịch góp phần thúc đẩy phân công lao động, hợp tác khu vực và quốc tế: Kinh tế du lịch là ngành sản xuất ra sản phẩm du lịch để cung ứng ra thị trường với sự kết hợp của một chuỗi các dịch vụ khác nhau, để có được sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi phải có sự phân công lao động, chuyên môn hóa rất cao trong các công đoạn, phân khúc sản phẩm.

Kinh tế du lịch góp phần tăng cường giao lưu, hội nhập của quốc gia với khu vực và quốc tế: thông qua các hoạt động dịch vụ du lịch, đòi hỏi sự liên kết mở rộng, giao lưu kinh tế và văn hóa.

Kinh tế du lịch góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia mở rộng thị trường nội địa và quốc tế: đây là kênh quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia có thể tận dụng lợi thế để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Việc phát triển kinh tế du lịch góp phần giới thiệu và quảng bá hình ảnh của quốc gia đối với nhiều nước khác trên thế giớ; có cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến; có cơ hội liên kết mở rộng các tuyến du lịch và các loại hình du lịch mới.

Tuy nhiên để phát triển kinh tế du lịch cũng đối mặt với một số thách thức như làm tăng sự phụ thuộc về khách du lịch của các quốc gia vào thị trường nước ngoài hoặc tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

Du Lịch Xanh Là Gì? Tương Lai Du Lịch Xanh Ở Việt Nam / 2023

Du lịch xanh là gì? Tương lai du lịch xanh ở Việt Nam

Hiện nay, sống xanh đang trở thành xu hướng. Người ta không chỉ muốn ăn xanh, hít thở xanh,… mà còn muốn chơi xanh. Vì vậy, các loại hình du lịch xanh ngày càng khẳng định được sức cạnh tranh của mình.

Du lịch xanh là gì?

Du lịch xanh là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, hạn chế những tác động xấu tới môi trường như xả khói, xả thải, tàn phá động thực vật,…, khắc phục hậu quả do biến đổi khí hậu, sử dụng năng lượng tái tạo và phát huy các di sản thiên nhiên văn hóa, các sản phẩm thân thiện với môi trường.

Trong tình hình tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường bị tàn phá nặng nề, cả con người và động thực vật đều bị đe dọa nghiêm trọng. Những năm gần đây, trái đất đã phải gánh chịu những cơn giận dữ của mẹ thiên nhiên. Vì vậy, việc hình thành du lịch xanh là tất yếu, là phương pháp cứu vãn tương lai.

Không chỉ mang ý nghĩa với thiên nhiên mà nó còn mang lại nguồn lợi kinh tế vô cùng to lớn, nâng cao cơ hội việc làm cho những người dân ở vùng núi, vùng sâu vùng xa nơi khó khăn nhưng lại có bề dày văn hóa và cảnh quan thiên nhiên hoang sơ.

Các mô hình du lịch xanh trên thế giới.

Trên thế giới loại hình này đã không còn quá xa lạ, và đã đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng kinh tế.

Điển hình có thể kể đến quần đảo Madives. Hiện tại, Maldives đang nỗ lực thay thế nguồn cung cấp năng lượng điện hóa thạch bằng các nguồn năng lượng tái tạo để giảm lượng khí thải carbon. Hầu hết các resort trên đảo đều sử dụng hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt và hệ thống hứng, thu gom nước mưa, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng nước ngọt trong ngành du lịch. Rác thải luôn được phân loại mọi nơi mọi lúc. Chất thải hữu cơ được ủ làm phân bón cho vườn rau trên đảo. Giấy được đốt và rác thải nhựa được ép ra để tái chế. Rác thải thủy tinh được nghiền ra để trộn trong xi măng xây dựng…

Ở Thái Lan, nơi có nhiều hòn đảo hoang sơ và nét văn hóa đạo phật có từ lâu đời. Cách thủ đô Bangkok 300km về phía đông có đảo Koh Chang, được đánh giá là một trong những đảo đẹp nhất Thái Lan. Các nhà đầu tư muốn đổ tiền vào đây phải kí cam kết cùng bảo tồn thiên nhiên. Biển và bãi biển ở đây thuộc khu bảo tồn quốc gia và cấm đụng chạm tới. Ở đây không có moto nước, không có du thuyền, chỉ có cano và thuyền chèo đưa du khách đi từ hòn đảo này sang hòn đảo khác.

