Đề Xuất 2/2023 # Một Số Đặc Điểm Sinh Sản Nuôi Con Của Thỏ # Top 10 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Một Số Đặc Điểm Sinh Sản Nuôi Con Của Thỏ # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Đặc Điểm Sinh Sản Nuôi Con Của Thỏ mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hiểu được đặc điểm sinh sản nuôi con của thỏ giúp bạn đọc chăm sóc thỏ sinh sản tốt hơn, không bỏ lỡ những kỳ động dục của thỏ làm giảm năng suất chăn nuôi

Tuổi động dục lần đầu của thỏ thường vào lúc 2.5 – 3 tháng tuổi tùy vào giống và nuôi dưỡng.

Thông thường thỏ được phối giống ở chu kỳ thứ 2, lúc này hệ thống sinh dục của thỏ cái phát triển hoàn thiện, đảm bảo cho việc chửa đẻ và nuôi con tốt (xem hình) lúc này khối lượng phải đạt 3kg trở lên. Thỏ động dục lại sau khi đẻ 1-3 ngày, chu kỳ động dục thường 12-16 ngày, đôi khi thỏ không động dục lại hoặc thay đổi chu kỳ thất thường.

Khả năng động dục phụ thuộc vào sức khỏe chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ.. chỉ khi nào thỏ động dục thì mới chịu đực, sau khi giao phối 9-10 giờ thì trứng mới rụng, đây là đặc điểm sinh sản khác hẳn với các gia súc khác. Trên cơ sở đặc điểm này người ta sử dụng phương pháp phối giống bổ sung, phối lại lần thứ 2 sau lần thứ nhất từ 6-9 giờ, nhằm tăng thêm số trứng được thụ tinh và đẻ nhiều con.

Thỏ đẻ

Thời gian chửa 28-32 ngày, nếu cho đẻ dày, thời gian chửa thường dài hơn 1-3 ngày. Bản năng tự nhiên của thỏ mẹ là trước khi đẻ thường: cắp, nhặt cỏ, lá, nhổ lông, cào ổ trộn với đồ lót ổ làm thành tổ ấm mềm mại. Thỏ hay để vào ban đêm, gần sáng, có một số con không biết nhổ lông làm tổ, những con đó thường nuôi con vụng. Thỏ đẻ từ 1-11 con, thường từ 6-9 con một lứa. Sau khi đẻ, con mẹ ăn hết nhau thai,trong đó có nhiều sinh tố và kích dục tố. Thỏ con sơ sinh chưa có lông, mẹ liếm sạch da toàn thân mình thỏ con và phủ một lớp lông kín cả đàn.

Thỏ con được một ngày thì mọc những sợi lông tơ đến 3 ngày tuổi thì có lớp lông dày ngắn 1mm, 5 ngày tuổi lông dài 5-6mm và đến 20-25 ngày tuổi bộ lông được phát triển hoàn toàn. Thỏ con mở mắt vào ngày thứ 9-12 sau khi đẻ, đến ngày thứ 15-18 thỏ tập ăn và bỏ ổ. Thỏ mẹ vừa có chức năng tiết sữa, vừa có khả năng dưỡng thai, cho nên mẹ đang nuôi con, vừa đẻ được 1-3 ngày cũng có thể phối giống được và chửa đẻ bình thường.

Tìm hiểu các sản phẩm cần dùng khi nuôi thỏ

Một Số Giải Pháp Sinh Sản Trong Chăn Nuôi Trâu Bò

Giải pháp này có nhiều điều kiện khả thi và thuận lợi đối với các vùng gò đồi ở trung du, miền núi.

– MGA (Melengestrol acetate)

– MAP (6-methyl-17 acetoxy-progesterone)

– CAP (6chloro-6dihydro-17acetoxy-progesterone

– FGA (Flurogesterone acetate)

– DHPA (Dihydroxy progesterone acetophenide)

– Hanmix-VK9, Hanminvit-super (các sản phẩm của Công ty Hanvet, Hà Nội)

– SMB (17alpha-acetoxy-11beta-methyl-19-nor-pre-4-ene, 20-dione) chứa 6 mg Norgestomet, là một progestagen

– CRESTA chứa 3 mg Norgestomet.

1.2.3. Tiêm kích tố 1.2.3.1. Chế phẩm có hoạt tính estrogen

Trong thực tiễn sản xuất, người ta không dùng estrogen tự nhiên mà thường dùng các chế phẩm hoá học tổng hợp có tác dụng tương tự estrogen như: stilbestrol, hexestrol, diethylstilbestrol, dienestrol, estradiol valerat, estradiol benzoat. Tuân thủ theo cách sử dụng và liều lượng được hướng dẫn trên bao bì.

1.2.3.2. Chế phẩm có hoạt tính prostaglandin

– Reprodine (chế phẩm tổng hợp của Bayer).

– Prosolvin (chế phẩm tổng hợp của Intervet).

– Dinolytic (chế phẩm tự nhiên của Upjohn).

– Estrumate (chế phẩm tổng hợp của Pitman-Moore).

– Iliren (chế phẩm tổng hợp của Hoechst).

1.2.3.3. Chế phẩm phối hợp progesteron và hCG

Nymfalon (của Intervet) chứa 3000 IU hCG và 125 mg progesteron.

1.2.4. Đặt dụng cụ tẩm progesterone vào âm đạo

Trên thế giới, hiện có nhiều dạng dụng cụ tẩm progesterone (P4) dùng đặt âm đạo bò để gây động dục, gây động dục đồng pha, hoặc kết hợp với một vài hormone khác dùng điều trị rối loạn sinh sản hoặc bệnh buồng trứng.

1. PRID (Progesterone Releasing Intravaginal Device): Được sản xuất và phân phối bởi công ty Ceva Santé Animale- Canada. Được cấu tạo bởi khung thép, bọc silicon có tẩm 1,55 g P4 tự nhiên và 10 mg estrogen banzoat.

