Đề Xuất 1/2023 # Khám Phá Cấu Tạo Và Chức Năng Ruột Non # Top 5 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 1/2023 # Khám Phá Cấu Tạo Và Chức Năng Ruột Non # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khám Phá Cấu Tạo Và Chức Năng Ruột Non mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ruột non có ba vùng riêng biệt: tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng.

Tá tràng ngắn nhất, là nơi chuẩn bị cho sự hấp thu các chất dinh dưỡng thông qua các phần nhô ra giống như ngón tay nhỏ ở niêm mạc. Hỗng tràng chuyên biệt cho sự hấp thụ qua lớp lót bởi các tế bào ruột, các chất dinh dưỡng nhỏ đã được tiêu hóa trước đó bởi các enzyme trong tá tràng. Chức năng chính của hồi tràng là hấp thụ vitamin B12, muối mật và bất kỳ sản phẩm nào của quá trình tiêu hóa không được tá tràng hấp thụ

1.1. Kích thước

Chiều dài của ruột non có thể thay đổi rất nhiều, từ 3 mét đến dài 10 mét, tùy thuộc vào kỹ thuật đo được sử dụng. Điển hình ở một người sống là dài 3 – 5m. Chiều dài ruột non phụ thuộc cả vào chiều cao của người đó và chiều dài được đo. Những người cao hơn thường có ruột non dài hơn và các phép đo thường dài hơn sau khi chết và khi ruột trống

Nó có đường kính xấp xỉ 1,5 cm ở trẻ sơ sinh sau 35 tuần tuổi thai, và đường kính 2,5 – 3 cm ở người lớn. Trên X-quang bụng, ruột non được coi là giãn bất thường khi đường kính vượt quá 3 cm. Trên CT scan, đường kính trên 2,5 cm được coi là giãn bất thường. Đường kính ruột non trên CT scan ở người lớn:

Diện tích bề mặt của niêm mạc ruột non do sự mở rộng bởi các nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao, trung bình khoảng 30m 2.

1.2. Các bộ phận

Ruột non được chia thành ba phần cấu trúc.

Là một cấu trúc ngắn, dài từ 20 cm đến 25 cm và có hình chữ “C”. Nó bao quanh đầu tụy. Nó nhận được các enzym tiêu hóa từ dạ dày, cùng với dịch tụy từ tuyến tụy và dịch mật từ gan. Các enzyme tiêu hóa phân hủy protein và mật nhũ hóa chất béo thành các nhũ dịch. Tá tràng chứa các tuyến của Brunner tiết dịch có tính kiềm, giàu chất nhầy có chứa bicarbonate. Những chất tiết này, kết hợp với bicarbonate từ tuyến tụy, trung hòa các axit dạ dày có trong enzym dạ dày.

Là phần giữa của ruột non, nối tá tràng với hồi tràng. Nó dài khoảng 2,5 m. Sản phẩm tiêu hóa (đường, axit amin và axit béo) được hấp thụ vào máu ở đây.

Phần cuối cùng của ruột non. Nó dài khoảng 3 m và chứa các nhung mao tương tự như hỗng tràng. Nó hấp thụ chủ yếu vitamin B12 và axit mật, cũng như bất kỳ chất dinh dưỡng nào còn lại.

Ruột non nhận được nguồn cung cấp máu từ động mạch thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên. Đây là cả hai nhánh của động mạch chủ.

Tá tràng nhận máu từ động mạc thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên. Hỗng tràng và hồi tràng nhận máu từ động mạch mạc treo tràng trên.

Thức ăn từ dạ dày đi vào tá tràng thông qua môn vị bởi một cơ gọi là cơ thắt môn vị.

Ruột non là nơi diễn ra hầu hết quá trình tiêu hóa.

Ba nhóm chất dinh dưỡng chính trải qua quá trình tiêu hóa là protein, lipid (chất béo) và carbohydrate:

Chúng bị phân giải thành các peptide và axit amin nhỏ trước khi hấp thụ. Sự phân hủy hóa học bắt đầu trong dạ dày và tiếp tục ở ruột non. Enzyme proteolytic, bao gồm trypsin và chymotrypsin, được tiết ra bởi tuyến tụy và chúng sẽ tách protein thành các peptide nhỏ hơn. Aminopeptidase và dipeptidase giải phóng các sản phẩm axit amin cuối cùng.