Thuận lợi và thách thức khi phát triển du lịch xanh tại Việt Nam

Chính vì những lợi ích về môi trường và kinh tế mà du lịch xanh mang lại nên ngày càng nhiều những khu du lịch như vậy mọc lên. Bất động sản ở đó cũng trở thành cơn sốt, các nhà đầu tư đua nhau dựng nên những khu nghỉ dưỡng, homestay, nhà nghỉ, khách sạn.

Thời gian qua, một số địa phương, công ty lữ hành, khách sạn đã có nhiều lưu ý trong việc phát triển du lịch xanh, như tại một số tỉnh Tây Bắc đã có du lịch cộng đồng; Thừa Thiên – Huế chú trọng vào du lịch nhà vườn; Nha Trang tập trung về du lịch biển, đảo; một số tỉnh Nam Bộ “tranh thủ” với mô hình miệt vườn để làm dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, nhiều công ty lữ hành xây dựng các tour du lịch xanh; khách sạn đạt chứng chỉ xanh…

Thuận lợi để phát triển du lịch xanh ở Việt Nam

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ có ¾ địa hình là đồi núi và cao nguyên, đường bờ biển kéo dài 3200km, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ… Ở đó  là nơi sinh sống của cộng đồng 54 dân tộc với bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hoá lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện phát triển du lịch xanh cũng như du lịch sinh thái.

Việt Nam có hệ sinh thái đa dạng có tới 14.624 loài thực vật trong đó có nhiều loài cổ xưa và hiếm có, các loài có giá trị về kinh tế gồm hơn 1000 loài cây thuốc, 100 loài quả rừng… Về động vật có tới 11.217 loài  gồm có 1.009 loài chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm, cua, nhuyễn thể và thuỷ sinh vật khác. Ngoài ra còn có các loại động vật quý hiếm trong sách đỏ thế giới như Hổ, tê giác, gấu,… Điều này chứng tỏ tính đa dạng sinh học của Việt Nam là rất cao.

Việt Nam là tập hợp của rất nhiều khu rừng nguyên sinh nằm trong danh sách bảo tồn như rừng quốc gia Cúc Phương, rừng quốc gia Ba Vì,… với các hang động nổi tiếng như Sơn Đoòng, hang Phong Nha Kẻ Bàng,…

Ngoài các tiềm năng tự nhiên, Việt Nam còn có bề dày văn hóa với 54 dân tộc có nét đặc trưng và ngôn ngữ riêng biệt cùng với  sự hòa quyện ẩm thực vô cùng đặc sắc. 3 miền là 3 nét ẩm thực khác nhau đã tạo nên sự hấp dẫn của du lịch xanh nước ta

Những hạn chế đối với du lịch xanh ở Việt Nam

Tuy dựa vào những yếu tố sẵn có, Việt Nam có thể phát triển mạnh loại hình du lịch này, tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố kìm hãm, thách thức như:

Khả năng nghiệp vụ còn hạn chế, nhiều người dân còn chưa biết vận dụng tối đa lợi thế của mình vào việc làm du lịch

Ý thức người dân còn kém, còn chưa biết bảo vệ thiên nhiên, việc du khách xả thải bừa bãi vẫn còn chưa giải quyết được

Quản lý lỏng lẻo của cơ quan địa phương làm mai một đi những nét đặc trưng văn hóa sẵn có, khiến những công trình được xây dựng vô tội vạ phá hoại cảnh quan thiên nhiên.

Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam / 2023

Những kết quả đạt được

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 125 bãi tắm biển, trong đó hầu hết là các bãi tắm rất đẹp và thuận lợi cho khai thác du lịch mà không phải quốc gia nào cũng có như: Trà Cổ, Hạ Long, Lăng Cô, Ðà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc…

Về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh dnước ta có 85 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 3.329 di tích xếp hạng di tích quốc gia và 9.857 di tích cấp tỉnh.