2. CIDR (Controlled Internal Drug Releasing): Ra đời năm 1981 tại Hamilton, New Zealand. Cấu tạo bởi xương bằng nhựa dẻo, bọc silicon, tẩm progesterone (P4)

– Cho trâu bò (1,9 g P4; 1,38 g P4);

– Cho dê cừu (0,3 g P4)

3. DIB (Bovine Intravaginal Device): Sản phẩm của Syntex – Argentina. Xương nhựa hình chữ V bằng nhựa PE, bọc phía ngoài bằng silicon có tẩm P4:

– Tẩm 1 g P4 dùng cho trâu bò

– Tẩm 0,3 g P4 dùng cho dê, cừu

4. Cue Mate: Sản xuất bởi công ty TNHH Bomac Laboratories – New Zealand. Xương nhựa hình chữ Y bằng nhựa cứng. Kén bằng silicone tẩm 0,78 g P4. Hai kén gắn vào xương nhựa thành dạng hoàn chỉnh chứa 1,56 g P4.

5. Procrear Synkro xy: Sản xuất tại PROAGRO – Argentina. Xương bằng nhựa cứng, có độ đàn hồi cao hình chữ V. Vỏ bọc silicon tẩm 0,5 hoặc 0,25 g P4. Khi dùng sẽ gắn 2 vỏ silicon với xương thành vòng chứa 1 g hoặc 0,5 g P4.

6. Pro – Ciclar: Sản xuất tại ZOOVET – Colombia. Xương bằng nhựa cứng, có độ đàn hồi cao hình chữ Y. Vỏ dạng băng vải gắn silicon dạng lỗ tẩm 0,75 g P4. Khi dùng sẽ gắn băng silicon với xương thành vòng chứa 0,75 g P4.

7. Primer: Sản xuất tại Brazil. Xương bằng nhựa cao cấp. Vỏ bao bọc xương bằng silicon có tẩm 1 g P4.

8. Sincrogest: Sản xuất bởi Aurofino – Brazil. Xương bằng nhựa cứng. Bọc silicon 1 g P4. Khuyến cáo dùng 4 lần mới hủy.

9. Cronipres (TriU-B): Sản xuất bởi Biogenesis Bago – Argentina, Vibac – Ấn Độ. Cấu tạo hình hai chữ L ốp lưng vào nhau.

– Cronipres /TriU-B Duo dùng cho trâu bò, Dạng cố định, Chứa 1 g P4. Kén silicon đi kèm tẩm 100 mg/kén.

– Cronipres PODS chứa 558 mg P4, dùng cho bò tơ. Có gắn 3 kén silicon tẩm 186 mg P4/kén;

– Cronipres CO chứa 40 mg P4. Dùng cho dê cừu. Có gắn 4 kén silicon tẩm 10 mg P4/kén.

10. ProB: Được sản xuất tại Việt Nam chứa P4 dùng đặt âm đạo bò (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Nông nghiệp – PTNT do chúng tôi Sử Thanh Long chủ trì, được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận Tiến bộ kỹ thuật 2018)

– Khung plastic hình chữ T, có một lỗ nhỏ phía dưới, có dây buộc để kéo ra ngoài sau thời gian đặt trong âm đạo

– Giữa cánh và khung ProB là một vòng cung đàn hồi [dễ dàng lắp vào gậy đẩy (applicator), không gây kích ứng niêm mạc âm đạo bò].

– ProB chứa 1,3 g P4 [khác với CIDR (1,38 g) hoặc DIB (1 g)], khả năng giải phóng P4 vào máu bò rất tốt và duy trì nồng độ P4 trong suốt 7 ngày đặt âm đạo (~3 ng P4/ml)

– Tỉ lệ gây động dục của ProB (78,21%; 79/101 bò cái), cao hơn so với CIDR (73,52%; 75/102 bò cái).

1.4. Thụ tinh nhân tạo trâu bò

Ngày nay thụ tinh nhân tạo (TTNT) trâu bò đã rất phổ biến ở nước ta vì mang lại lợi ích thực tế phục vụ nhân đàn một cách hiệu quả, với chi phí vừa phài.

Bất cứ nơi nào có trâu bò đực giống đều có thể sản xuất tinh dạng lỏng. Nhưng đòi hỏi một số trang thiết bị ban đầu khá tốn kém và nếu không đảm bảo quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt sẽ mang lại nhiều tác hại cho sinh sản của đàn bò.

Trong khi đó, chúng ta có thể sử dụng tinh đông lạnh-giải đông của Trạm Nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada (Viện Chăn nuôi) (trâu nội, trâu Murrah, nhiều giống bò thịt, bò sữa) để TTNT vừa kinh tế, vừa an toàn. Việc nhập tinh đông lạnh-giải đông để làm tươi máu hoặc lai tạo giống mới thì tùy từng trang trại, cơ quan nghiên cứu khoa học, còn nếu chỉ phục vụ tăng năng suất sinh sản thì chất lượng giống trâu, bò của Trạm Moncada đã là tốt rồi.

Đội ngũ dẫn tinh viên lành nghề được đào tạo chuyên nghiệp có ở khắp cả nước sẵn sàng phục vụ cho công tác nhân giống trâu bò.

1.5. Thụ tinh ống nghiệm (IVF) cho trâu bò

Đây là chuỗi công nghệ liên hoàn gồm thu trứng, nuôi chín trứng (IVM), thụ tinh in vitro (IVF) để tạo nên những phôi (IVC) có thể cấy (ET) cho con nhận. Trên thế giới, công nghệ này đã phổ biến ở rất nhiều nước, khắc phục được hiện tượng hiếm muộn cho người, phát triển nhanh những vật nuôi có năng suất vượt trội. Con bê đầu tiên từ IVF-IVC-ET ra đời năm 1981. Con nghé được tạo ra từ IVF đã chào đời vào tháng 11/1990 tại Ấn Độ, được đặt tên là Pratham. Gần đây, IVF tế bào trứng bò theo kỹ thuật Imai được đề cập đến. Đó là không loại bỏ hết tế bào cumulus như thông thường, rút ngắn thời gian nuôi cấy, nhờ đó tăng tỉ lệ phát triển đến giai đoạn phôi dâu-phôi nang. Bằng kỹ thuật này, cumulus đã thúc đẩy phôi bò phát triển ở giai đoạn 4-8 tế bào vượt qua được hiện tượng ức chế phát triển, không gây tổn thương cho sự phát triển của phôi về sau. Nhiều nhà khoa học cho rằng hiệu quả sản xuất phôi in vitro còn chưa cao (tỉ lệ phát triển phôi nang từ noãn bào sau khi IVF mới đạt 30-40%). Với trâu, tỉ lệ này có thấp hơn. Mặt khác, do giá chi phí cao nên công nghệ này có khó khăn khi áp dụng vào sản xuất cho trâu cũng như một số loài gia súc khác.