Chúng bị phân giải thành axit béo và glycerol. Lipase tụy phá vỡ chất béo thành axit béo tự do và monoglyceride. Lipase tụy hoạt động với sự trợ giúp của muối mật do gan tiết ra và được lưu trữ trong túi mật. Muối mật gắn vào triglyceride để giúp nhũ hóa chúng, giúp chúng tiếp cận với lipase tụy. Điều này xảy ra vì lipase tan trong nước nhưng chất béo là chất kỵ nước và có xu hướng hướng về nhau và cách xa môi trường nước ở ruột. Các muối mật nhũ hóa các chất béo trong môi trường nước cho đến khi lipase có thể phá vỡ chúng thành các thành phần nhỏ hơn, giúp chúng có khả năng xâm nhập vào nhung mao để hấp thụ.

Một số carbohydrate được phân giải thành các loại đường đơn giản, hoặc monosacarit (ví dụ: glucose). Amylase tụy phá vỡ một số carbohydrate (đáng chú ý là tinh bột) thành oligosacarit. Các carbohydrate khác vào ruột già và được xử lý thêm bởi vi khuẩn đường ruột. Enzyme ở bờ bàn chải quan trọng nhất là dextrinase và glucoamylase, tiếp tục phá vỡ oligosacarit. Các enzyme ở bờ bàn chải khác là maltase, sucrase và lactase. Lactase không có ở một số người trưởng thành và đối với họ, đường sữa cũng như hầu hết các polysacarit, không được tiêu hóa ở ruột non.

Một số carbohydrate, chẳng hạn như cellulose, hoàn toàn không được tiêu hóa, mặc dù được tạo thành từ nhiều đơn vị glucose. Điều này là do cellulose được tạo ra từ beta-glucose, làm cho các liên kết giữa các monosacaridal khác với các chất có trong tinh bột, là alpha-glucose. Con người thiếu enzyme phân tách liên kết beta-glucose, loại dành riêng cho động vật ăn cỏ và vi khuẩn từ ruột già.

Thực phẩm tiêu hóa bây giờ có thể đi vào các mạch máu trong thành ruột thông qua sự khuếch tán hoặc vận chuyển tích cực. Ruột non là nơi mà hầu hết các chất dinh dưỡng từ thức ăn được hấp thụ. Niêm mạc của ruột non, được lót bằng biểu mô cột đơn giản. Về mặt cấu trúc, niêm mạc được bao phủ trong các nếp gấp. Các tế bào biểu mô riêng lẻ cũng có các tế bào giống như ngón tay được gọi là vi nhung mao. Chức năng của nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao là làm tăng diện tích bề mặt có sẵn để hấp thụ chất dinh dưỡng và hạn chế mất chất dinh dưỡng ở đường ruột.

Các tế bào biểu mô của nhung mao vận chuyển các chất dinh dưỡng từ lòng ruột vào các mao mạch: axit amin, carbohydrate và lipid. Các chất được hấp thụ được vận chuyển qua các mạch máu đến các cơ quan khác nhau của cơ thể. Đây là nơi chúng được sử dụng để xây dựng các chất phức tạp như protein cần thiết cho cơ thể chúng ta.

Sự hấp thụ của phần lớn các chất dinh dưỡng diễn ra trong hỗng tràng, trừ các ngoại lệ đáng chú ý sau:

Sắt được hấp thụ trong tá tràng.

Folate (Vitamin B9) được hấp thu ở tá tràng và hỗng tràng.

Vitamin B12 và muối mật được hấp thu ở hồi tràng.

Nước được hấp thụ bởi thẩm thấu và lipid được hấp thụ bằng cách khuếch tán thụ động khắp ruột non.

Natri bicarbonate được hấp thụ bởi vận chuyển tích cực và đồng vận chuyển cùng glucose và axit amin

Fructose được hấp thụ bằng khuếch tán.

4. Các bệnh lý của ruột non

Viêm ruột non: Nhiễm trùng (từ virus, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng) là nguyên nhân phổ biến.

Ung thư ruột non: Hiếm khi, ung thư có thể ảnh hưởng đến ruột non

Bệnh celiac: Dị ứng với gluten (một loại protein trong hầu hết các loại bánh mì) khiến ruột non không hấp thụ được chất dinh dưỡng đúng cách. Đau bụng và sụt cân là các triệu chứng thường gặp.

Khối u carcinoid: là tình trạng tăng trưởng lành tính hoặc ác tính ở ruột non. Tiêu chảy và đỏ da là triệu chứng phổ biến nhất.

Tắc ruột: Một phần của ruột có thể bị tắc nghẽn hoặc xoắn.Đau bụng, táo bón và nôn là những triệu chứng thường gặp.

Hội chứng ruột kích thích (IBS): Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn đường ruột gây đau bụng hoặc khó chịu, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón.

