Đề Xuất 12/2022 # Kỹ Thuật Làm Cỏ, Xới Đất Và Vun Gốc Cây Ớt / 2023 # Top 13 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Kỹ Thuật Làm Cỏ, Xới Đất Và Vun Gốc Cây Ớt / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kỹ Thuật Làm Cỏ, Xới Đất Và Vun Gốc Cây Ớt / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Làm cỏ, xới đất và vun gốc cho cây ớt sẽ giúp cây ớt bớt cỏ dại, gốc thông thoáng, hút được nhiều chất dinh dưỡng để sinh trưởng phát triển tốt.

Nội dung trong bài viết

Tác dụng của việc làm cỏ, xới đất và vun gốc

Tác dụng của việc làm cỏ

Tác dụng của xới xáo đất

Tác dụng của vun gốc

Các bước và cách thức thực hiện công việc

Đối với ruộng ớt trồng không che phủ luống

Đối với ruộng ớt trồng có che phủ luống bằng rơm rạ, vỏ trấu

Yêu cầu chung cần đạt được sau xới xáo, làm cỏ, vun gốc

Đối với ruộng ớt trồng có dùng màng nilon che phủ luống

Tác dụng của việc làm cỏ, xới đất và vun gốc

Tác dụng của việc làm cỏ

– Ruộng ớt sạch cỏ sẽ không có hiện tượng cỏ dại “tranh giành” điều kiện sống (nước, dinh dưỡng, ánh sáng…) với cây ớt; Từ đó cây ớt sẽ sinh tưởng, phát triển tốt cho năng suất, chất lượng cao hơn.

– Hạn chế được nơi trú ngụ, nguồn thức ăn phụ, nguồn lây lan của nhiều loại sâu bệnh gây hại ớt.

– Góp phần đảm bảo mật độ, khoảng cách cây trên ruộng, làm tăng năng suất, sản lượng.

– Ruộng đậu có nhiều cỏ dại sẽ gây khó khăn, làm tốn công trong khâu thu hoạch.

Tác dụng của xới xáo đất

Xới xáo là công việc làm cho lớp đất trên mặt luống và xung quanh vùng gốc cây được tơi xốp, thông thoáng, không bị dí chặt, có các tác dụng sau:

– Ở giai đoạn đầu, giúp cho cây con sinh trưởng, phát triển nhanh, khỏe hơn.

– Giúp bộ rễ cây phát triển nhanh, khỏe mạnh, tăng khả năng hút dinh dưỡng, hút nước.

– Xới xáo làm lớp đất mặt quanh bộ rễ tơi xốp, thông thoáng; chế độ nhiệt, ẩm độ được duy trì ổn định sẽ giúp cây hút dinh dưỡng tốt, sinh trưởng, phát triển nhanh.

– Góp phần chuyển hóa nhanh, nhiều các chất dinh dưỡng ở tầng đất mặt để cung cấp cho cây.

– Khi bón thúc phân bón cho cây phải kết hợp với xới xáo đất, có tác dụng đảo trộn, vùi lấp kín phân bón; góp phần làm cho phân chuyển hóa nhanh cung cấp dinh dưỡng cho cây, đồng thời hạn chế được sự rửa trôi, xói mòn làm mất phân bón.

– Xới xáo cũng là một trong các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại, cỏ dại rất có hiệu quả và an toàn.

Tác dụng của vun gốc

Vun gốc là việc đưa một lớp đất tơi xốp lấp cao, kín vào gốc cây. Vun gốc cho cây ớt có một số tác dụng chính sau:

– Hạn chế hiện tượng cây bị nghiêng đổ

– Giữ ẩm cho vùng đất có rễ cây hoạt động

– Vun cao đất vào gốc kết hợp vét rãnh luống là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi tiêu thoát nước trên mặt luống và trong ruộng khi gặp mưa to; cây không bị ngập úng; hạn chế được các bệnh gây thối lở cổ rễ, tuyến trùng.

Các bước và cách thức thực hiện công việc

Đối với ruộng ớt trồng không che phủ luống

Tiến hành làm cỏ, xới xáo đất mặt luống 3 – 4 lần kết hợp với các lần bón phân thúc.

* Lần 1:

– Tiến hành sau khi trồng 10 – 15 ngày.

– Mục đích: Phá váng mặt đất, làm cho lớp đất mặt luống tơi xốp, thông thoáng, diệt mầm cỏ dại.

– Chú ý không xới sát gốc cây để tránh làm đứt rễ và nghiêng đổ cây con

* Lần 2:

– Sau trồng 20 – 25 ngày, khi cây con bắt đầu phân cành ra nhánh.

– Mục đích:

+ Phá váng mặt đất, làm cho lớp đất mặt luống tơi xốp, thông thoáng, diệt mầm cỏ dại.

+ Kết hợp đảo trộn, lấp phân bón thúc lần 1.

+ Vun nhẹ đất vào kín gốc cây

– Cách làm:

+ Sau khi rắc phân vào giữa luống, dùng cuốc xới băm nhẹ lớp đất mặt luống sâu đều khoảng 5 – 6 cm; kết hợp đảo trộn đều phân; Nhặt sạch cỏ dại;

+ Vun nhẹ đất nhỏ vào kín xung quanh gốc cây.

+ Chú ý không xới sát gốc cây để tránh làm đứt rễ và nghiêng đổ cây con

– Tiến hành trước khi ớt bắt đầu giao tán, chuẩn bị ra đợt hoa đầu tiên (khoảng 35 – 50 ngày sau trồng, tùy từng giống)

– Mục đích:

+ Phá váng mặt đất, làm cho lớp đất mặt luống tơi xốp, thông thoáng, diệt mầm cỏ dại.

+ Kết hợp đảo trộn, lấp phân bón thúc lần 2.

+ Vun đất cao, kín vào gốc cây. Tùy theo giống ớt cao cây hay thấp cây để vun đất vào gốc có độ cao phù hợp.

– Cách làm:

+ Sau khi rắc phân vào giữa luống, dùng cuốc xới băm nhẹ lớp đất mặt luống sâu đều khoảng 6 – 8 cm; kết hợp đảo trộn đều phân; Nhặt sạch cỏ dại;

+ Vun nhẹ đất nhỏ vào kín đạt độ cao xung quanh gốc cây.

+ Làm sạch cỏ và vét đất dưới rãnh luống

+ Chú ý không xới sát gốc cây để tránh làm đứt rễ và nghiêng đổ cây con. Tránh làm rụng hoa, gãy cành ớt.

Khi bắt đầu thu trái. Lúc này cây đã giao tán che gần khuất hết mặt luống nên không xới xáo trên mặt luống để tránh rụng hoa quả, làm gãy cành.

– Dùng cuốc xới nhẹ, làm nhỏ đất hai bên mép luống

– Làm sạch cỏ và xới nhẹ đất rãnh luống

– Dùng tay nhổ sạch cỏ trong gốc cây

– Dùng cuốc vét sạch đất dưới rãnh luống hất nhẹ vun vào gốc cây

Đối với ruộng này không cần phải làm cỏ xới xáo lần 1, vì:

+ Sau trồng 1 thời gian nhất định thì vật liệu che phủ mới hoai mục, khi đó mới tiến hành xới xáo làm cỏ.

+ Mặt luống có che phủ đất không bị nén chặt, ít cỏ, giữ được độ ẩm

– Khi vật liệu tủ đã ải mục, tiến hành xới xáo, làm cỏ, vun gốc tương tự như ruộng trồng không che phủ luống đã nêu ở trên.

Yêu cầu chung cần đạt được sau xới xáo, làm cỏ, vun gốc

– Xới xáo đúng thời điểm đã xác định vào các giai đoạn sinh trưởng của cây

– Sau xới xáo đất phải tơi xốp

– Không gây đọng nước cục bộ trên mặt luống

– Không làm dập nát thân cành, hoa lá và đứt rễ của cây

– Ruộng phải sạch cỏ dại

– Nếu xới xáo kết hợp bón phân thúc thì phải lấp kín được phân

Đối với ruộng ớt trồng có dùng màng nilon che phủ luống

Đối với những ruộng này không xới xáo, làm cỏ và vun gốc được. Cần thường xuyên kiểm tra đồng ruộng và làm tốt các công việc sau:

– Dùng tay nhổ sạch cỏ mọc xung quanh gốc cây.

– Làm sạch cỏ dưới rãnh luống.

– Vét đất rãnh luống áp vào hai bên mép luống để giữ chặt màng nilon.

Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Kỹ Thuật Trồng Hoa Cẩm Chướng / 2023

Tổng quan về Hoa cẩm chướng

Thông tin cơ bản của hoa cẩm chướng

Dianthus caryophyllus (tiếng Việt: Hoa cẩm chướng hay Hoa cẩm nhung) là loài thực vật có hoa thuộc họ Cẩm Chướng. Loài này được L. mô tả khoa học đầu tiên năm 1753.[1] Cẩm chướng quốc hoa của Slovenia. Ngoài ra cẩm chướng đỏ là quốc hoa của Tây Ban Nha và Monaco.

Hoa cẩm chướng là giống thân cỏ có thể mọc cao đến 80 cm. Lá mảnh xanh xám đến xanh lam, dài tới 15 cm. Hoa mọc đơn hoặc chùm lên đến 5 bông, đường kính 3–5 chúng tôi cẩm chướng có nhiều màu sắc khác nhau.

Một số loại hoa cẩm chướng không mùi thường được dùng làm hoa cài áo (boutonnière) cho nam giới cho nam giới.

Hoa cẩm chướng thường được dùng tặng cho bà, mẹ, chị gái trong các ngày lễ phụ nữ, ngày của mẹ,…

Cẩm chướng là một loài hoa có hương thơm đặc trưng và quyến rũ-một nét đẹp dịu dàng, trầm lặng đầy kiêu sa. Hơn thế nữa, ý nghĩa của loài hoa cẩm chướng cũng rất đặc biệt. Quen gọi là cẩm chướng vì loài hoa này có sắc đẹp giống như bức trướng bằng gấm với nhiều màu sắc.

Phần lớn các loài hoa đều gắn liền với các sự tích và hoa cẩm chướng cũng không ngoại lệ. Hoa cẩm chướng vẫn thường biết đến là loài hoa tượng trưng cho tình yêu chung thủy, tình bạn bè cao quý, sự tôn kính, sự ái mộ, vẻ đẹp quyến rũ… Và mỗi màu hoa cẩm chướng lại mang các hàm ý khác nhau.