Tuy vậy, nếu kết hợp thành một chuỗi liên hoàn OPU-IVEP-ET thì công nghệ này sẽ phục vụ rất đắc lực và có hiệu quả cao cho sinh sản một cách bền vững.

Hiện nay, sử dụng tinh trùng bò đã xác định giới tính (tinh phân giới) dùng trong IVF cũng rất phổ biến (độ chính xác đạt khoảng 80%). Chúng ta chỉ cần nhập tinh trùng đã phân giới cho một phòng thí nghiệm IVF để sản xuất phôi in vitro là đủ dùng trong cả nước.

Công ty Emlab Genetics dùng một hỗn hợp thúc đẩy hoạt động của một loại tinh trùng này (ví dụ, tinh trùng mang nhiễm sắc thể X, hỗn hợp này có tên Heiferplus, sẽ sinh ra con cái) nhưng lại ức chế hoạt động của loại tinh trùng kia (ví dụ, tinh trùng Y, hỗn hợp này có tên Bullplus, sẽ sinh ra con đực). Với Heiferplus (dẫn tinh cho bò tơ), tỉ lệ bê cái sinh ra đạt 70-100%; với Bullplus tỉ lệ bê đực sinh ra đạt 75-80%. Sản phẩm đã được chào hàng ở nước ta từ 2009, rất dễ thao tác. Nguyễn Tấn Anh và Vũ Quang Ninh đã thử nghiệm trong cuộc tập huấn tại Hà Nam (2009), nhưng chưa tiếp tục được vì thiếu kinh phí.

Theo nguyên lý trên, Emlab Genetics còn có những sản phẩm khác dùng xử lý tinh trùng phân giới cho trâu, dê, cừu, ngựa, lợn, chó (www.emlabgenetics.com).

1.6. Cấy phôi (ET) cho trâu bò

Kỹ thuật này đã quá quen thuộc ở nước ta. Thiết nghĩ chỉ cần nghiêm túc áp dụng các tiêu chuẩn chọn bò cái nhận đồng pha (điểm thể trạng-BCS; hàm lượng progesterone tối thiểu trước khi cấy phôi . . .) để đạt tỉ lệ mang thai cao.

PGS TS Nguyễn Tấn Anh Hội Chăn nuôi Việt Nam

Một Số Đặc Điểm Cơ Bản Của Sản Phẩm Bảo Hiểm Nhân Thọ

Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ, vì vậy nó mang những đặc điểm chung của các sản phẩm dịch vụ, ngoài ra sản phẩm bảo hiểm cũng có những đặc điểm riêng biệt. Chính vì những đặc điểm chung và đặc điểm riêng này nên sản phẩm bảo hiểm được xếp vào loại sản phẩm “đặc biệt”. Bảo hiểm nhân thọ, một mặt nó cũng là một loại hình bảo hiểm do đó nó cũng mang những nét chung của bất kỳ sản phẩm bảo hiểm nào, nghĩa là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng mang những đặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ và những đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm. Những đặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ là:

+Là sản phẩm vô hình: Khi mua bảo hiểm, mặc dù khách hàng nhận được các yếu tố hữu hình đó là những tờ giấy trên đó in biểu tượng của doanh nghiệp,in tên gọi của sản phẩm, in những nội dung thoả thuận …nhưng khách hàng không thể chỉ ra được màu sắc, kích thước, hình dáng hay mùi vị của sản phẩm.Khách hàng cũng không thể “dùng thử” ngay thứ hàng hoá mà họ vừa mua, khách hàng chỉ có thể hình dung ra sản phẩm thông qua sự mô tả và sự hiểu biết của người đại lý. Khi mua sản phẩm bảo hiểm, người mua chỉ nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảm bảo vật chất trước các rủi ro, vì vậy có thể nói sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm vô hình.

+Là sản phẩm không thể tách rời và không thể cất trữ: Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời – tức là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó ( quá trình cung ứng và quá trình tiêu thụ là một thể thống nhất ). Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm cũng không thể cất trữ được – có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo hiểm vào một thời điểm nào đó sẽ không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng vào một thời điểm khác trong tương lai. Điều này hoàn toàn khác biệt với sản phẩm hữu hình. Đa số các sản phẩm hữu hình có thể sản xuất với số lượng lớn sau đó được lưu trữ trong kho bán dần. Còn các sản phẩm dịch vụ thì không thể cất trữ được.

+Tính không đồng nhất: Dịch vụ bảo hiểm cũng như các dịch vụ khác, chủ yếu được thực hiện bởi con người. Nhìn chung, chất lượng phục vụ của một cá nhân nào đó tại các thời điểm khác nhau là khác nhau, với các khách hàng khác nhau là khác nhau.Chất lượng phục vụ này phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, các yếu tố xung quanh. Ngoài ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lượng phục vụ cũng khác nhau.

+Là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền: Mặc dù trước khi tung một sản phẩm nào đó ra thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm đều phải đăng ký sản phẩm để nhận được sự phê chuẩn của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, việc phê chuẩn này chỉ mang tính nghiệp vụ kỹ thuật chứ không mang tính bảo hộ bản quyền. Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng sao chép các dạng sản phẩm của các nước, thậm chí của đối thủ cạnh tranh một cách máy móc, trừ tên mình. Vì vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, các doanh nghiệp bảo hiểm phải có các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ .

Bên cạnh đó, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng có những đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm, đó là:

+Là sản phẩm không mong đợi : Điều này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảo hiểm thuần tuý, mặc dù đã mua sản phẩm – nhưng khách hàng đều không muốn rủi ro xảy ra để được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm. Bởi vì rủi ro một khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí là mất mát, do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, chi trả khó có thể bù đắp được. Đặc tính này cũng làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm trở nên vô cùng khó khăn.

+Là sản phẩm có chu trình sản xuất ngược: Đối với các sản phẩm khác, căn cứ vào chi phí thực tế có thể tính được giá thành, giá bán của sản phẩm, qua đó thấy ngay được kết quả hoạt động. Nhưng đối với sản phẩm bảo hiểm, việc xác định giá bán hoàn toàn dựa trên các số liệu giả định về các tổn thất xảy ra trong quá khứ do đó tại thời điểm bán sản phẩm chưa thể xác định ngay được kết quả hoạt động do thực tế xảy ra có thể không như dự kiến, đặc biệt nếu thiệt hại xảy ra trầm trọng, tổn thất liên tục.