Ruột Non Là Gì? Dài Bao Nhiêu? Cấu Tạo Và Chức Năng

Ruột non là bộ phận thuộc đường tiêu hóa nằm giữa tá tràng và đại tràng. Ruột non thường có chiều dài trung bình từ 3,6 – 6 m ở người lớn, đây được xem là cơ quan dài nhất trong cơ thể con người. Tổng diện tích bề mặt bên trong của ruột non đạt tới 400-500 m vuông nhờ vào lớp niêm mạc ruột có các nếp gấp với các lông ruột và lông cực nhỏ. Ruột non có các mạch máu, mao mạch bạch huyết phân bố dày đặc tới từng lông ruột.

Ruột non gồm có 3 phần: Tá tràng – Là đoạn cong, ngắn, cố định thành sau bụng; Hỗng tràng và hồi tràng – Là hai đoạn cuốn vòng tương đối lớn. Tất cả đều là các bộ phận tiêu hóa, hấp thu thức ăn, ống mật và ống tụy đều thông ở tá tràng.

Tiếp theo, ruột non gồm 4 lớp cơ bản đó là: Màng bọc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc, lớp niêm mạc, trong đó lớp cơ được phân làm cơ dọc và cơ vòng.

Ruột non là nơi hoàn tất quá trình tiêu hóa thức ăn và nơi quan trọng có nhiệm vụ hấp thu chọn lọc các sản phẩm tiêu hóa vào máu và bạch huyết. Ở ruột non có 3 loại dịch tham gia tiêu hóa thức ăn đó là:

+ Dịch tụy: Được hình thành và bài tiết từ mô tụy ngoại tiết hay còn gọi là mô acini, chảy qua ống Wirsung, ống này nối với ống mật chủ và đổ vào phần tá tràng qua cơ vòng Oddi.

+ Mật: Mật được hình thành ở gan và dự trữ trong túi mật, khi bài xuất sẽ đi theo ống mật chủ đổ vào phần tá tràng qua cơ vòng Oddi.

+ Dịch ruột: Chúng được hình thành và bài tiết từ các tế bào nhầy, tuyến Brüner và hang Lieberkühn của ruột và bị ức chế với thần kinh giao cảm.

Niêm mạc ruột non có công dụng tham gia vào các hoạt động hấp thu: Biểu mô phủ của ruột non có những nếp gấp gọi là nhung mao. Các tế bào biểu mô hình trụ có bờ là những vi nhung mao hướng vào lòng ruột và bờ đáy tiếp xúc với mạch máu.

→ Có thể bạn đang muốn biết: Tá tràng là gì, nằm ở đâu, chức năng của tá tràng

2. Một số chứng bệnh thường gặp ở ruột non và hệ tiêu hóa

– Viêm Túi Thừa Meckel: Chứng bệnh này có triệu chứng hơi giống với bệnh viêm ruột thừa cấp tính và tắc ruột cấp tính. Người bệnh sẽ bị đau đớn kiểu ổ loét ở vị trí gần rốn hoặc thấp hơn. Các cơn đau không thể giảm đi khi vẫn tiếp tục thu nhận thức ăn hoặc các chất kiềm. Bệnh nặng có thể gây chảy máu khi đi đại tiện, xuất huyết dạ dày và thủng ruột rất nguy hiểm.

– Tắt Ruột Non Thực Thể Cấp Tính: Chứng bệnh này thường hay xảy ra ở ruột non, đặc biệt là hồi tràng, khi mắc bệnh sẽ có những triệu chứng như đau bụng thành từng cơn ở xung quanh rốn, các cơn đau ngày càng lan rộng và nặng hơn, kèm theo đó là nôn mửa, táo bón thường xuyên, sôi bụng, chướng bụng, khó tiêu, mệt mỏi, đổ mồ hôi, cơ thể suy nhược.

Bệnh tắc ruột nếu để lâu có thể dẫn đến thủng, viêm màng bụng, viêm nhiễm khuẩn huyết khiến cho sức khỏe suy giảm trầm trọng, gây ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt và công việc hàng ngày.

– Trào ngược axit : Trào ngược axit là bệnh mà ở đó thức ăn hoặc chất lỏng di chuyển từ dạ dày vào thực quản do cơ vòng thực quản dưới không kín. Những triệu chứng cụ thể của bệnh đó là ợ nóng, ợ chua, khó nuốt, bệnh nặng có thể dẫn đến viêm loét, gây tổn thương ở răng và thực quản.