Đặc điểm và cấu tạo của hoa cẩm chướng

Cẩm chướng là loài cây thân cỏ sống nhiều năm, cây cao 60-100cm, thân thẳng, phân nhiều nhánh, lá dài, mép không có răng cưa, phần trên hơn uốn cong, đối xứng, màu xanh xám có phấn trắng; hoa mọc 2-3 chùm trên cành hoặc mọc đơn, hình tán có mùi thơm, đài hoa hình ống có 5 cánh, tràng hoa hình quạt, phiá trong nhăn nheo có màu hồng, màu đỏ, màu tím, màu vàng da cam, màu trắng….và có nhiều loại màu khác nhau trên một hoa.

Mùa ra hoa từ tháng 5 đến tháng 10, hoa cẩm chướng có 300 loài, chủ yếu có hoa cẩm chướng, cẩm chướng bao râu, cẩm chướng thiếu nữ. Loài cẩm chướng thơm có 1000 loài biến chủng. Về mặt nghệ thuật người ta dựa vào độ lớn của hoa để phân loại.

Cẩm chướng là loài ưa sáng, cường độ thấp nhất là 2,15x104Lux, cho nên phải đủ ánh sáng mới sinh trưởng tốt. Cẩm chướng ưa sống nơi mát mẻ, không chịu nóng, nhiệt độ thích hợp từ 12-20oC. Những loài có màu hoa khác nhau thì yêu cầu nhiệt độ khác nhau, màu vàng 20-25oC, màu đỏ cao hơn 25oC.

Cẩm chướng thích nghi với môi trường không khí tương đối khô. Thời gian trồng lý tưởng là mùa hè mát mẻ, độ ẩm thấo, mùa đông thông gió, ấm. Cẩm chướng ưa đất thịt, hơi kiềm, nhiều mùn, tơi xốp và thoát nước. Đất trồng phải giữ ẩm, tránh liên canh và ngập nước.

Đặc điểm thực vật học

Rễ: cẩm chướng có bộ rễ chùm, phát triển rất mạnh vào vụ chính để hút nước, dinh dưỡng. Chiều dài của rễ 15-20 cm. Khi vun gốc, cây cẩm chướng sẽ ra rễ phụ ở các đốt thân. Rễ phụ cùng với rễ chính tạo thành bộ rễ khoẻ mạnh để giữ cây và hút thức ăn nuôi cây tươi tốt, ra hoa nhiều, đẹp và thơm.

Thân: thân thảo, nhỏ, mảnh mai, thân mang nhiều đốt và rất dễ gãy ở các đốt. Thân cẩm chướng thường có màu xanh nhạt, bao phủ 1 lớp phấn trắng xung quanh có tác dụng quan trọng chống thoát hơi nước và bảo vệ cây khỏi bị sâu bệnh hại. Trên mỗi đốt mang lá và mầm nách.

Lá: lá kép, mọc từ các đốt thân. Lá mọc đối, phiến lá dày, hình mũi mác, mép lá trơn. Mặt lá nhẵn, không có độ bóng. Trên mặt lá có phủ một lớp phấn trắng, mỏng và mịn. Lớp phấn trắng có tác dụng làm giảm bốc hơi nước.

Có 2 dạng: hoa đơn và hoa kép. Hoa mọc đơn, từng chiếc một. Hoa nằm ở đầu cành và mang nhiều màu sắc. Ngay cả trên một hoa cẩm chướng kép cũng có từ 2 màu khác nhau trở lên. Nụ hoa có đường kính 2 – 2,5 cm. Hoa khi nở hoàn toàn có đường kính khoảng 5 – 8 cm.

Hạt cẩm chướng: hạt cẩm chướng nhỏ, nằm trong quả. Mỗi quả thường có từ 100- 600 hạt

Cẩm chướng thuộc loại cây thân thảo, sống lâu năm, trên thân có các đốt ngắn, dễ gãy, chiều cao khoảng 15-50cm. Cẩm chướng có hai loại cánh kép hoặc cánh đơn, với nhiều màu sắc rực rỡ: trắng, cam, đỏ, vàng, hồng, … hoặc trắng pha các màu sắc khác. Bông hoa cẩm chướng có nhiều lớp cánh tạo hình duyên dáng với lớp cánh mỏng, nhẹ, rìa cánh mềm mại lượn sóng. Lá cẩm chướng nhỏ thanh mảnh nhưng dày, dạng phiến, có màu xanh lục xám, mép nguyên. Lá và thân cẩm chướng phủ lớp phấn trắng, mỏng, mịn có tác dụng giảm sự thoát hơi nước và chống sâu hại. Hoa cẩm chướng mọc đơn bông hoặc chùm lên đến 5 bông. Tuy chỉ có một số giống có hương thơm nhưng vẻ đẹp của cẩm chướng mang nét nữ tính, dịu dàng chắc chắn sẽ chinh phục bạn ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Thậm chí cẩm chướng còn trở thành biểu tượng sự hùng mạnh của dân tộc Ý trong giai đoạn phồn thịnh nhất. Cẩm chướng còn được gọi là hoa của Jove – một trong những vị thần được yêu quý nhất .

Cẩm chướng nở hoa vào mùa xuân, mùa hè, kéo dài đến đông nếu thời tiết không quá lạnh. Cẩm chướng còn là giống hoa tết đẹp được yêu thích.

Nguồn gốc của hoa cẩm chướng

Hoa cẩm chướng có nguồn gốc từ châu Âu, chủ yếu là vùng Địa Trung Hải, nhưng cũng có một số tài liệu cho rằng nó được phát hiện lần đầu ở Viễn Đông.

Thời Hy Lạp cổ đại, hoa cẩm chướng là bông hoa được sủng ái nhất. Ngoài ra, hoa cẩm chướng đỏ là quốc hoa của Tây Ban Nha và Monaco.

Hoa cẩm chướng loài hoa có cái tên rất tự nhiên, hoa có nhiều màu sắc đẹp làm nổi bật trong vườn các loài hoa đẹp, hoa giống như bức trướng bằng gấm nhiều màu sắc. Hoa cẩm chướng có tên khoa học là: Dianthus hay còn có tên gọi khác là hoa nhau, thuộc vào họ cẩm chướng, hoa cẩm chướng thuộc một chi trong 300 loài trong thực vật có hoa, với đặc điểm loài thực vật có hoa đa số được bắt nguồn từ châu Âu và châu Á, với một vài loài được tìm thấy ở miền bắc châu Phi, và một loài ở khu vực ven Bắc cực của Bắc Mỹ, hoa cẩm chướng vào Việt Nam khoảng từ nửa đầu thế kỷ 20, hoa nhanh chóng trở lên thông dụng trong các khu vườn nhà dân và được dùng làm hoa trang trí trong các công viên.

Ý nghĩa hoa cẩm chướng

Hoa cẩm chướng tượng trưng cho lòng quý mến, tình yêu thanh cao, trong trắng, tình bạn bè. Mỗi sắc hoa cẩm chướng lại mang một sắc thái ý nghĩa riêng:

Thể hiện tình yêu sâu sắc chính là đóa cẩm chướng đỏ đậm

Đại diện cho sự ngưỡng mộ: đóa cẩm chướng đỏ sáng

Tình yêu may mắn và thuần khiết: hoa cẩm chướng trắng.

Thể hiện sự hối tiếc và tình yêu không thể chia ngọt sẻ bùi: cẩm chướng trắng có các sọc khác màu.

Lời chia buồn hoặc tính thất thường: đóa cẩm chướng tím.

Biểu tượng tình yêu bất diệt của người mẹ: cẩm chướng hồng.

Thể hiện sự thất vọng, hối hận hoặc từ chối, cự tuyệt, coi thường, khinh bỉ: cẩm chướng vàng

Ngày của mẹ: cẩm chướng hồng

Nếu không tiếp nhận hoặc từ chối: hoa cẩm chướng sọc

Ý nghĩa hoa cẩm chướng theo các quốc gia

Nước Anh

Tại nước Anh, hoa cẩm chướng được dùng như một món quà giúp các chàng trai bày tỏ tình cảm với cô gái mà anh ta đang thầm yêu thương.

Về phía các cô gái, nếu họ chấp nhận tình cảm của chàng trai, họ sẽ gửi tặng lại một bó cẩm chướng 1 màu như đỏ, hồng…Ngược lại, nếu từ chối lời tỏ tình cô gái sẽ gửi lại cho chàng trai một bó hoa cẩm chướng sọc nhiều màu.

Trung Quốc

Tại Trung Quốc, hoa cẩm chướng được sử dụng rất nhiều để trang trí trong các lễ cưới và làm hoa cưới cầm tay cho cô dâu. Người Trung Quốc tin rằng, cẩm chướng là biểu tượng của hạnh phúc và một cuộc hôn nhân viên mãn, trọng vẹn.

Nhật Bản

Với người Nhật Bản, hoa cẩm chướng đỏ được xem là biểu tượng của tình yêu. Đây cũng là loài hoa được sử dụng để làm quà tặng nhiều nhất trong ngày lễ của mẹ.

Hoa Kỳ

Tại Mỹ, hoa cẩm chướng được lựa chọn là loài hoa chính thức trong Ngày của Mẹ. Bên cạnh đó, đây cũng là loài hoa được sử dụng rất nhiều để làm hoa đeo tay cho phù dâu trong lễ cưới hay trong những dịp đặc biệt.

Ngoài ra, hoa cẩm chướng xanh được chọn là hoa của ngày thánh Patrick và cũng là loài hoa của những người sinh vào tháng 1. Vì vậy, bạn có thể lựa chọn một bó hoa cẩm chướng xanh để làm quà tặng sinh nhật cho những người sinh vào tháng 1.

Ý nghĩa hoa cẩm chướng theo màu sắc

Như đã đề cập ở phần trên, thì ý nghĩa của hoa cẩm chướng cũng được phân biệt dựa trên màu sắc của loài hoa này.

Cẩm chướng đỏ: tượng trưng cho tình yêu sâu đậm và sự tôn trọng.

Cẩm chướng trắng: là biểu tượng của tình yêu trong sáng, sự thuần khiết và cũng là lời chúc may mắn.

Cẩm chướng hồng: thể hiện sự biết ơn và tình cảm dành cho Mẹ.

Cẩm chướng vàng: được dùng để thể hiện sự thất vọng và từ chối tình cảm.

Cẩm chướng tím: tượng trưng cho sự thay đổi, khó dự đoán trước.

Hoa cẩm chướng sọc: thể hiện sự hối hận và sự từ chối, không chấp nhận tình cảm.