+Là sản phẩm có hiệu quả xê dịch: Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có quyền thu phí của người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có các sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm mới phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường hay chi trả. Do vậy, với việc thu phí trước, nếu không có hoặc ít rủi ro xảy ra, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn dự kiến. Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần suất hoặc quy mô lớn hơn dự kiến, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thua lỗ.

Về phía khách hàng, hiệu quả từ việc mua sản phẩm cũng mang tính xê dịch – không xác định. Điều này xuất phát từ việc không phải khách hàng nào tham gia bảo hiểm cũng “được nhận” số tiền chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm ( trừ trường hợp mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mang tính tiết kiệm ). Nói cách khác, khách hàng chỉ thấy được “tác dụng” của sản phẩm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra với họ.

Ngoài những đặc điểm trên, sản phẩm BHNT cũng có những đặc trưng riêng sau:

+Thời hạn bảo hiểm dài, thường là 5 năm, 10năm, 20 năm hoặc suốt cả cuộc đời.

+Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau. Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi người tham gia…

+ Các sản phẩm BHNT thường là những sản phẩm bán lẻ là chủ yếu.

Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời là nhóm sản phẩm bảo hiểm truyền thống, mang tính tiết kiệm và đã có mặt trên thị trường thế giới từ gần 100 năm. Do cũng là sản phẩm bảo hiểm nên nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời vẫn mang đầy đủ những đặc tính của sản phẩm dịch vụ và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ như đã nêu trên. Bên cạnh đó, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời cũng có một số đặc điểm riêng khác các nhóm sản phẩm nhân thọ khác, đó là:

-Sản phẩm bảo hiểm này có thời hạn bảo hiểm không xác định trước. Phương châm của người bảo hiểm ở đây là: “Bảo hiểm đến khi chết”. Tuy nhiên, có một số trường hợp loại hình bảo hiểm này còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay cả khi họ sống đến 100 tuổi.

-Số tiền bảo hiểm được chi trả bất cứ khi nào người được bảo hiểm bị tử vong.

-Do thời hạn bảo hiểm dài nên phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xảy ra, nên số tiền bảo hiểm chắc chắn phải chi trả.

-Phí bảo hiểm có thể đóng theo nhiều hình thức như đóng một lần, hoặc đóng định kỳ.

Đối với trường hợp phí nộp một lần thì phí thuần trong trường hợp này cũng được tính theo nguyên lý cân bằng giữa (số thu) và (số chi) tại thời điểm tham gia bảo hiểm.

Công thức tính phí thuần trong trường hợp này như sau:

f C = ∑ j = 1 m d ( x + j − 1 ) 1 ( 1 + i ) j l x S b size 12{f rSub { size 8{C} } “=“ { { Sum cSub { size 8{j`=`1} } cSup { size 8{m} } {d rSub { size 8{ ( x+j – 1 ) } } “ { {1} over { ( 1+i ) rSup { size 8{j} } } } } } over {l rSub { size 8{x} } } } “S rSub { size 8{b} } } {}

Trong đó:

S b : Số tiền bảo hiểm

l x : số người sống ở độ tuổi người tham gia bảo hiểm

i : lãi suất kỹ thuật

n : Thời hạn bảo hiểm

d(x+j-1) : Số người chết ở độ tuổi (x+j -1) đến (x+j)

m : là độ tuổi cuối cùng của bảng tỉ lệ tử vong sử dụng tính phí

Đối với trường hợp phí thuần nộp hàng năm trong bảo hiểm nhân thọ trọn đời, việc tính phí vẫn dựa trên nguyên tắc cơ bản là cân bằng thu-chi.

Ta có công thức tính phí thuần năm như sau:

f d = ∑ j = 1 m d ( x + j − 1 ) 1 ( 1 + i ) j ∑ j = 0 k l x + i 1 ( 1 + i ) j S b size 12{f rSub { size 8{d} } “=“ { { Sum cSub { size 8{j`=`1} } cSup { size 8{m} } {d rSub { size 8{ ( x+j – 1 ) } } “ { {1} over { ( 1+i ) rSup { size 8{j} } } } } } over { Sum cSub { size 8{j`=`0} } cSup { size 8{k} } {l rSub { size 8{x+i} } `} { {1} over { ( 1+i ) rSup { size 8{j} } } } } } “S rSub { size 8{b} } } {}

⇒ fd=fclx∑j=0klx+i(1+i)−j size 12{f rSub { size 8{d} } “=“ { {f rSub { size 8{c} } l rSub { size 8{x} } } over { Sum cSub { size 8{j`=`0} } cSup { size 8{k} } {l rSub { size 8{x+i} } `} ( 1+i ) rSup { size 8{ – j} } } } “} {}

Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời là thời hạn bảo hiểm dài và không xác định nên nếu đóng phí một lần khi ký hợp đồng thì mức phí thường rất cao, không hấp dẫn khách hàng. Vì thế, phương thức đóng phí hàng năm có lẽ phù hợp hơn cả. Về nguyên tắc phải đóng phí đến hết đời, song người tham gia bảo hiểm thường có mong muốn đóng đến một độ tuổi nhất định (chẳng hạn như :80, 85 hay 100 tuổi).Nếu tham gia lúc còn trẻ và ở độ tuổi trung niên, họ thường yêu cầu đóng phí đến độ tuổi về hưu. Điều này công ty bảo hiểm vẫn chấp nhận. Nhưng khi tính phí, nguyên tắc cân bằng vẫn được đặt ra.