Đến nay, Việt Nam có 8 di sản vật thể và danh thắng được công nhận Di sản thế giới, đó là: Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành Nhà Hồ, Khu danh thắng Tràng An.

Tính đến hết năm 2016, Việt Nam có 11 di sản được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản phi vật thể, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca quan họ Bắc Ninh; Ca trù; Lễ hội Đền Gióng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; Đàn ca tài tử Nam Bộ; Dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh; Kéo co; Tín ngưỡng thờ Tam Phủ.

Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có phát triển du lịch.

Những yếu tố trên đã thúc đẩy ngành Du lịch phát triển mạnh mẽ (Bảng 1). Trong đó, 2016 là năm thành công, phát triển ấn tượng của ngành Du lịch. Tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2016 lên đến hơn 10 triệu lượt, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2015.

Bên cạnh đó, ngành Du lịch cũng đã phục vụ 62 triệu lượt khách nội địa, trong đó có gần 30 triệu khách lưu trú. Tổng thu từ du lịch đạt 400.700 tỷ đồng, tăng 18,6% so với năm 2015 (Tổng cục Du lịch, 2016).

Tất cả các con số trên đều đã bằng hoặc vượt chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đó là đón 10-10,5 triệu lượt khách quốc tế; 47-48 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 17-18 tỷ USD. Như vậy, ngành Du lịch đã về đích trước 4 năm so với Chiến lược đề ra.

Năm 2016 cũng là năm đánh dấu ngành Du lịch vượt qua ngưỡng tăng trưởng cũ. Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch, năm 1994 mới chỉ có 1 triệu khách quốc tế đến Việt Nam; Năm 2000 tăng lên 2 triệu lượt khách quốc tế (mỗi năm giai đoạn này chỉ tăng 170.000 lượt khách quốc tế).

Đến năm 2010 đạt 5 triệu lượt khách quốc tế (mỗi năm tăng trung bình 600.000 lượt khách). Đến năm 2016, đã tăng gấp đôi so với mốc năm 2010. Trước đó, để tăng từ 1 lên 5 triệu, ngành Du lịch đã phải mất tới 14 năm (từ năm 1994 đến năm 2010) mới đạt.

Đáng chú ý, thời gian qua, nhiều điểm du lịch mới được mở ra đã thu hút đông đảo du khách tham quan. Các điểm du lịch ở các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc như Hà Giang đã tạo dựng được thương hiệu là điểm đến mới quyến rũ qua việc tổ chức Lễ hội hoa tam giác mạch; Yên Bái với lễ hội “Mùa vàng Mù Căng Chải”, tâm điểm là sự kiện “Bay trên Mùa vàng”; Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với hang Sơn Đoòng tạo sức hút lớn đối với du khách quốc tế và quan tâm của khách nội địa; Các điểm du lịch biển ở vùng Duyên hải Bắc Bộ, miền Trung, Nam Trung Bộ, Phú Quốc, Côn Đảo có nhiều đổi mới về quản lý và cung cấp dịch vụ, tạo sức hấp dẫn mới đối với khách du lịch trong nước và quốc tế…

Hạn chế và khó khăn

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn và thách thức. Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực.

Khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du lịch trong khu vực và thế giới. Công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra; taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là vào mùa cao điểm…

Trong khi đó, nguồn tài nguyên du lịch còn chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả, dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên.

Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm.

Công tác xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Kinh phí Nhà nước đầu tư còn hạn chế, chưa tạo được hiệu ứng kích cầu.

Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém lớn của ngành Du lịch.

Ngoài ra, tình trạng các địa phương chọn ngành nào cũng là ngành “mũi nhọn” đã khiến mục tiêu phát triển chồng chéo, ảnh hưởng đến việc thực hiện, nhất là ngành Du lịch nghỉ dưỡng (vốn là Ngành coi trọng chất lượng môi trường) và ngành Công nghiệp nặng là Ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

Một số giải pháp đề xuất

Để phát huy những tiềm năng lợi thế, khắc phục những tồn tại hạn chế đang níu đà tăng trưởng của ngành Du lịch, thời gian tới, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

– Cơ quan quản lý cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa huy động mọi thành phần kinh tế, nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; Cần quy hoạch sắp xếp và xây dựng các cơ sở dịch vụ: nhà nghỉ, y tế, ăn uống, vui chơi giải trí…; Quản lý chặt chẽ các loại dịch vụ, phí dịch vụ phục vụ du khách; Nâng cao ý thức phục vụ trong kinh doanh, tránh làm mất giá trị văn hóa truyền thống của người Việt.

– Phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nhất là các chuỗi liên kết và dịch vụ, đáp ứng các bộ tiêu chuẩn du lịch quốc tế, đi đôi với bảo tồn, phát triển, quảng bá hình ảnh và phát huy vai trò các vùng di tích lịch sử, các điểm đến và khu du lịch; Xây dựng hình ảnh và thương hiệu, nhận diện du lịch quốc gia có chiều sâu và tầm cao.

– Đẩy mạnh liên kết với các nước trong khu vực, khai thác triệt để tuyến hành lang Đông – Tây, hình thành các tour, tuyến du lịch chung như: Chương trình giữa Việt Nam – Campuchia – Lào, tuyến đường bộ 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan để đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn, thu hút khách từ các nước ASEAN và khách du lịch từ nước thứ ba vào ASEAN nối tour sang Việt Nam.

Thứ hai, xây dựng môi trường du lịch nhân văn, bền vững.

– Đẩy mạnh công tác truyền thông, định hướng, nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng phong trào ứng xử văn minh thân thiện với du khách, giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường…

– Tăng cường quản lý bảo đảm về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; Cung cấp thông tin về dịch vụ tại địa phương cho du khách qua internet và hệ thống các ấn phẩm quảng bá du lịch.

Thứ ba, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hài hòa các mục tiêu phát triển du lịch với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Chú trọng nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương để đáp ứng yêu cầu phát triển ngành Du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; Thực hiện quản lý theo quy hoạch gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước; quy hoạch phát triển du lịch theo các vùng, địa phương; quy hoạch các khu du lịch tổng hợp và khu du lịch chuyên đề, để tập trung thu hút đầu tư phát triển theo hướng bền vững.

Đồng thời, trước khi phát triển ngành, lĩnh vực khác, Nhà nước cần có những đánh giá tác động đối với ngành Du lịch để từ đó có sự lựa chọn ưu tiên phát triển ngành nào dựa trên tiềm năng, lợi thế của từng địa phương.

Thứ tư, đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực du lịch.

– Ngành du lịch cần sớm hoàn thiện hệ thống chính sách và các cơ chế quản lý về phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, bảo đảm thống nhất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

– Các trường học và DN cần trang bị cho nhân lực du lịch những kiến thức về hội nhập, giỏi về ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ du lịch, am hiểu thị trường, luật pháp quốc tế…

Thứ năm, phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và thương hiệu du lịch.

– Tập trung thu hút có lựa chọn các phân đoạn thị trường khách du lịch; Phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa, chú trọng phân đoạn khách nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần và mua sắm; Đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế đến từ Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương; Tây Âu; Bắc Âu; Bắc Mỹ và Đông Âu…

– Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp nhằm vào thị trường mục tiêu, lấy sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch là trọng tâm; quảng bá du lịch gắn với quảng bá hình ảnh quốc gia, phù hợp với các mục tiêu đã xác định; gắn xúc tiến du lịch với xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và ngoại giao, văn hóa.

– Tập trung phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở thương hiệu du lịch vùng, địa phương, DN và thương hiệu sản phẩm; chú trọng phát triển những thương hiệu có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và địa phương để đảm bảo hiệu ứng thống nhất.

1. Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; 2. Thủ tướng Chính phủ (2013), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; 3. Tổng cục Du lịch (2016), Tình hình hoạt động của ngành Du lịch năm 2016 và triển khai nhiệm vụ trong năm 2017; 4. Tổng cục Thống kê (2016), Tình hình kinh tế – xã hội năm 2017.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nền Kinh Tế Du Lịch Việt Nam – Văn Hóa Du Lịch Việt Nam / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!