Các loại hoa cẩm chướng tại Việt Nam

Các loài hoa cẩm chướng ở Việt Nam được trồng và chăm sóc chủ yếu ở Đà Lạt và một số nhà vườn lớn trên cả nước.

1. Loại cẩm chướng vườn. Các loài này đều là cây đa niên, sống lâu năm. Được chia thành hai loài là cẩm chướng ven bồn và cẩm chướng tiệm hoa.

Loại hoa cẩm chướng ven bồn, thường mọc thành lùm bụi, dày đặc hơn loài cẩm chướng tiệm hoa. Cao 30-35cm. Hoa to rộng 5-7cm, thơm, hoa mọc nhiều cỏ bụi.

Loài hoa cẩm chướng tiệm hoa thường trồng trong nhà kính hay ngoài vườn ở những nơi khí hậu mát mẻ, mùa đông không lạnh lắm, không có tuyết rơi. Chúng mọc cao khoảng 1,2m, có hoa thơm, rộng khoảng 7 – 8cm với nhiều thứ giống và màu sắc khác nhau như trắng hồng, thoáng đỏ, cam, tím, vàng hay loang lổ.

2. Loài chén hồng – Rose bowl đa niên. Lá rất hẹp, xanh lục xám, làm thành thảm cao 5-8cm. Hoa rất thơm, màu hồng xơri rộng độ 2,5cm trên thân cao 15cm. Hoa sẽ nở suốt năm nếu ngắt hết hoa tàn.

3. Loài hồng đá – Rock pink, Dianthus pavonius (D.neglectus). Là cây cẩm chướng vườn đá nhỏ nhất, đa niên. Đôi khi được xem như một thứ giống của loài D.glacialis, một loài cẩm chướng hồng đá khác nhưng phát triển mạnh và trường cửu trong vườn hơn. Lá hẹp, xanh lục, dài 2-5cm, kết thành cụm nhỏ. Hoa đơn trên thân cao 15cm, màu hồng đỏ thắm tươi, rộng khoảng 2-3cm

4. Loài hồng ngọc tí xíu – Tiny rubies, đa niên. Cây mọc từng tụm lá xám, cao 7cm, lan xa 10cm. Hoa nhỏ, cánh kép, mùi thơm màu đỏ hồng ngọc vào đầu mùa hè. Loài này cũng như các loài dianthus lùn, sống lâu nhất và là những đề tài hấp dẫn trồng vườn đá hay bao phủ đất vườn nhỏ, có lá tươi tốt quanh năm.

5. Loài Sweet William, D.barbatus. Tuy là nhị liên mọc mạnh, nhưng trồng như hàng niên. Thân cứng cáp, cao 25-50cm. Lá dẹp, màu xanh lợt hay xanh đậm, dài 3-7cm. Hoa mọc thành chùm khít nhau, rộng 1-2cm, màu trắng, hồng đỏ, tím hay hai màu giữa các lá bắc khá to, mùi thơm nhẹ. Trồng bằng hột cuối xuân để cho hoa vào năm tới. Các hoa dòng kép hay lùn (thân cao 20-25cm) thường trồng bằng hạt. Đặc biệt, các giống Wee Willie (10cm) và Summer Beauty trồng vào đầu mùa xuân và ra hoa vào đầu mùa hè.

6. Loài cheddar pink, D.gratinanopolitanus (D.caesius) đa niên. Mọc như ụ nhỏ, dày, lá màu xanh dương xám, thân chia nhánh yếu đuối, dài 30cm, mọc thẳng đứng. Hoa thơm ngào ngạt, màu hồng, cánh hoa răng cưa.

7. Loài hồng trinh nữ maiden pink, d.deltoides. Là loài cẩm chướng duy nhất mọc tốt được khi ít ánh nắng mặt trời, nửa ngày bóng râm; cũng chịu lạnh khá giỏi và là loài đa niên. Thân có hoa cao chừng 12-30cm, lá ngắn. Hoa rộng 2cm, mọc ở thân xẻ nhiều cành, bìa cánh hoa răng cưa nhọn, màu sắc hồng lợt đến hồng đậm, có khi màu tím hay trắng lốm đốm màu sắc lợt khác.

8. Loài hồng thôn dã- Cottage Pink, Dianthus plumatus đa niên. Đây là loài cẩm chướng diễm kiều, đã trồng nhiều ở thế kỷ ở Âu Mỹ và được chọn làm giống để lai thành nhiều giống khác nhau. Điển hình là một thảm lá nhỏ rời rạc xanh lục. Thân cho hoa cao 25-50cm, hoa thơm mùi gia vị, đơn hay kép, cánh hoa tua viền, hồng hay tắng tâm đậm. Giống được ưa chuộng nhất là giống có cánh viền đăng ten, hoa thơm mùi gia vị, màu trắng, mỗi cánh phân nét đường màu đỏ hay màu hồng. Trồng làm nền cần thiết cho vườn hoa mẫu đơn hay hoa hồng. Trước đây, loài hoa này dùng làm hoa cắt bó rất nổi tiếng.

9. Dianthus “Little Joe” là một cẩm chướng đa niên trồng ở vườn đá rất tốt. Cụm cây cao khoảng 10-12cm, lá xanh dương xám đậm, rộng 15cm. Hoa đơn trên thân cây, màu đỏ thắm. Trồng xen kẽ với hoa chuông trên vườn đá sẽ cho hiệu quả cao.

Ứng dụng và trang trí hoa cẩm chướng

Hoa cẩm chướng có vẻ đẹp duyên dáng, nhiều màu sắc rực rỡ nên rất dễ trang trí:

Cẩm chướng thường được trồng làm hoa cắt cành cắm lọ, bình thủy tinh hoặc cắm lẵng nghệ thuật trang trí ở quán cà phê, khách sạn, nhà phố, nhà hàng, … mang đến vẻ đẹp rực rỡ, đầy sức sống.

Cẩm chướng còn được trồng trong chậu trưng ở phòng khách, ban công, hiên nhà vào dịp tết đến mang đến may mắn, niềm vui.

Cây hoa cẩm chướng còn được trồng bồn, trồng khóm làm điểm nhấn cho sân vườn, công viên, khu đô thị….

Cẩm chướng còn được lựa chọn làm quà tặng với nhiều ý nghĩa theo mỗi màu sắc.

* Chữa sỏi thận

Cẩm chướng 10g, kim tiền thảo 8g, xơ mướp 5g, râu ngô 8g, thuốc sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, mỗi lần 60ml, cần uống trong 7 ngày liền là một liệu trình. Nghỉ giữa các liệu trình là 3 ngày. Phải uống 3 liệu trình.

* Chữa đái ra máu

Cẩm chướng 10g, rau má 18g, rễ cỏ tranh 8g, rễ cỏ xước 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia ra nhiều lần uống. Cần uống liên tiếp 3 ngày.

* Chữa bế kinh

Cẩm chướng 15g, ngải cứu 10g, ích mẫu 8g, củ nghệ 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần, mỗi lần uống 50ml, cần uống 5 ngày liền, trước kỳ kinh 10 ngày.

* Chữa tiểu tiện bí

Cẩm chướng 10g, hành (cả rễ, củ, lá) 5 củ, mướp non 20g. Tất cả cho vào đun kỹ lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Cách trồng và chăm sóc hoa cẩm chướng

Cẩm chướng có thể nhân giống bằng cách gieo hạt vào mùa đông xuân khi thời tiết mát mẻ, cách gieo giống với nhiều loại hoa khác. Chú ý giá thể mềm mịn, giàu dinh dưỡng, tưới ẩm thường xuyên. Hạt nảy mầm sau khoảng 10-15 ngày sau gieo. Khi cây cao khoảng 2-3cm thì tỉa thưa, cây cao khoảng 10-12cm thì chuyển chậu. Khi cây mới trồng nên dùng que tre nhẹ để buộc vào thân cây để bảo vệ.

Cây hoa cẩm chướng thân thảo ưa thích thời tiết lạnh, khô nên khi trồng và chăm sóc cẩm chướng chúng ta cần chú ý một số điểm sau:

Ánh sáng: cẩm chướng ưa nắng, thích nơi có ánh nắng chan hòa, tuy nhiên cây chịu nóng kém nên che nắng cho cây vào mùa hè. Ánh sáng không đủ làm cây quang hợp kém.

Nhiệt độ: Cây hoa cẩm chướng ưa mát nên khoảng nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và sai hoa là 18-22oC. Chất lượng hoa phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ ban đêm.

Độ ẩm: rất quan trọng đối với cẩm chướng, đến hoạt động sinh lý và sự thoát hơi nước. Cẩm chướng ưa độ ẩm 60-70%. Độ ẩm không khí quá cao là tác nhân gây bệnh và hoa không đạt chất lượng, độ ẩm thấp làm cây dễ bị thoát hơi nước nhanh.

Đất trồng: loại đất phù hợp với cẩm chướng là đất thịt nhẹ có thể pha cát, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt, thoáng khí, pH 6-7.

Tưới nước: rễ hoa cẩm chướng rất nhạy cảm, dễ bị thối, úng nên khi tưới nước cần lượng vừa phải. Tùy vào điều kiện thời tiết nên tưới 1-2 lần/ ngày vào buổi sáng hoặc chiều mát, tránh tưới ban đêm dễ làm rễ bị thối, cây nấm bệnh.

Bón phân: nên bón phân định kỳ cho cây 2 tuần/lần. Bón bằng cách hòa phân theo tỷ lệ 3 lit nước : 1kg phân trùn quế, phân vi sinh hoặc NPK

Cắt tỉa: Khi cây trồng được 1 tháng thì nên ngắt ngọn 1 lần, chỉ để lại 5-6 cặp lá. Trước khi ngắt ngọn tưới đẫm nước, khi thấy đất se khô khoảng 2 ngày thì tưới lại. Ngắt ngọn lần 2 khi cây trồng được 2 tháng, chỉ giữ lại 4-5 ngọn lớn nhất. Tỉa bớt nụ phụ để tập trung dinh dưỡng nuôi nụ chính. Sau 60-70 ngày cẩm chướng sẽ nở hoa rực rỡ.

Cắt bỏ hoa tàn để tập trung dinh dưỡng nuôi cây.

Sâu bệnh thường gặp đối với cẩm chướng là héo rũ thân lá và bệnh rỉ. Nếu cây bị héo rũ thì chỉ còn cách nhổ bỏ rồi làm sạch đất, khử trùng rồi mới trồng lại. Cây bị bệnh rỉ thì dùng thuốc Benlade.