Phí toàn phần:

Ta có công thức sau:

Phí toàn phần = Phí thuần + Phí hoạt động

Nếu ký hiệu:

P: là phí toàn phần

f: là phí thuần

h:là phí hoạt động

Ta có: P = f + h

Bộ phận phí hoạt động (h) trong bảo hiểm nhân thọ bao gồm 3 khoản:

+ Chi phí hợp đồng mới (α)

+ Chi phí thu phí (β)

+ Chi phí quản lý hợp đồng (y)

Đối với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời thu phí một lần thì khoản chi phí thu phí (β) sẽ không có, cho nên:

h = (α) + (y)

P = f + α + y

Đối với sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời thu phí nhiều lần trong suốt thời hạn tham gia bảo hiểm thì bộ phận phí hoạt động (h) sẽ bao gồm đầy đủ 3 khoản nêu trên:

h = α + β + y

Nhờ những đặc tính trên nên sản phẩm bảo hiểm trọn đời được các công ty chú trọng khai thác. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, nhóm sản phẩm này bao gồm các sản phẩm: An Khang Trường Thọ của Bảo Việt, Phú Trường An của Prudentia và An Sinh Trường Thọ của AIA. Các sản phẩm này ra đời đã đáp ứng được nhu cầu của người dân, giúp họ có được một khoản tiết kiệm khi tuổi cao, khiến họ cảm thấy yên tâm hơn trong cuộc sống.

Một Số Đặc Điểm Của Tiếng Nhật

Cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi về nguồn gốc của tiếng Nhật. Có rất nhiều ý kiến cho rằng tiếng Nhật thuộc hệ ngôn ngữ Altaic, cùng họ với tiếng Mông Cổ, Triều Tiên và các ngôn ngữ vùng Trung Á đến phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, đó là xét về đặc điểm ngữ pháp của ngôn ngữ này, còn đứng trên bình diện văn hóa thì tiếng Nhật lại có nhiều nét giống với các ngôn ngữ phía nam Trung Quốc. Mặt khác, dựa trên đặc điểm cấu tạo từ vựng và hệ thống phát âm thì tiếng Nhật lại có vẻ tương đồng với các ngôn ngữ Nam Á Dravidian và nhóm ngôn ngữ châu Úc. Đó chính là cái khó để các nhà ngữ học đưa ra một kết luận chính thức về nguồn gốc của tiếng Nhật.

Nhật Bản không phải là một quốc gia đa dân tộc, và vì vậy lẽ tất nhiên là gần 120 triệu dân nước này đều sử dụng một ngôn ngữ duy nhất: tiếng Nhật. “Tiếng Nhật vừa là tiếng nói của người Nhật, vừa là ngôn ngữ quốc gia của Nhật Bản với tên gọi “Quốc ngữ” (kokugo)”(1). Tuy vậy, ở Nhật Bản lại tồn tại một hệ thống phương ngữ đa dạng của các vùng khác nhau. Có hai tuyến phương ngữ chính là phương ngữ Kanto (Tokyo và các vùng lân cận) và phương ngữ Kansai (Osaka…). Các phương ngữ này không chỉ khác nhau về mặt ngữ âm (trọng âm, độ cao khi phát âm) mà còn có sự khác biệt cả về mặt từ vựng nữa. Hiện nay, phương ngữ Tokyo được chọn làm ngôn ngữ chuẩn để sử dụng trên các phương tiện truyền thông.

1. Hệ thống chữ viết:

Có thể nói, tiếng Nhật là một ngôn ngữ vô cùng phức tạp và có một hệ thống chữ viết “kỳ dị” nhất thế giới. Điều này đã gây khó khăn cho trên 2 triệu người nước ngoài đang học tiếng Nhật hiện nay, trong đó có 30.000 học viên Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu đã phát biểu một cách đầy khôi hài rằng: thật bất hạnh cho người Nhật Bản, khi mà tiếng Trung Quốc đã trở thành thứ chữ viết đầu tiên mà họ bắt gặp, để rồi từ đó họ lại cố gắng biến đổi, đồng hóa nó cho phù hợp với một ngôn ngữ còn phức tạp hơn nữa. Tuy nhiên, cũng nhờ có điều trớ trêu của lịch sử này mà người Nhật đã tạo ra hệ thống chữ viết độc đáo nhất, một sản phẩm văn hóa kỳ lạ nhất của Nhật Bản. Hiện nay, người Nhật sử dụng tới 4 loại chữ viết trong một văn bản: đó là chữ Hán được du nhập từ Trung Quốc vào thế kỷ thứ III và IV, chữ Hiragana và Katakana được người Nhật sáng tạo ra vào khoảng thế kỷ thứ VIII và IX và chữ Latin được các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha truyền vào Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ XVI và XVII.

Vậy thì, để có được một hệ thống chữ viết phức tạp gồm 4 loại như vậy, người Nhật đã phải trải qua một quá trình lịch sử du nhập và sáng tạo như thế nào?

Vào đầu công nguyên, trong các nước Đông Á, chỉ có Trung Quốc là nước duy nhất có hệ thống chữ viết. Do mối quan hệ, giao lưu giữa Nhật Bản và lục địa khá phát triển nên yêu cầu phải có chữ viết xuất hiện. Và việc du nhập chữ Trung Quốc là một lựa chọn mang tính tất yếu. Nhiều ý kiến cho rằng, chữ Hán được truyền từ Trung Quốc tới Nhật Bản qua Bán đảo Triều Tiên vào khoảng thế kỷ thứ III-IV. Những người di cư từ Bán đảo Triều Tiên tới, được gọi là Doraijin (người từ bên ngoài tới) đã mang theo chữ Hán. Họ trở thành những người viết thuê, sau này đảm nhiệm công việc ghi chép của triều đình.

Những ghi chép ban đầu được viết hoàn toàn bằng chữ Hán và được đọc bắt chước theo âm tiết tiếng Trung Quốc. Những âm đọc gần tương tự với tiếng Trung Quốc này được gọi là âm On (cách đọc On). Nhưng mặt khác, để hiểu được những văn bản chữ Hán lại phải dịch sang tiếng Nhật. Những từ tiếng Nhật có ý nghĩa trùng với chữ Hán lâu dần trở thành cách đọc Kun. Bởi vậy, từ Hán-Nhật có hai loại cách đọc: On và Kun.

Tuy nhiên, một chữ đơn có thể có hai hoặc ba cách đọc On dựa trên những cách phát âm tiếng Trung Quốc ở những vùng và những thời đại khác nhau. Phần lớn có ba loại: Go-on (âm Ngô), Kan-on (âm Hán) và To-on (âm Đường). Âm Ngô là cách phát âm sớm nhất chữ Trung Quốc ở Nhật Bản. Cách đọc này được đưa vào Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ V và VI, khi hệ thống chữ viết Trung Quốc được du nhập vào cùng với Phật giáo.  Manyogana, hệ thống chữ viết cổ của Nhật Bản xuất hiện trong tập thơ Manyoshu và những tác phẩm khác vào thế kỷ thứ VI và VII được đọc bằng âm Ngô.