– Hội chứng kích thích ruột: Chứng bệnh này thường hay gặp ở nữ giới, khi mắc bệnh thường có triệu chứng đau bụng, táo bón, tiêu chảy. Để điều trị hội chứng kích thích ruột hiệu quả người bệnh nên chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt hàng ngày, cụ thể như: Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn nhiều chất xơ, tập thể dục thường xuyên, tuyệt đối không uống rượu bia, hút thuốc lá, cà phê.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Già

Ruột già hay đại tràng là phần áp cuối trong hệ tiêu hóa – chặng cuối cùng của ống tiêu hóa là hậu môn. Ruột già có độ dài trung bình khoảng 1,5m, tuy nhiên có người lại có ruột già dài tới 1,9m. Có sự chênh lệch này là bởi vào giới tính và cơ địa của từng người không giống nhau. Ruột già ngắn hơn ruột non 4 lần nhưng tiết diện lại lớn hơn ruột non.

Cấu tạo của ruột già chia ra làm 3 phần chính: manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ruột non thông với ruột già tại ranh giới giữa manh tràng và kết tràng. Giữa ruột non và ruột già có van hồi – manh giữ không cho các chất ở ruột già rơi ngược trở lại ruột non.

Manh tràng

Manh tràng có hình dạng giống như một cái túi tròn và nằm ngay phía dưới khu vực hỗng tràng đổ vào ruột già ,dài 6 – 7cm và đường kính khoảng 7cm. Phía đầu manh tràng bịt kín có một đoạn ngắn hình giun gọi là ruột thừa có hình dạng như ngón tay với chiều dài trung bình ở người lớn khoảng 9 cm và đường kính 0,5-1 cm.

Ruột thừa xuất phát từ bờ trong của manh tràng, nơi gặp nhau của ba dải cơ dọc. Ruột thừa hướng xuống dưới, lòng ruột thừa thông với lòng manh tràng bằng một lỗ là lỗ ruột thừa. Ruột thừa có thể có hoặc không là 3 cơ dọc ở manh trang hợp thành là (cơ tự do, cơ dọc sau ngoài và sau trong).

Kết tràng

Đây là bộ phận chính của ruột già, được chia làm 4 phần: kết tràng lên, kết tràng ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma. Kết tràng đi từ manh tràng đi lên dọc theo bên phải ổ bụng cho đến khi gặp gan chỗ gặp gỡ nó uốn cong gọi là góc phải góc gan. Sau đó nó trở thành kết tràng ngang, đi ngang qua ổ bụng. Khi đến gần lách ở bên trái, kết tràng quay xuống để tạo thành kết tràng xuống chỗ uốn cong gọi là góc trái hay góc tụy. Nó đi vào khung chậu nó có hình chữ S tạo thành kết tràng xích ma.

Trực tràng

Sau khi uốn cong 2 lần, kết tràng xích ma nối tiếp với trực tràng, là một ống thẳng, dài khoảng 15 cm và kết thúc ở hậu môn mở ra ngoài cơ thể. Hoạt động đóng mở của hậu môn trực tràng được kiểm soát nằm sau bàng quang ở nam và sau tử cung ở nữ.

Ruột già cơ bản gồm 5 lớp thứ tự từ trong ra ngoài là: Lớp niêm mạc. Lớp dưới niêm mạc. Lớp cơ gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài. Lớp dưới thanh mạc. Lớp thanh mạc.

Dịch ruột già

Mạch máu ruột già

Dựa vào phôi thai và mạch máu người ta chia ruột già làm hai phần phải và trái mà ranh giới là chỗ nối 1/3 phải và 1/3 giữa kết tràng ngang:

Mạch máu kết tràng phải: Động mạch nuôi dưỡng kết tràng phải gồm những nhánh bên của động mạch mạc treo tràng trên là động mạch kết tràng giữa, động mạch kết tràng phải và động mạch hồi kết tràng.

Mạch máu kết tràng trái: Động mạch nuôi dưỡng kết tràng trái phát sinh từ động mạch mạc treo tràng dưới. Ðộng mạch mạc treo tràng dưới là nhánh của động mạch chủ bụng, chạy trong hai lá của mạc dính kết tràng trái và mạc treo kết tràng sigma, tận cùng bằng động mạch trực tràng trên.

Trên đường đi, động mạch mạc treo tràng dưới cho các nhánh bên là động mạch kết tràng trái nối với động mạch kết tràng giữa và các động mạch kết tràng sigma.

Ngoài ra, trực tràng và ống hậu môn còn nhận máu từ động mạch trực tràng giữa và dưới, xuất phát từ động mạch chậu trong.