Kỹ thuật trồng hoa cẩm chướng

Chuẩn bị đất

 Đất trồng cẩm chướng phải tơi xốp, có độ thoáng cao, thoát nước, nhiều mùn. Không trồng 2 vụ cẩm chướng liên tục, phải luân canh 2-3 năm.

Đất được cày sâu 40-50m, tơi nhỏ, khử tuyến trùng bằng ethoprophos 10% (20-30 kg Mocap hạt/ ha), khử vi khuẩn bằng calcium hypochlorite (30kg/ha).

Lên luống cao, bề rộng luống 1,2m, bề mặt luống bằng phẳng, tưới ẩm trước khi trồng cây.

Cây giống và trồng cây

Cây giống khi trồng cần có các tiêu chuẩn không thấp hơn các tiêu chuẩn quy định tại quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 10/02/2010 của UBND tỉnh Lâm Đồng vv quy định tiêu chuẩn cây giống xuất vườn ươm của một số loại rau, hoa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

Cụ thể: Độ tuổi cây trong vườn 25-35 ngày, chiều cao cây: 3,5-7cm; đường kính cổ rễ: 1,5-2mm; có 6-8 lá thật. Cây phải khỏe mạnh, không dị hình, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh hại.

Cây được trồng với mật độ 200.000 – 220.000 cây/ha;

Tưới nước

Cây mới trồng trong 10 ngày đầu cần tưới nước 2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều mát để duy trì độ ẩm cho cây giúp cây bén rễ nhanh.

Cây trồng sau 10 ngày, tưới nước tuỳ theo mùa trong năm, mùa nắng cần tưới 2-3 ngày/1lần, mùa mưa 4-5 ngày/1lần tùy theo nhu cầu của cây. Tưới nước vào buổi sáng để tránh ướt lá vào chiều tối, hạn chế sự phát triển của nấm bệnh. Sau khi cây đã bén rễ, nên tưới bằng hệ thống tưới nhỏ giọt là tốt nhất. Trong những ngày nắng nóng, kết hợp tưới phun lên lá để làm mát cây.

Nước tưới phải đảm bảo sạch, phải được cách ly với nguồn rác thải và phải được xử lý trước khi dùng;

Phân bón và cách pháp bón

Lượng phân cần bón: tính cho 1ha

Phân chuồng: 100 – 120 m3

Vôi: 1000-1500 kg;

Phân vi sinh: 300 kg;

Magiê sulphat: 80-100kg

Phân hoá học theo hàm lượng nguyên chất: 300 N – 200 P2O5 – 250 K2O

Bấm ngọn, tỉa chồi nách và nụ

Bấm ngọn: Khi cây cao khoảng 20cm, các nhánh bên đã phát triển, cần bấm bỏ ngọn đầu để các nhánh bên phát triển đồng đều, thu hoạch hoa hàng loạt.

Tỉa bỏ chồi nách: Trên cây cẩm chướng phát triển rất nhiều chồi nách. Nếu để nguyên sẽ tiêu hao dinh dưỡng và dễ sinh sâu bệnh hại, cần thường xuyên tỉa bỏ chồi nách để cành hoa to khỏe. Tỉa bỏ cẩn thận để tránh tổn thương đến cây. Sau khi tỉa nhánh, phun thuốc phòng trừ nấm bệnh ngay.

Tỉa nụ: đối với hoa đơn tỉa bỏ các nụ bên để nụ chính to khỏe. Đối với hoa kép, tỉa bỏ nụ chính để các hoa còn lại phát triển đồng đều. Tiến hành tỉa khi nụ chính to bằng hạt bắp. Tỉa nhẹ nhàng để không làm ảnh hưởng đến các nụ còn lại.

Cách chăm sóc hoa cẩm chướng

Yêu cầu về ngoại cảnh

Đất trồng: cẩm chướng ưa đất thịt nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, đất thoát khí, giữ ẩm tốt nhưng không ứ nước. pH thích hợp từ 6-7, độ ẩm 60-70%.

Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho hoa cẩm chướng sinh trưởng và phát triển tốt là 180C – 250C. Nếu nhiệt độ vượt qua ngưỡng thích hợp này, cây sẽ sinh trưởng và phát triển kém, cho hoa với chất lượng kém, màu sắc không tươi, tuổi thọ trung bình giảm…

Độ ẩm: độ ẩm thích hợp 60-70 % , tối thích 70 %. Độ ẩm tương đối của không khí và đất ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp và hô hấp của cây cẩm chướng. Nếu độ ẩm được ổn định sẽ tạo điều kiện cho cây hút dinh dưỡng và muối khoáng thuận lợi, cây sinh trưởng tốt, năng suất và phẩm chất hoa cao.

Dinh dưỡng: Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ còi cọc, hoa nhỏ và sâu bệnh hại dễ xâm nhập và phát triển. Nếu bón phân không cân đối, thừa dinh dưỡng đạm, cây phát triển vóng cao, dễ bị lốp đổ và khả năng chống chịu kém.

Đạm: Có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, tham gia vào cấu tạo diệp lục. Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, cho hoa nhỏ, nhanh tàn, lá vàng úa. nếu thiếu trầm trọng cây sẽ ngừng sinh trưởng và chết. Tuy nhiên, thừa đạm cây sẽ mọc um tùm, lá nhiều và yếu ớt dễ phát sinh bệnh. Hoa cũng yếu dễ bị gục ngã và nhanh tàn.

Lân: Giúp cho bộ rễ cây phát triển khoẻ mạnh là tiền đề cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây sau này. Lân giúp cho hoa bền, đẹp. Thiếu lân lá thường có màu tím, màu tím từ mép lá lan dần vào bên trong. Hoa nhỏ, chóng tàn, màu sắc nhợt nhạt. Trong quá trình sinh trưởng của cây, cây cần lân nhiều vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực tức là khi ra hoa kết qủa. Vì vậy, cần phải hiểu nhu cầu của cây để cung cấp lân vào các giai đoạn hợp lý.

Kali: Giúp cho cây cứng cáp, chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của môi trường và sâu bệnh hại. Cây cần kali nhiều vào lúc ra hoa, giúp cành hoa cứng cáp, màu sắc hoa tươi, bền lâu. Nếu thiếu kali thì đầu chóp lá già, bắt đầu vàng và chết khô, sau đó là phần thịt lá .

Canxi: Giúp cho cây chống chịu tốt với điều kiện bất lợi. Thiếu canxi trên lá non xuất hiện những đốm màu xanh nhạt, nghiêm trọng hơn là bị chết khô.

 Các nguyên tố vi lượng: Cây cần loại phân này với số lượng nhỏ nhưng không thể thiếu được và cũng không thể thay thế được. Thông thường cây ít thiếu vi lượng, tuy nhiên những lúc thời tiết lạnh đột ngột kéo dài thường sẽ xảy ra thiếu nvi lượng. Khắc phục bằng cách phun bổ sung phân vi lượng qua lá, hoặc pha loãng tưới vào gốc cho đến khi thấy cây trở laị bình thường không nên bổ sung nữa.

Chăm sóc hoa cẩm chướng

Tưới nước: hoa không chịu được ngập úng nên chỉ tưới thêm nước cho cây khi bề mặt đất trong chậu khô hoàn toàn. Vào mùa đông, nhiệt độ ngày và đêm có sự chênh lệch khá lớn, vì thế, bạn nên tưới nước cho cây vào buổi trưa; vào mùa hè, sáng sớm hoặc chiều tối là thời điểm thích hợp nhất để tưới nước.

Cắt tỉa: cẩm chướng đơn cần tỉa bỏ những nụ hoa phụ để nụ hoa chính có cơ hội phát triển. Ngược lại, đối với cẩm chướng chùm, cần tỉa bỏ những nụ chính và để lại nụ phụ. Việc tỉa chồi cho cây phải được thực hiện thường xuyên.

Phòng trừ sâu bệnh hại

Sâu, nhện hại và biện pháp phòng trừ

a.Sâu đất (Agrotis spp.)

Đặc điểm gây hại: Loại sâu này thường cắn ngang gốc cây, đặc biệt là cây mới trồng. Chúng thường hoạt động vào ban đên nên cần phun thuốc vào các buổi chiều tối sau khi đã tưới đất thật ẩm.

Biện pháp phòng trừ: Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Diazinon, Abamectin, Cypermethrin + profenofos, Esfenvalerate.

b. Nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang)

Đặc điểm gây hại: Sâu tuổi nhỏ ăn phần thịt lá để lại lớp biểu bì phía trên. Sâu tuổi lớn ăn khuyết lá non, ngọn non, mầm non, khi cây có nụ sâu ăn đến nụ và làm hỏng nụ, hoa.

Biện pháp phòng trừ: Luân canh với cây trồng khác để tiêu diệt các mầm mống gây hại như trứng sâu, sâu non, nhộng có trong đất, cỏ dại. Dùng các biện pháp thủ công như dẫn dụ sâu bằng bả chua ngọt, ngắt bỏ ổ trứng, diệt trừ sâu non, tiêu hủy các bộ phận bị sâu phá hoại như: lá, cành, nụ hoa.

Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ như: Abamectin, Emamectin, Cypermethrin

c. Nhện hại (Tetranychus urticae)

Đặc điểm gây hại: Nhện chích hút lá làm lá trở nên quăn queo, biến dạng, cây sinh trưởng kém, nụ và cánh hoa bị chích hút làm hoa không nở, hoặc nở méo và bạc màu.

Biện pháp phòng trừ: Giữ nhà lưới luôn thoáng mát, tưới phun tăng độ ẩm cho nhà lưới trong những ngày nắng nóng; Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ như: Diafenthiuron, Hexythiazox, Propargite, Abamectin, Fenpyroximate Emamectin benzoate…

d. Rầy mềm (Myzus persicea)

Đặc điểm gấy hại: Thường sinh sống trên lá và ngọn non của cây và hoa, chúng chích hút nhựa cây làm ngọn cây không phát triển bình thường được, làm hoa biến dạng, đổi màu, không nở được.

Biện pháp phòng trừ:  Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Emamectin benzoate, Abamectin, Cypermethrin, Dinotefuran…

e. Bọ trĩ: (Frankliniella occidentalis)

Đặc điểm gây hại: Là một trong những đối tượng gây hại nặng trên một số cây hoa kiểng và cẩm chướng. Bọ trĩ xuất hiện nhiều khi cây bắt đầu ra hoa, làm hoa không nở, méo mó và bạc màu lỗ chỗ. Lây lan rất nhanh nhờ bay được và kích thước nhỏ nên rất khó trị.