Nếu như âm Ngô là cách đọc thịnh hành trong thời kỳ đầu chữ Hán được du nhập vào Nhật Bản thì tiếp theo là cách đọc âm Hán (Kan-on), được sử dụng từ cuốn “Nhật Bản thư kỷ” (Nihonshoki). Âm Hán là cách phát âm được đưa vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ VII và VIII. Đây là cách phát âm gần giống với cách phát âm đương thời của Tràng An (thủ đô nhà Đường) ở phía Bắc Trung Quốc và rất khác so với cách đọc âm Ngô là âm phương Nam. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cách đọc âm Ngô có nguồn gốc ở vùng hạ lưu sông Dương Tử. Tuy nhiên, họ cũng không chắc rằng chữ Trung Quốc được truyền vào Nhật Bản lần đầu tiên từ vùng này. Có thể, sự khác nhau giữa âm Ngô và âm Hán là do sự khác nhau về âm vực giữa các vùng, miền. Người Nhật đã cố gắng đưa cách đọc âm Hán (Kan-on) trở thành cách đọc chính thức, nhưng nó không bao giờ có thể thay thế hoàn toàn âm Ngô vì cách đọc cổ đã ăn sâu vào các kinh Phật và trong những từ vay mượn được sử dụng hàng ngày.

Âm Đường (To-on) là cách phát âm được đưa vào Nhật Bản muộn hơn cả. Đó là cách phát âm của triều Tống và các triều đại sau đó. Vì vậy, đôi khi chúng được đề cập tới như là âm Tống (So-on). Những cách phát âm này gần với cách phát âm của tiếng Trung Quốc hiện đại. Tuy nhiên, chúng chỉ xuất hiện trong một số giới hạn các từ đơn lẻ và không được đồng hóa vào tiếng Nhật nhiều như hai cách phát âm trước.

Trong tiếng Nhật, mỗi chữ Hán thường có từ 2 cách đọc On trở lên và có nhiều hơn 1 cách đọc Kun, do cách đọc Kun là sự dịch nghĩa của chữ Hán sang tiếng Nhật, và có nhiều trường hợp nghĩa tùy thuộc vào nội dung hoặc từ loại mà chữ Hán đó được sử dụng. Ví dụ với chữ Hán “hành”, có 3 cách đọc On là: kou (cách đọc âm Ngô) trong “ryokou” (lữ hành), gyou (cách đọc âm Hán) trong “shugyou” (chấp hành) và an (cách đọc âm Tống) trong “andon” (hành đăng, nghĩa là đèn dầu). Chữ “hành” cũng có tới 3 cách đọc Kun là: iku (đi, nghĩa thông thường), yuku (đi, nghĩa bóng; VD: bước trên đường đời…), okonau (tổ chức).

Hiện nay, số lượng chữ Hán thường dụng trong tiếng Nhật vào khoảng 2000-3000 chữ.

Vào thời đại Heian (794-1192), người Nhật đã tạo ra chữ Kana (sau này là Hiragana và Katakana) dựa vào việc biến đổi một số chữ Hán. Động cơ ban đầu của việc này có lẽ là để ghi tên người và sử dụng chữ Hán như là các ký tự ghi âm. Cũng có cách lý giải khác cho rằng ban đầu chữ Kana được tạo ra là để ghi thơ. Trong tập Manyoshu (tập thơ được biên soạn vào khoảng thế kỷ thứ VIII), tiêu đề và lời tựa là Hán văn, nhưng thơ thì được viết bằng chữ Kana. Chữ Manyogana (được sử dụng để viết tập thơ Manyoshu) là bộ chữ tiền thân của chữ Kana. Đây thực ra vẫn là bộ chữ Trung Quốc không hề có bất cứ sự biến đổi nào về mặt hình thức, các chữ Hán được sử dụng như là những ký tự để ghi các âm tiết tiếng Nhật. Vào thời đó, có khoảng 87 loại âm tiết trong tiếng Nhật nhưng lại có tới hơn 970 chữ Hán được sử dụng để viết chúng. Rất nhiều chữ Hán được sử dụng để ghi cùng 1 âm tiết trong tiếng Nhật, ví dụ có tới 40 chữ Hán dùng để ghi âm “shi”, 32 chữ Hán dùng để ghi âm “ka”… Sau này, loại chữ này được chỉnh lý dần sao cho 1 chữ trùng với 1 âm tiết và vào khoảng thế kỷ thứ IX, hầu như sự chỉnh lý đã được hoàn thành và chữ Kana (Hiragana và Katakana) ra đời.

Chữ Hiragana được hình thành từ lối viết thảo chữ Manyogana, phổ biến vào thời Heian. Dựa trên những ghi chép còn lại đến ngày nay, người ta cho rằng chữ Hiragana đã ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X. Vào thời đó, chữ này được gọi là Onnade, tức là loại chữ chỉ dành cho phụ nữ viết. Nhiều tác phẩm văn học viết bằng chữ Hiragana đã ra đời như “Tập hòa ca” (Wakashu) và bộ tiểu thuyết nổi tiếng đầu tiên của Nhật Bản “Truyện kể Ghên-ji” (Genji monogatari). Trong khi chữ Hiragana được coi là loại chữ dành cho phụ nữ, thì lúc này chữ Hán hay chữ Manyogana được gọi là Otode tức là loại chữ của nam giới. Chữ Hiragana (Kana biến thể) lúc đầu có số lượng rất lớn, nhưng đã được điều chỉnh dần dần để trở thành một hệ thống gồm 48 đơn vị ghi âm như ngày nay. Chữ Hiragana hiện nay được dùng để viết những từ Nhật Bản và những từ vay mượn gốc Trung Quốc nhưng không thể viết bằng chữ Hán trong bảng chữ Hán thường dụng.