Biện pháp phòng trừ: Nhà lưới luôn thoáng mát, dọn sạch cỏ rác xung quanh khu vực nhà lưới, tưới mát cho nhà lưới trong những ngày nắng nóng.

Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Imdacloprid, Abamectin, Cypermethrin, Dinotefuran, Emamectin benzoate

Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

a. Bệnh thối thân (Fusarium graminearum)

Đặc điểm gây hại: Thân bị thối ngay trên bề mặt đất. Rễ và gốc bị thối, ngọn héo và chết. Có các đám bào tử nấm màu hồng hiện diện trên các mô bị phân huỷ. Bào tử nấm có trong đất và trong xác thực vật, bào tử phát tán thông qua nước tưới; điều kiện môi trường nóng, độ ẩm cao, bón quá nhiều đạm sẽ tạo điều kiện cho bệnh phát triển mạnh

Biện pháp phòng trừ: Đất trồng sạch bệnh, luân canh cây trồng (không trồng 2 vụ cẩm chướng liên tiếp trong 2-3 năm trên cùng 1 lô đất). Trồng cây khỏe, sạch bệnh, tiêu hủy cây bệnh ngay khi phát hiện để không lây lan sang cây khác. Không tưới quá nhiều nước, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ. Phòng bằng cách phun thẳng vào gốc cây Fulhumaxin 5.15SC, 5.65SC, 6.15SC ngoài ra có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Thiophanate – methyl, Benomyl, Iprodione phun theo liều lượng khuyến cáo

b. Bệnh héo rũ Fusarium (Fusarium oxysporum)

Đặc điểm gây hại: Các nhánh héo rũ chuyển sang màu vàng và nghiêng về một phía ở giai đoạn đầu. Mạch dẫn bị mất màu và chuyển sang màu nâu đậm. Hệ thống rễ vẫn nguyên vẹn. Ở các giai đoạn sau, thân phát triển các vết thối khô. Cây và đất bị nhiễm nấm Fusarium oxysporum. Bào tử lan trong nước, phát triển mạnh ở nhiệt độ nóng ẩm cao hơn 25oc.

Biện pháp phòng trừ: Luân canh cây trồng, dùng giống khỏe, nhổ bỏ cây bệnh, sạch bệnh, xử lý đất kỹ trước khi trồng. Điều chỉnh pH đất = 6,5 – 7,0. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Benomyl, Mancozeb 8% + Methalaxyl, Iprodione,

c. Bệnh héo rũ do vi khuẩn Pseudomonas caryophylli.

Đặc điểm gây hại: Ngọn cây hoặc các nhánh cây riêng rẽ héo đột ngột, gốc cây bị nứt, rễ bị thối, mạch dẫn mất màu và chuyển sang màu vàng, lớp vỏ ngoài dễ dàng bị tách ra khỏi thân và mềm nhũng. Vi khuẩn lan truyền thông qua nước tưới, xác cây và rác thải mang mầm bệnh. Bệnh phát triển mạnh khi nhiệt độ cao và nóng ẩm .

Biện pháp phòng trừ: Sử dụng cây giống sạch bệnh, xử lý đất kỹ trước khi trồng. Vệ sinh ruộng sạch sẽ, sát trùng dụng cụ. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Copper Hydroxide, Kasugamycin, Bismerthiazol

d. Bệnh lỡ cổ rễ (Rhizoctonia solani)

Đặc điểm gây hại: Thân bị héo ngay bề mặt đất, vết thối phát triển từ bên ngoài vào. Toàn bộ cây héo và chết. Có thể nhìn thấy hạch nấm màu đen bằng kính lúp hoặc khi độ ẩm đất cao có lớp sợi nấm như bột trắng. Bào tử nấm Rhizoctonia solani có sẵn trong đất, xác thực vật . Bệnh phát triển mạnh khi độ ẩm và nhiệt độ cao.

Biện pháp phòng trừ: Xông hơi môi trường ra rễ và đất, không tưới quá nhiều. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Iprodione, Benomyl, Fosetyl Aluminium Carbendazim, Pencycuron

e. Bệnh rỉ sắt (Uromyces dianthi)

Đặc điểm gây hại: Các nốt nhỏ chứa nhiều bào tử màu nâu trên lá và thân cây. Bệnh nặng làm cho lá khô, cháy. Bào tử có sẵn trong không khí, phát triển mạnh trong điểu kiện thời tiết nóng ẩm. Chỉ lan truyền trên cây sống nhờ gió, nước mưa hoặc nước tưới.

Biện pháp phòng trừ: Sử dụng cây giống sạch bệnh, cắt bỏ lá bệnh. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Benomyl, Hexaconazole, Diniconazole, Carbendazim…

f. Bệnh mốc xám (Botrytis cinerea)

Đặc điểm gây hại: Các bào tử màu xám có lông hình thành trên hoa trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Bào tử nấm có sẵn trong không khí, trong xác thực vật và phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm.

Biện pháp phòng trừ: Cắt bỏ các hoa già, nhà lưới thoáng mát, giảm độ ẩm. Có thể tham khảo sử dụng các hoạt chất để phòng trừ: Carbendazim, Flusilazole Ningnanmycin, Propineb, Iprodione, Thiophanate-Methyl Thời điểm thu hoạch thích hợp nhất đối với hoa cẩm chướng là lúc hoa hé nở 10-15%, thu hoạch vào sáng sớm (không quá 10 giờ sáng) hoặc chiều mát (từ 3 giờ chiều). Trong những ngày trời mát có thể thu hoạch hoa cúc bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Cắm hoa vào xô nước hoặc xô dung dịch xử lý ức chế sinh ethylene ngay sau cắt hoa khỏi cây và vận chuyển về nơi lưu giữ hoa (nhà mát).

Hoa cẩm chướng phù hợp với những sự kiện nào?

Với những ý nghĩa trong cả tình yêu và cuộc sống. Hoa cẩm chướng có thể được sử dụng trong gần như mọi sự kiện trong đời sống.

Lễ cưới: hoa cẩm chướng vừa được sử dụng để làm hoa trang trí lễ cưới, vừa được dùng để làm hoa cầm tay cho cô dâu. Các màu hoa cẩm chướng mà bạn nên chọn cho lễ cưới là hồng và đỏ.

Ngày của mẹ: hoa cẩm chướng hồng là món quà không thể thiếu để dành tặng cho mẹ trong ngày của Mẹ. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tặng hoa cẩm chướng trong dịp sinh nhật.

Lễ tình nhân: thay vì hoa hồng, bạn cũng có thể chọn hoa cẩm chướng để dành tặng cho một nửa của bạn trong ngày lễ tình nhân.

Lễ tốt nghiệp: bên cạnh hoa hồng và hoa hướng dương thì hoa cẩm chướng cũng được dùng nhiều trong ngày lễ tốt nghiệp và các sự kiện thể thao.

Hình ảnh hoa cẩm chướng đẹp nhất

Kết.

Đặc Điểm, Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Nhãn / 2023

Cây nhãn là loại cây ăn quả ngon ngọt đã được yêu thích từ rất lâu tại Việt Nam. Hiện tại trên thị trường cũng có nhiều loại nhãn khác nhau, chúng tôi xin giới thiệu cho các bạn một số thông tin bổ ích về loại cây ăn quả này. Nhãn là cây ăn trái được ưa chuộng, nhiều năm trở lại đây nhãn có quanh năm do nhiều người dân áp dụng được kĩ thuật cho nhãn ra quả trái mùa. Có rất nhiều hộ gia đình trồng nhãn kinh doanh, tuy nhiên không phải gia đình nào cũng có năng suất và chất lượng nhãn theo ý muốn.

Cây nhãn là gì?

Nguồn gốc của cây nhãn cho đến nay vẫn còn có những ý kiển khác nhau, có tác giả cho rằng nguồn gốc của cây nhãn ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc), có tác giả cho rằng gốc từ Ân Độ sau đó mới được đem đi trồng ở Malaysia và Trung Quốc, có tác giá lại cho rằng Kalimantan (Indonesia) cũng là cái nôi của nhãn.

Nhãn là cây nhiệt đới và á nhiệt đới, có thể trồng được từ đường xích đạo đến VĨ tuyển 28-36, nhưng chi có một số nước trồng với diện tích lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Mỹ…

Ở nước ta nhãn được trồng khá phổ biển dọc theo suốt chiều dài của đất nước từ Bắc chí Nam. Do thu được hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây diện tích trồng nhân phát triển khá nhanh.

Tuy chưa có số liệu thống kê cụ thể, nhưng ước đoán hiện nay diện tích trồng nhân ở nước ta vào khoảng 70-80 ngàn ha, trong đó các tỉnh phía Nam chiếm khoảng 2/3 trong tổng diện tích này.

Nhãn nghĩa là “mắt rồng” vì hạt có màu đen bóng là loài cây cận nhiệt đới lâu năm thuộc họ Bồ hòn có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc. Loài này còn được gọi là quế viên trong tiếng Trung.

Cây Nhãn là loại cây trồng lấy quả có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế.

Đặc điểm của cây nhãn

Sinh trưởng rễ cây nhãn

Rễ nhãn ăn rất sâu và rộng, ở những vùng đất đỏ tơi xốp rễ có thể ăn sâu tới 4 đến 5 m, ở những vùng đất nông thì rễ ăn nông.

Rễ nhãn ăn rất rộng nói chung rộng hơn tán lá 1- 3 lần nhưng 80% tập trung trong tán, ở nơi đất xốp thì phần lớn rễ tập trung ở độ sâu 10- 100 cm và tập trung nhiều nhất ở độ sâu 50 cm trở lại. Ở nơi đất tốt thì rễ phân nhánh nhiều và ít có tình trạng rễ đuôi chuột, rễ nhãn có nấm cộng sinh giống như rễ vải.

Một năm rễ sinh trưởng làm 3 đợt. Đợt 1 vào tháng 3 – 4 lượng rễ ít, đợt 2 giữa tháng 5 giữa tháng 6 rễ phát triển mạnh, đợt 3 giữa tháng 9 đến giữa tháng 10 rễ sinh trưởng yếu.

Các đợt sinh trưởng của rễ thường xen kẽ với các đợt lộc, thường là sau đỉnh cao của lộc sinh trưởng. Sinh trưởng của lộc và rễ lại phụ thuộc vào quả, năm trước quả nhiều thì năm sau rễ và lộc sinh trưởng kém.

Sự sinh trưởng của rễ còn phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm đất. Nhiệt độ đất dưới 10°C rễ sinh trưởng rất yếu, từ 23 – 28°C rễ sinh trưởng mạnh nhất, từ 29 – 30°C rễ sinh trưởng yếu dần, từ 33 – 34°C rễ ngừng sinh trưởng.

Độ ẩm đất ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của rễ đất đủ ẩm rễ sinh trưởng mạnh (1 ngày rễ mới có thể mọc dài thêm 1,55 cm) hàm lượng nước trong đất từ 13% trở lên là thích hợp.

Trong điều kiện đủ ẩm, đủ dinh dưỡng 84% rễ tập trung ở tầng từ 0 – 60 cm. Đất đủ ẩm và tơi xốp rễ sinh trưởng mạnh nên vườn nhãn cần được cày lật xới giữa hàng.

Sinh trưởng thân tán cây nhãn

Nhãn là cây ăn quả có tán rộng, nhãn trồng bằng hạt cây cao hơn nhãn ghép hoặc nhãn chiết. Các giống có đặc tính lùn, lá không phản quang thường cho quả đều hơn các giống nhãn khác.

Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành hay kẽ lá, đài 5-6 răng, tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô.

Sinh trưởng lộc và phát dục của cành

Một năm nhãn ra từ 3 đến 5 đợt cành, cành xuân 1 đợt, cành hè 2 – 3 đợt, cành thu 1 đợt, cành đông ít hơn. Thông thường thì cành thu chiếm khoảng 1/3. Nhưng nếu năm trước không ra quả hoặc ít quả thì cành xuân cành hè nhiều. Cành non (lộc) thường mọc từ đỉnh ngọn của cành mẹ, cũng có khi mọc từ nách hoặc từ mầm bất định.

Thời gian, số lượng các đợt lộc phụ thuộc vào sức sinh trưởng của cây, tuổi cây, số lượng quả năm trước và chế độ nước, dinh dưỡng.

Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn. Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng bao bọc. Mùa quả là vào khoảng tháng 7-8. Cây nhãn tương đối chịu rét hơn so với các cây cùng họ như vải, đồng thời cũng ít kén đất hơn.

Cành xuân thường mọc từ cành thu năm trước, cành hè và cành thu không mang quả hoặc cành già đã mang quả của năm trước. Khoảng tháng 1 đã bắt đầu nứt lộc, mạnh nhất là tháng 2 đến giữa tháng 3, đến giữa tháng 4 thì hết, cuối tháng tư thì cành xuân đã già. Cây nhãn hàng năm ra quả đều thì cành xuân ít, hoa quả năm trước ít thì năm sau cành xuân nhiều và mập. Những cành xuân gầy yếu nên cắt bỏ để nhãn ra cành thu thì tốt hơn.

Cành hè mọc ra từ cành xuân hoặc cành hè, cành thu của năm trước, trên cành đã ngắt quả, cành già của năm trước. Cành hè có thể ra làm 2 – 3 đợt. Đợt 1 vào trung tuần tháng 5 thường ít, đợt 2 vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7. Do mưa nhiều, nhiệt độ cao nên thường ra rất nhiều lộc, đợt 3 vào cuối tháng 7 đến đầu tháng 8. Lộc đợt này thường phát sinh ngay trên cành hè ra sớm trong năm hình thành nên 2 đợt cành trong một vụ hè.

Cành hè là cành rất quan trọng, ngoài việc là gốc của cành thu, cành hè còn có thể trực tiếp là cành mẹ mang quả. Cành hè to, mập, lá nhiều là cành mẹ mang quả rất tốt (ở Phúc Kiến cành hè mang quả chiếm tới 58,8 – 97,4%) vì vậy sự sinh trưởng của cành hè đều đặn hàng năm là cơ sở để cho năng suất cao của nhãn.

Cành thu xuất hiện từ đầu tháng 8 đến đầu tháng 10. Cây tốt thì ra sớm, đa số phát sinh sau khi hái quả 15 – 20 ngày. Cành thu có 2 loại, một loại mọc từ cành hè, một loại mọc từ cành quả mới hái. Cành thu mọc từ cành hè thường chiếm 60% từ cành quả khoảng 20 đến 21%. Trong năm quả ít hoặc không có quả, cành xuân, cành hè to khoẻ thì cành thu ít.

Các giống chín sớm thì cành thu ra sớm và nhiều, giống chín muộn thì cành thu ra muộn và ít, sinh trưởng kém. Cây to khoẻ dinh dưỡng tốt thì cành thu ra sớm và mập. Bón đủ phân trước và sau khi hái quả thì cành thu nhiều, dài và mập hơn nhiều. Mùa thu mưa nhiều có lợi cho cành thu sinh trưởng.

Nhưng nhãn chín vào tháng 8 đến tháng 9 vào mùa thu mưa ít , nhiệt độ thấp dần thì sau khi hái quả cành thu sẽ ít thường chỉ được 10 – 12%, cành dài và nhỏ. Cành thu là cành mẹ của cành quả năm sau.

Kết quả theo dõi của Viện khoa học Nông nghiệp Phúc Kiến 3 năm liền như sau: Tỷ lệ ra hoa ở cành thu mọc từ cành hè từ 40 -72,3%; từ cành thu mọc từ cành quả (mới hái quả) từ 23% – 40,1% và từ các cành khác 12 – 47%. Vì vậy chăm sóc cho cành thu nhiều, to mập là yếu tố quyết định cho năng suất cao.

Theo Trần Thế Tục (1997) trên cây nhãn một năm có 3 đến 5 đợt cành đó là: Cành mùa hè, cành xuân, cành thu, cành mùa đông có nhưng rất ít. Cành thu mọc sau khi hái quả 15 – 20 ngày, cành này thường mọc ra trên cành hè và cành vừa hái quả, nếu cành hè phát triển khoẻ (ở cây ít quả hoặc không có quả) thì cành thu sẽ ít. Thông thường cành mẹ của cây nhãn là cành thu và cũng là cành mẹ tốt nhất vì cành này sinh trưởng khoẻ, sung sức tích luỹ được nhiều dinh dưỡng, hiệu năng quang hợp cao.

Cành đông thường ra vào tháng 11, năm nào mùa đông ấm áp và mưa nhiều thì cành đông nhiều. Cây còn non sinh trưởng khoẻ thì cành đông nhiều, cành đông nhiều thì năm sau ra quả ít nên người ta thường tìm cách hạn chế không cho ra cành đông.

Quá trình sinh trưởng hàng năm của cây nhãn:

Cùng với quá trình sinh trưởng thân tán, trong mùa đông (tháng 1) nhãn nghỉ sinh trưởng để phân hoá mầm hoa. Để đảm bảo cho cây nhãn phân hoá mầm hoa được thuận lợi trong mùa đông cần có 1 thời gian có nhiệt độ thấp vừa phải (xung quanh 15 oC) và khô hạn để hạn chế cành mùa đông có lợi cho việc quang hợp và tích luỹ chất khô, tăng nồng độ dị bào tạo cho cây phân hoá mầm hoa được tốt.

Đặc điểm phát triển của cây nhãn

Phân hoá mầm hoa nhãn

Tương tự như cây vải, cây nhãn trước khi ra hoa có một thời kỳ nghỉ sinh trưởng để phân hoá mầm hoa, thời kỳ này thường diễn ra trong mùa đông khi có điều kiện khô hoặc khô hạn. Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phân hoá mầm hoa ở cây nhãn nhiều tác giả cho rằng: quan hệ giữa cành lá, sinh trưởng của bộ rễ là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến phân hoá mầm hoa.

Thời gian phân hoá mầm hoa của nhãn phụ thuộc vào giống, vùng trồng, vùng khí hậu, kỹ thuật thâm canh. Quá trình phân hoá mầm hoa tuy phức tạp nhưng đều có một số quy luật chung, cây nhãn có thời gian phân hoá mầm hoa tập trung khoảng 1 tháng. Nhãn nghỉ sinh trưởng để phân hóa mầm hoa vào tháng 1.

Ra hoa, đậu quả

Nhãn là cây ăn quả ra hoa ở đầu cành từ khi ra hoa, đậu quả đến quả lớn không có khả năng ra lộc trên cành mang quả, dẫn đến có tính ra quả cách năm khá rõ rệt.

Quá trình ra hoa của nhãn có thể chia thành các thời kỳ:

Thời kỳ xuất hiện mầm hoa

Thời kỳ xuất hiện hoa

Thời kỳ nở hoa và thụ phấn

Thời kỳ tàn hoa và đậu quả

Hoa của vải, nhãn ra ở dạng chùm và thực hiện thụ phấn chéo (giao phấn), số lượng hoa đực thường lớn hơn rất nhiều so với hoa cái và hoa lưỡng tính, hoa đực nở trước hoa cái nở sau và kết thúc nở hoa là hoa đực, do sự nở lệch pha của hoa đực và hoa cái hoặc hoa đực và hoa lưỡng tính dẫn đến quá trình thụ phấn, thụ tinh gặp khó khăn, làm cho tỷ lệ đậu quả ở các năm sai khác nhau, năm đậu quả nhiều, năm đậu quả ít.

Sinh trưởng của quả

Sau khi thụ phấn thụ tinh quả bắt đầu phát triển và chín vào mùa hè cho đến mùa thu. Quá trình lớn của quả có đặc điểm rụng quả vào các thời kỳ sau tàn hoa từ 10 – 20 ngày, khi quả lớn và khi quả sắp được thu hoạch, đặc điểm này làm hạn chế đến năng suất quả khi thu hoạch, cần có biện pháp kỹ thuật thích hợp với từng loại cây ăn quả để khắc phục hiện tượng rụng quả.

Yêu cầu sinh thái của cây nhãn

Yêu cầu về khí hậu:

Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển là từ 21-27oC; mùa hoa nở cần nhiệt độ cao 25-31oC; Mùa Đông cần một thời gian nhiệt độ thấp để phân hóa mầm hoa.

Ánh sáng: Nhãn cần nhiều ánh sáng, thoáng. Ánh sáng chiếu được vào bên trong tán giúp cây phát triển và thường sai trái, ánh sáng còn giúp đậu trái, vỏ bóng và vị ngọt, ngon.

Tuy nhiên nhãn Bắc là cây ưa sáng nhưng lại sợ ánh sáng trực xạ còn nhãn Nam nếu bị rợp cây cho ít trái, chỉ những cành nhận đầy đủ ánh nắng mới cho trái tốt.