Chữ Katakana cũng ra đời cùng thời với chữ Hiragana, tức là vào đầu thời đại Heian. Bộ chữ này được tạo thành do giản lược một phần chữ Manyogana, bởi vậy nó có tên là Kata (Phiến: một phần). Tuy nhiên loại chữ này chỉ được giới tăng lữ sử dụng vào việc ghi chép cách đọc kinh Phật, còn việc sử dụng loại chữ này trong các tác phẩm văn học phải vào thế kỷ thứ XII (tác phẩm “Konjaku Monogatari” được viết bằng chữ Hán và chữ Katakana). Ban đầu, nhiều chữ Katakana có thể được dùng để ghi 1 âm tiết. Sang thời Muromachi (1336-1603), mối liên hệ 1-1 giữa âm tiết và chữ Katakana được thiết lập. Loại chữ Katakana được sử dụng ngày nay đã được chuẩn hóa vào năm 1900.

2. Ngữ âm

Âm tiết trong tiếng Nhật giữ một vị trí rất quan trọng, nó vừa là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất và vừa là đơn vị phát âm cơ bản. Mỗi âm tiết được thể hiện bằng một chữ Kana. Số lượng âm tiết trong tiếng Nhật không nhiều, có tất cả 112([1]) dạng âm tiết. Trong số này, có 21 dạng âm tiết chỉ xuất hiện trong các từ ngoại lai được vay mượn, do đó số lượng âm tiết sử dụng thường xuyên trên thực tế còn ít hơn.

Khác với tiếng Việt, âm tiết trong tiếng Nhật hầu hết đều không mang nghĩa. Nếu như trong tiếng Việt, có rất nhiều từ được cấu tạo bởi một âm tiết, và mỗi âm tiết đều mang ý nghĩa nhất định, VD: cây, hoa, ấm, tôi…, thì đối với tiếng Nhật, phần lớn các từ được cấu tạo từ hai âm tiết trở lên và mỗi một âm tiết thường không mang ý nghĩa nào cả. VD: từ “hay” – “omoshiroi” có 5 âm tiết /o/mo/shi/ro/i, khó có thể tìm thấy ý nghĩa của mỗi âm tiết này. Cũng có những từ được cấu tạo bởi 1 âm tiết và trong trường hợp này, âm tiết mang ý nghĩa của từ đó, VD: “ki” có nghĩa là cái cây, “e” có nghĩa là bức tranh, “te” có nghĩa là cái tay… nhưng những từ như vậy chiếm số lượng rất nhỏ trong vốn từ vựng tiếng Nhật.

Tiếng Nhật có tất cả 5 nguyên âm: /a, i, u, e, o/ và 12 phụ âm: /k, s, t, g, z, d, n, m, h, b, p, r/ một số lượng khá ít so với các ngôn ngữ khác. Ngoài ra còn có hai âm đặc biệt là âm mũi (N) và âm ngắt (Q).

Trong tiếng Nhật, trọng âm cũng giữ một vị trí khá quan trọng. Trọng âm được thể hiện chủ yếu bằng độ cao khi phát âm, và nhờ có trọng âm mà nhiều từ đồng âm khác nghĩa được phân biệt. Ví dụ như từ “hashi” nếu phát âm cao ở âm tiết thứ nhất thì có nghĩa là “đôi đũa”, nếu phát âm cao ở âm tiết thứ hai thì lại có nghĩa là “cây cầu”. Tuy nhiên, các phương ngữ lại có sự phân bố trọng âm không giống nhau. Vì vậy, phương ngữ Tokyo đã được lấy làm ngôn ngữ chuẩn.

3. Từ vựng

Có thể khẳng định rằng tiếng Nhật là một ngôn ngữ có một vốn từ vựng rất lớn và vô cùng phong phú. Điều này thể hiện rõ nét khi so sánh tiếng Nhật với tiếng Anh, tiếng Pháp và các thứ tiếng phổ biến khác. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tiến hành so sánh ngôn ngữ của một số nước trên thế giới để tìm hiểu xem người ta biết bao nhiêu từ của một ngôn ngữ nào đó thì có thể hiểu nhau khi giao tiếp. Những chỉ số đưa ra từ cuốn sách “Tiếng Nhật hiện đại”([2]) cho thấy trường hợp của tiếng Pháp, nếu biết được khoảng 1000 từ thì khi hội thoại có thể hiểu được 83,5%. Nhưng ở tiếng Nhật, nếu biết 1000 từ thì chỉ hiểu được 60% hội thoại. Cũng như vậy, khi so sánh với tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, người ta đã kết luận rằng ngôn ngữ Nhật là thứ tiếng cần phải biết nhiều từ nhất thì mới có thể giao tiếp được. Cụ thể là, tiếng Pháp nếu biết 5000 từ thì có thể hiểu được 96%, tiếng Anh và Tây Ban Nha cũng tương tự như vậy, còn tiếng Nhật để hiểu được 96% thì cần phải biết tới 22.000 từ. Ngoài ra, trong tiếng Nhật còn có rất nhiều từ xuất hiện trong thơ ca, tiểu thuyết và những từ này lại chưa được thống kê ngay cả trong cuốn Đại từ điển tiếng Nhật. Cuốn “Đại từ điển” của nhà xuất bản Heibonsha được coi là lớn nhất hiện nay có tới hơn 720.000 từ.

4. Ngữ pháp

Đặc điểm nổi bật nhất của ngữ pháp tiếng Nhật là trật tự câu hoàn toàn đảo lộn so với các ngôn ngữ khác như tiếng Việt, Anh, Nga, Trung… Trong tiếng Nhật, vị ngữ đứng cuối câu là một nguyên tắc bất dịch. Hầu hết các ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng trợ từ và trợ động từ chứ không phải là bằng trật từ từ trong câu. Điều này khác xa với tiếng Việt vốn thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp phần lớn bằng trật tự từ, và đôi khi là hư từ trong câu([5]). Ví dụ câu: “Mèo ăn chuột” trong tiếng Việt, nếu thay đổi trật tự từ (chủ ngữ và bổ ngữ) trong câu thành “Chuột ăn mèo” thì nghĩa của câu sẽ biến đổi hoàn toàn. Nhưng trong tiếng Nhật, nhờ sự “dán nhãn” của các trợ từ đi kèm mà các từ trong câu (trừ vị ngữ đứng cuối câu) có thể đổi chỗ cho nhau mà nghĩa của câu không hề bị thay đổi. Câu “Mèo ăn chuột” trong tiếng Nhật là:

– Neko-ga nezumi-wo taberu.

(mèo chuột ăn)

có thể được nói hoặc viết thành:

– Nezumi-wo neko-ga taberu.

(chuột mèo ăn)

Nghĩa của hai câu trên vẫn như nhau, không hề có bất cứ sự biến đổi nào.