Lượng mưa thích hợp cho nhãn từ 1.300 đến 1.600 mm, nhãn là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng và rất nhạy cảm với việc ngập nước kéo dài. Ngược lại, nếu gặp khô hạn trong thời gian dài sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm, ra hoa và đậu trái khó khăn.

Trong thời kỳ nhãn nở hoa nếu gặp mưa thì hoa bị rụng và tỷ lệ đậu quả kém. Nhãn rất nhạy cảm với gió, những cơn gió xoáy mạnh làm rụng quả và gẫy cành.

Yêu cầu về đất đai đối với cây vải nhãn

Nhãn có tính thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất từ vùng nước ngọt quanh năm đến vùng nhiễm mặn.

Tuy nhiên, đất trồng nhãn thích hợp nhất là đất cát, cát pha, cát giồng, đất cồn và phù sa ven sông, đất có độ pH từ 5,5 – 6,5. Nhãn không thích hợp trên đất sét nặng.

Người ta thường trồng nhãn ở các vùng đất thấp, không trồng ở quá cao, ở vùng đồi nhất định phải tưới nước cho nhãn thì mới ra hoa đậu quả được.

Kỹ thuật trồng cây cây nhãn

a. Thời vụ trồng cây

Nên trồng nhãn vào khoảng thời gian đầu tháng tư đến giữa tháng năm, thời điểm này trong năm có mưa, cây sẽ mau lớn, tiết kiệm được công sức không phải tưới nước cho người trồng.

Nếu mưa quá to, ruộng bị ngập nước, cần tháo nước ngay tránh để rễ cây ngập úng, nhiều sâu bệnh hại ảnh hưởng đến phát triển của cây.

b. Khoảng cách trồng cây

Khoảng cách trồng nhãn thích hợp là 7m x9m. Một vài năm đầu tiên có thể trồng xen cacnh những cây ngắn ngày khi cây nhãn chưa giao tán.

c. Cách trồng cây

Đắp mô trồng nhãn: Trước khi trồng cây 20 ngày cần đắp mô với kích thước rộng 0,7m và chiều cao là 0,6m. Làm đất cho mô bằng cách lấy 10 kg phân chuồng hoai mục + tro bếp +0,5kg lân. Lượng phân bón được trộn đều với lớp đất mặt rồi cho vào hố.

Trồng nhãn giống

Bước 1: Dùng dao khoét lỗ một lỗ nhỏ trên cây vừa vặn với bầu cây con.

Bước 3: Rạch bỏ nilon tránh làm tổn thương cây

Kỹ thuật chăm sóc nhãn

Làm vệ sinh cỏ dại, xới tơi đất:

Diệt trừ cỏ dại tránh bị phân tán chất dinh dưỡng, sâu bệnh hại khó có chỗ cư trú. Xới tơi đất có tác dụng làm bộ rễ tăng khả năng chao đổi chất, rễ cứng cáp và phát triển hơn.

Tưới nước

Cần tưới một lượng nước định kì cho cây. 3 ngày tưới một lần. Nếu trời mưa thì không cần tưới thêm cho cây. Khi cây bị ngập nước do mưa to và dài ngày cần tháo nước nhanh chóng. Cây đủ nước sẽ phát triển thuậ lợi, nhanh ra hoa, kết trái. Cây bị ngập úng lâu rất dễ thối rễ và nhanh chết.

Bón phân cho cây

Cây cần nhiều đạm và kali để đạt được năng suất và chất lượng tốt nhất. Mỗi năm cần bón cho cây 4 lần theo định kì 3 tháng một lần. Tổng lượng phân các năm cần bón như sau: Năm đầu tiên cây cần 120g NPK + 150g lân +80g KCl. Năm thứ hai cây cần 150g NPK + 280g lân + 130g KCl. Khi cây bước sang năm thứ ba cần bón lượng phân nhiều hơn là 300g NPK+ 350g lân + 180g KCl.

Vào đầu mùa mưa mỗi năm cần bón thêm 10kg/cây.

Từ năm thứ tư đến năm thứ 6 cây cần tổng 0.9kg Urê + 1kg lân + 0.7kg KCl + 60g HAI-Chyoda cho mỗi năm.Trong những năm này, lượng phân bón mỗi năm cũng được chia làm bốn lần bón: Trước khi cây ra hoa cần bón 0.2kg Urê + 0.2kg lân+0.2kg KCl+20g HAI-Chyoda. Lần 2 là khi cây ra hoa và chuẩn bị đậu quả cần bón cho cây phân uree, KCL, HAI –Chyoda với liều lượng như lần 1. Lần 3 là khi quả đang bắt đầu lớn cần bón Urê và KCL lượng phân bón như lần 1. Lần 4 là sau khi thu hoạch khoảng 30 ngày cần bón 0.3kg Urê + 0.7kgg lân + 0.1g KCL + 20g HAI-Chyoda + 5kg phân hữu cơ hoai mục

Cách bón phân: Rải đều phân quanh các rãnh cây đã đào trước xung quanh cây nhãn rồi lấp đất cho phẳng.

Xử lý ra hoa nhãn

Cần bón phân với tỉ lệ lượng N:P:K là 1,25:1:1,5 mỗi cây 0,8 kg với cây từ bốn đến bảy tuổi. Đồng thời tỉa cành, tưới nước cho cây giúp cây ra hoa nhanh và đều.

Sử dụng phương pháp xiết cành giúp cho cây nhãn phân hóa và tạo mầm hoa

Sử dụng hóa chất Chlorate kali (KClO3) để kích thích cây ra hoa

Sâu bệnh hại cây và cách phòng trừ

Bệnh thối hoa: Khi hoa nở rộ sẽ xuất hiện những vết bằng đầu kim màu nâu, hoa sẽ khô lại và rụng. Biện pháp phòng trừ tỉa bớt lá, cành không cần thiết giúp cây có nhiều ánh sáng, giảm độ ẩm thì bệnh sẽ giảm. ĐỒng thời có thể phun thuốc Benomyl phòng bệnh cho cây trước khi cây ra hoa.

Bệnh cháy lá do nấm gây ra, dấu hiệu nhận biết cây bị bệnh này là trên lá xuất hiện các mảng cháy có màu nâu và nhiều đường vân nhạt, trên vết bệnh lâu dần sẽ thấy những hạt nhỏ li ti màu đen dần dần lá sẽ bị cháy khô và rụng. Biện pháp phòng trừ bệnh cháy lá là ngay sau mỗi lần thu hoạch cần cắt tỉa cành và đốt. Nếu bệnh quá nhiều cần phun thuốc gốc Mancozeb cho cây.

Bệnh phấn trắng: Biểu hiện của bệnh là gần cuống quả sẽ thấy xuất hiện nhiềm đốm màu trắng như phấn, lâu dần sẽ làm thối quả. Biện pháp phòng trừ là vệ sinh vườn cây sạch sẽ sau đó phun Topsin M cho cây. Cần phun thuốc trước khi cây ra hoa

Bệnh đốm mốc: Trên lá nhãn xuất hiện những đốm mốc màu xanh, màu xám hoặc các vết lấm tấm màu đen.

Bệnh chùn ngọn: Lá, chồi non và hoa không lớn được và mọc chụm lại làm giảm khả năng đậu quả. Cần phải vệ sinh vườn trồng sạch sẽ, cắt bỏ các lá, chồi bị bệnh.

Bệnh đấm rong: Trên lá xuất hiện những vết bệnh hình trong, màu vàng khi bị nhẹ, lâu dần sẽ chuyển sang màu nâu làm cho lá rụng sớm. Biện pháp phòng trừ bằng cách phun thuốc gốc đồng Copper zinc cho cây.

Bệnh thối rỉ: Rễ xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu làm cho thân cây, rễ bị thối đen, cây bị bệnh nặng sẽ bị chết khô. Biện pháp phòng trừ dùng thuốc gốc Metnlnxyl hay Ridomyl Gold tưới vào gốc cho cây, rắc vôi vào mùa nắng.

Dơi hại nhãn: Dơi ăn rất nhiều nhãn để phòng trừ dơi rất khó khăn chỉ có thể bó từng chùm nhãn trong các tấm lưới che và thắp điện sáng hằng đêm

Công dụng của quả Nhãn

Tăng cường vitamin C

Theo Live Strong, những người có chế độ ăn giàu vitamin C ít có khả năng bị cao huyết áp, bệnh tim và một số loại ung thư. Nhãn là trái cây giàu vitamin C. Trong 100 g nhãn có chứa 84 mg dưỡng chất này, cung cấp 93% lượng vitamin C khuyến cáo hàng ngày cho nam giới và 100% nhu cầu của nữ giới.

Vitamin C trong nhãn còn hữu ích trong việc chống cảm cúm, tăng cường hệ miễn dịch.

Tăng cường xương khớp

Một nghiên cứu năm 2013 cho thấy phụ nữ mãn kinh có nồng độ thấp các khoáng chất như đồng, dễ bị loãng xương khi về già. Theo khuyến cáo, người lớn nên tiêu thụ 900 mg đồng mỗi ngày. 100 g nhãn tươi sẽ cung cấp 19%, trong khi 100 g nhãn khô chứa tới 807 mg đồng, cung cấp 90% lượng đồng người lớn nên nạp vào cơ thể mỗi ngày.

Giàu sắt

Những người ăn chay và ăn kiêng có khả năng bị thiếu sắt hơn những người ăn thịt. Đó là do sắt trong thức ăn thực vật không được hấp thụ dễ dàng như sắt ở các sản phẩm động vật. Phụ nữ mang thai, vận động viên và nữ giới tuổi vị thành niên cũng cần nhiều sắt hơn những nhóm khác.

Vì vậy, ăn nhãn có thể giúp tăng lượng chất sắt cho cơ thể hiệu quả, với mỗi phần 100 g nhãn khô chứa khoẳng 5 mg, tương đương 62% nhu cầu sắt hàng ngày cho nam giới và 28% cho nữ giới.

Ngăn ngừa các vấn đề về mắt

Riboflavin là loại vitamin quan trọng trong nhóm vitamin B. Nam giới cần 1,3 mg riboflavin mỗi ngày, và nữ giới cần 1,1 mg. Theo một nghiên cứu năm 2005, không hấp thụ đầy đủ ribofalvin có thể làm tăng nguy cơ rối loạn về mắt, đặc biệt là đục thủy tinh thể. 100 g nhãn tươi cung cấp 0,14 mg riboflavin, trong khi 100 g nhãn khô cung cấp 0,5 mg.