Một đặc điểm quan trọng khác của ngữ pháp tiếng Nhật, giống với các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, Nga, Pháp…, động từ và tính từ trong tiếng Nhật có sự biến đổi về mặt hình thức bằng cách ghép thêm tiếp vĩ ngữ để tạo thành thời, thể, trạng thái…, nhưng không biểu hiện ngôi và số. Ví dụ, động từ nomu (uống) có thể được biến đổi phần đuôi từ để biểu thị các ý nghĩa khác nhau như:

– Kohi-wo             nomu. (Uống cà phê)

– Kohi-wo nonda. (Đã uống cà phê)

– Kohi-wo nomitai. (Muốn uống cà phê)

– Kohi-wo nomeru. (Uống được cà phê)

– Kohi-wo nomou. (Nhất định sẽ uống cà phê)

Trong hội thoại tiếng Nhật, các ngôi nhân xưng, đặc biệt là chủ ngữ  thường được giản lược một cách tối đa có thể. Điều này là do các ý nghĩa ngữ pháp, nghĩa tình thái trong câu nói đã được biểu hiện ở dạng thức của động từ rồi. Chỉ cần nhìn vào dạng thức của động từ cũng có thể phân biệt được ai là chủ thể của lời nói, ai là đối tượng giao tiếp và mối quan hệ xã hội giữa họ.

Ngoài ra, kính ngữ cũng là một phạm trù ngữ pháp quan trọng của tiếng Nhật. Mặc dù các phương tiện biểu thị kính ngữ trong tiếng Nhật bao gồm cả từ vựng và ngữ pháp, song phương tiện ngữ pháp chiếm tỉ lệ khá lớn. Có rất nhiều định nghĩa về kính ngữ, tựu chung lại, có thể hiểu kính ngữ là các biểu hiện hay các dạng thức ngôn ngữ mà người nói (hoặc người viết) lựa chọn cho phù hợp với tình huống và đối tượng giao tiếp để biểu thị ý kính trọng đối với đối tượng giao tiếp. Kính ngữ thuộc phạm trù từ vựng chủ yếu bao gồm các danh từ, đại từ nhân xưng và một số ít các động từ đặc biệt. Ví dụ, để biểu hiện ngôi thứ nhất có tới 31 từ, biểu hiện ngôi thứ hai có tới 48 từ([6]) ở các sắc thái ý nghĩa khác nhau. Kính ngữ được biểu hiện bằng phương tiện ngữ pháp bao gồm các dạng thức của động từ, trợ động từ. Nói chung, có ba dạng chính là: dạng thức kính trọng, dạng lịch sự và dạng khiêm tốn. Trừ một số động từ đặc biệt mà dạng thức kính ngữ của chúng là những từ riêng biệt được quy định, phần lớn động từ trong tiếng Nhật đều có 3 dạng thức kính ngữ, được thể hiện bằng cách chia phần đuôi của động từ.

Ví dụ: động từ kakimasu (viết) có các dạng kính ngữ như sau:

– O kaki ni narimasu. (dạng kính trọng, dùng cho ngôi thứ hai hoặc ba)

– Kakimasu. (dạng lịch sự, dùng cho cả ba ngôi)

– O kaki shimasu. (dạng khiêm tốn, dùng cho ngôi thứ nhất)

Ngoài ra, cách thêm phụ tố (tiếp đầu ngữ o hoặc go) vào phía trước các danh từ cũng là một cách biểu hiện kính ngữ bằng phương tiện ngữ pháp.

Ví dụ:

– O taku (nhà, kính ngữ)

– O kane (tiền, kính ngữ)

– O sushi (món sushi, kính ngữ).

Tuy nhiên, sử dụng thành thạo kính ngữ là một vấn đề vô cùng khó, ngay cả đối với người Nhật. Để thể hiện được những sắc thái biểu cảm vô cùng tinh tế và phức tạp của kính ngữ, cần có sự am hiểu sâu sắc những đặc điểm tâm lý xã hội của dân tộc Nhật Bản.

NGÔ HƯƠNG LAN – HỒ HOÀNG HOA

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Hoàng Hoa, 2002, Từ vựng trong tiếng Nhật. Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2002.

2. Phạm Ngọc Hoa, 2001, Vài nét về hệ thống chữ viết Nhật Bản. Luận văn cử nhân khoa Đông phương học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Nguyễn Thu Hương, 1998, Phạm trù kính ngữ của tiếng Nhật. Luận văn thạc sĩ khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Ngô Hương Lan, 1998, Trợ từ tiếng Nhật trong câu – so sánh tương ứng với tiếng Việt. Luận văn thạc sĩ khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Trần Sơn, 1996, Đặc điểm lớp từ Hán-Nhật. Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3/1996.

6. Nguyễn Thị Việt Thanh, 2000, Ngữ pháp tiếng Nhật. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Japan as is it, 1997, Gakken company, Tokyo.

8. Nakanishi S., Yamamoto S., 1991, 漢字文化を考える (Suy nghĩ về văn hóa chữ Hán). Nxb. Taishukan, Tokyo.

9. Ikuko Sakairi, 1996,日本語を教える(Dạy tiếng Nhật). Nxb. Baberu Bureku, Tokyo.

10. Kendaiichi Haruhako, 日本語の本質(Bản chất của tiếng Nhật). Nxb. Nihon hoso shuppan kyoukai, Tokyo.

11. Satokawa Yuriko (chủ biên), 1998,日本語文法辞典(Từ điển ngữ pháp tiếng Nhật). Nxb. Kuroshio, Tokyo,

(1) Nguyễn Thị Việt Thanh, “Ngữ pháp tiếng Nhật”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.

([1]) Nguyễn Thị Việt Thanh, đã dẫn.

([2]) Hồ Hoàng Hoa, “Từ vựng trong tiếng Nhật”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/2002.

([3]) Nguyễn Thị Việt Thanh, đã dẫn.

([4]) Hồ Hoàng Hoa, đã dẫn.

([5]) Ngô Hương Lan, Luận văn thạc sĩ “Trợ từ tiếng Nhật trong câu – So sánh tương ứng với tiếng Việt”, 1998.

([6]) Nguyễn Thị Việt Thanh, đã dẫn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Đặc Điểm Sinh Sản Nuôi Con Của Thỏ trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!