Giảm căng thẳng, trầm cảm

Nhãn có tác dụng kích thích lá lách và tim mạch hoạt động hiệu quả, làm trẻ hóa quá trình lưu thông máu, cung cấp hiệu ứng làm dịu hệ thần kinh, giảm căng thẳng, mệt mỏi. Chúng cũng giúp điều trị chứng suy nhược thần kinh, mất ngủ và trầm cảm.

Ứng dụng cây trong trang trí cây nhãn

Nhãn là cây bóng mát xanh quanh năm đem đến không gian trong lành, giúp điều hòa không khí, cải thiện môi trường sống thích hợp trồng nhiều không gian khu công nghiệp, công sở, quán cà phê…

Quả nhãn có giá trị dinh dưỡng cao, là món ăn tráng miệng được ưa thích, theo nghiên cứu khoa học quả nhãn tốt cho thần kinh, làm đẹp da, tăng cường tuần hoàn máu, giúp tăng tuổi thọ

Hoa nhãn là nguồn mật ong tốt.

Người ta tách cùi nhãn phơi khô gọi là long nhãn nhục – Arillus longanae màu nâu đen hoặc nâu được dùng nhiều trong thực phẩm làm chè, mứt… và là vị thuốc đông ý chữa nhiều bệnh: thần kinh kém, suy nhược, khó ngủ, hay quên, hay hoảng hốt…

Hạt nhãn được dùng để gội đầu hoặc chữa các bệnh chốc lở, ghẻ ngứa, đứt chân tay…

Kết

Tổng hợp từ: chúng tôi

Giáo trình nghề trồng vải, nhãn – Bộ NN&PT NT

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Xoài Keo Ngon Ngọt / 2023

Giống xoài lạ này khi ăn xanh có độ giòn, ăn chín cho vị ngọt thơm hấp dẫn. Xoài keo đã trở thành loại xoài được nhắc đến rất nhiều được dân Sài Gòn đặc biệt ưa thích.

Cứ mỗi khi tới mùa, bạn sẽ thấy trên các nẻo đường Sài Gòn được nhuộm màu vàng ruộm của những quả xoài keo chấm muối ớt ngon bá cháy. Đây là món ăn cực hút khách ở Sài Gòn ai ăn một lần đều muốn tìm mua lần sau vì không quên được hương vị chua dịu của giống xoài keo. 

Mọi thông tin về xoài keo vui lòng liên hệ 08 6662 3663  để được tư vấn tốt nhất

Đặc điểm của giống xoài keo

Xoài keo là giống xoài được nhập khẩu từ Campuchia. Hiện nay chúng được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam. Từ khi xuất hiện chúng đánh bật hầu hết các loại xoài khác vì độ thơm ngon cả khi xanh lẫn khi chín.

Xoài keo cho quả to tròn ở giữa và thuôn dài về hai đầu. Qủa cho vỏ mỏng và xanh tuy nhiên bên trong ruột đã vàng óng. Nếu như những giống xoài khác khi xanh ăn sẽ rất chua chỉ ngon và ngọt khi chín thì xoài keo được cho là có cả 2 ưu điểm trên. Khi còn xanh quả ăn chua nhẹ và giòn còn khi chín xoài keo lại ngọt và thơm. Chính vì ưu điểm này xoài keo được cả hai miền Nam Bắc ưa thích. Người Hà Nội thường ăn chín nhiều hơn trong khi đó người Sài Gòn lại mêm mẩn món xoài xanh chấm muối ớt.

Cách trồng cây xoài keo 

Theo nhiều nhà vườn trồng xoài keo và các kỹ sư các giống xoài thì giống này trồng không khó, chăm sóc cũng không quá cầu kì chỉ cần đúng kĩ thuật là sẽ cho ra quả to và đẹp. ( Lưu ý Kỹ thuật trồng và chăm sóc xoài keo vui lòng liên hệ 08 6662 3663 để được tư vấn miễn phí từ kỹ sư Nông nghiệp có nhiều năm kinh nghiệp)

Xoài keo khi chín thơm, ngon ngọt

Tiêu chuẩn đất trồng cây xoài keo

Xoài keo không kén đất và chịu ngập úng tốt. Bạn có thể trồng xoài ở nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa, đất thịt màu mỡ và kể cả vùng ven biển nhiễm mặn.

Tuy nhiên đất trồng cần thoát nước tốt và tơi xốp và có tầng đất dày ít nhất 2m. và độ pH khoảng từ 5,5-7.

Tiêu chuẩn chọn giống xoài keo :

Cây xoài keo được trồng bằng 2 phương pháp chính đó là trồng từ hạt và trồng bằng phương pháp ghép.

Cây giống xoài keo liên hệ ngay 08 6662 3663  tư vấn từ kỹ sư Nông Nghiệp với 5 năm kinh nghiệm

Trồng bằng hạt: Phương pháp này tuy dễ trồng và nhưng chỉ phù hợp với với mô hình trồng nhỏ. Hơn nữa phương pháp gieo hạt cây chậm cho ra trái.

Trồng bằng phương pháp ghép: Đây là phương pháp trồng hiện đại và phù hợp với quy mô lớn. Đặc biệt phương pháp này giữ được 100% gen từ cây mẹ sang cây con giống nên cho chất lượng rất cao. Để tiến hành ghép bạn chọn ra cây mẹ khỏe mạnh cho thu hoạch đều và cao. Chọn ra cành tốt nhất để ghép. Sau khi cây con ra rễ bạn tách cành ghép rồi trồng trong những bầu đất nhỏ. Sau 1 tháng cây con giống đã sẵn sàng trồng ở nơi ở mới.

Thời Vụ và Mật Độ Trồng xoài keo tốt nhất

Theo như kinh nghiệm trồng xoài keo thành công của nhiều nhà vườn. Cây xoài keo thích hợp nhất khi bạn trồng vào mùa mưa. Do thời tiết có mưa nhiều nên mất ít công chăm sóc và cho sinh trưởng tốt hơn.

XOài keo giống xoài đặc sản của campuchia

Do giống xoài keo có thân cao và tán rộng nên bạn cần trồng tối thiểu khoảng cách 5m cho mỗi cây.

Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Trước khi trông bạn cần xử lý đất và đào hố trước. Kích thước hố vào khoảng 50x50x50cm. Mỗi hố bạn tiến hành trộn phân bón lót với 10kg phân chuồng hoai mục cùng với 1kg vôi bột và 1kg phân Super Lân. Sau khi trộn xong bạn tiến hành lấp đất lại xuống hố và để 1 tháng sau đó mới trồng.

Kĩ thuật trồng cây xoài keo:

Sau khi đã chuẩn bị đất kĩ càng cùng với chuẩn bị cây con giống. Bạn tiến hành đào một hố nhỏ ở chính giữa mỗi bầu đất của cây giống. Tiếp theo nhẹ nhàng đặt cây giống vào bên trong và cố định cây cho thật ngay ngắn. Bạn có thể cắm cọc cố định cây giống lại để tránh gió làm đổ ngã cây. Sau đó bạn tiến hành duy trì việc tưới nước trong 1 tuần đầu tiên để giúp cây mau bén rễ và phát triển xanh tốt trở lại.

Tưới nước cho xoài keo tốt nhất

Hầu hết các giống xoài đều ưa ẩm nên điều quan trọng là bạn cần phải tưới đủ nước trong từng giai đoạn để cây phát triển tốt nhất. Nguồn nước tưới cần sạch và không bị nhiễm kim loại nặng. Vào mùa khô cần tăng lượng nước tưới. Mùa mưa cần thoát nước tốt cho cây.

Kỹ thuật Cắt tỉa cành lá để xoài keo phát triển hơn

Để cho cây xoài keo phát triển tốt cho nhiều trái to và đẹp bạn cần định kì cắt tỉa và tạo tán cho cây. Khi cây đạt chiều cao 1m trở lên bạn có thể tỉa ngọn để tạo cành cấp 1. Với 1 cành chính khi cắt đi sẽ mọc 2 cành nhánh. Cứ thế khi cành cấp 1 phát triển tốt bạn tiến hành cắt tỉa tiếp cành cấp 2-3. Một cây chỉ cần để khoảng 3-4 cành cấp 1 là đẹp. Chú ý tỉa thưa giúp cành thông thoáng hơn và quả sau này nhận được nhiều ánh sáng hơn.

Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Xoài Tím:

Để cho cây cho chất lượng quả tốt bạn cần bón phân định kì cho cây. Năm đầu tiên 2 tháng/lần bạn tiến hành bón khoảng 200gram phân NPK/gốc/lần. Ở giai đoạn trưởng thành bạn tiến hành tăng lượng phân bón hàng năm lên 15%. Chú ý thời điểm cây ra hoa đậu quả và sau thu hoạch cần bón tăng liều lượng phân.

Phòng trừ sâu bệnh hại cho cây:

Theo nhiều nhà vườn cây xoài keo trồng ít bị sâu bệnh như những giống xoài khác. Để cây phát triển tốt nhất bạn nên tiến hành làm sạch cỏ dại và xới xáo đất thường xuyên. Có thể trồng thêm những cây ngắn ngày để hạn chế cỏ dại mọc đồng thời cung cấp nguồn dưỡng chất cho đất. Một số loại sâu bênh hại nên phòng tránh là ruồi đục quả. Nhện đỏ, sâu cuốn lá vv. Bạn có thể phòng tránh bằng cách phun những chế phẩm sinh học bảo vệ cây và sử dụng biện pháp bao quả xoài bằng túi nilon có lỗ thoáng bên dưới.

Trồng xoài keo diện tích lớn cần tìm hiểu kỹ về kỹ thuật và các đặc tính của xoài keo

Thu hoạch cây xoài keo

Từ khi trồng đến lúc cho thu hoạch xoài keo khoảng 18 tháng. Khi chín vỏ xoài sẽ chuyển sang màu vàng sáng kích thước quả to và có mùi thơm. Tuy nhiên khi thấy kích thước xoài đạt tiêu chuẩn chưa cần chín bạn vẫn có thể thu hoạch được vì xoài keo ăn được cả khi còn xanh. Tranh thủ thu hoạch lúc trời còn nắng ráo và bảo quản quả nhẹ nhàng ở nơi thoáng mát.

Mọi thông tin về giống cây ăn quả xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí về cách trồng và chăm sóc tốt nhất. Với đội ngũ kỹ sư trẻ tuổi đời nhưng nhiều năm kinh nghiệm và làm việc với nhiệt huyết tuổi trẻ, chúng tôi hi vọng mang đồng hành cùng những người làm vườn, người trồng cây.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kỹ Thuật Làm Cỏ, Xới Đất Và Vun Gốc Cây Ớt / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!