Chức năng của dịch ruột già

Trong bộ phận tiêu hóa, ruột già không có enzyme tiêu hóa mà chứa chất nhầy có tính kiềm giúp làm trơn thành ruột khiến phân được di chuyển dễ dàng hơn. Chất nhầy còn có tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột già, chúng sẽ được tiết ra nhiều hơn khi bị viêm ruột già hoặc ruột già bị những tổn thương khác.

Hấp thu các chất dinh dưỡng và tạo ra một số chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể

Cơ quan có chức năng chính hấp thu chất dinh dưỡng là ruột non, không phải ruột già. Nhưng có một số chất sẽ phải đợi đến khi đi xuống ruột già thì mới có thể được chuyển hóa thành chất dinh dưỡng được. Hoạt động tiêu hóa ở đại tràng được thực hiện bằng 3 cơ vòng và 3 cơ dọc, tương tự như tại ruột non.

Trong ruột già có rất nhiều loại vi khuẩn như escherichia coli, enterobacter aerogenes, bacteroides fragilis,… Các loại vi khuẩn này sử dụng một số chất như vitamin B12, C và cholin để làm chất dinh dưỡng nhưng đồng thời tổng hợp một số dưỡng cần thiết khác cho cơ thể như vitamin B, B1, B6, K, axit folic,… Chức năng này là chức năng quan trọng nhất của ruột già.

Trong trường hợp các axit amin còn sót lại mà không làm hết nhiệm vụ tạo ra NH3, histamin, triramin thì chính các vi khuẩn trong ruột già sẽ đảm nhiệm vai trò này. Hấp thu các chất cần thiết mà ruột non làm sót lại

Đa phần chất dinh dưỡng khi tới xuống ruột già đã được hấp thu gần hết, tuy nhiên nhờ sự hỗ trợ của bộ phận này, triệt để các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể:

Hấp thu nước: 1 lít nước từ ruột non được chuyển xuống ruột già và sau đó hấp thụ, khi thải ra ngoài môi trường theo đường phân hoặc nước tiểu thì chúng chỉ còn lại khoảng 100-200ml. Khi hấp thụ nước, nguyên tố Na+ cũng được hấp thụ theo để giúp cân bằng áp suất thẩm thấu. Phân ở lại càng lâu trong ruột già thì sự hấp thu nước càng tăng lên. Chính vì thế mà chúng ta thường bị táo bón khi nhịn đi cầu.

Hấp thu thuốc: Một số loại thuốc như an thần, hạ nhiệt, giảm đau,.. có thể được hấp thụ tại ruột già. Vì vậy, nhiều trường hợp bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em được chỉ định đưa thuốc từ đường này để chữa bệnh dưới dạng thuốc đạn.

Hấp thu muối: Đây là một trong những nguyên tố cần thiết cho cơ thể, được hấp thụ ở đoạn đầu ruột già.

Hấp thu NH3: Một số vi khuẩn trong ruột già sẽ hấp thu NH3 vào máu. Để tránh lượng NH3 được hấp thu quá lớn gây hôn mê gan thi nên tránh táo bón và viêm đại tràng, vì táo bón và viêm đại tràng là hai nguyên nhân khiến lượng NH3 được hấp thu nhiều. Thụt rửa đại tràng và dùng thuốc kháng sinh dành cho đường ruột là một lựa chọn phù hợp để điều trị những trường hợp này.

Chức năng bài tiết phân của ruột già

Hậu môn được cấu tạo bởi hai cơ thắt: Cơ thắt trong chính là cơ trơn, được điều khiển bởi hệ thần kinh trung ương. Cơ thắt ngoài chính là cơ vân, chịu sự điều khiển của vỏ não. Được thực hiện theo quy trình như sau:

Khi các phần phía trước ruột già thực hiện chức năng co bóp để đẩy phân xuống trực tràng sẽ làm căng trực tràng khiến trực tràng co bóp tác động đến cơ thắt và mở cơ thắt trong làm kích thích việc đi đại tiện. Lúc này khi chưa đủ các điều kiện thuận tiện để thực hiện động tác đại tiện, đẩy phân dịch chuyển ngược lại lên phía trên trực tràng, trừ khi phân lỏng thì quá trình này hầu như là không thể diễn ra, vì chỉ cần sự co bóp của trực tràng cũng đủ để tống phân ra ngoài.

Sau khi phân đã được tạo hình và đảm bảo được độ mềm cần thiết, cũng như đủ lượng thì sẽ được bài tiết. Lúc này, các chất thải rắn của cơ thể chúng ta lại được hấp thụ một lần cuối cùng ở trực tràng – đoạn cuối cùng của đại tràng (dài tầm vài cm) nối với ống hậu môn. Trong ruột già có một khối ruột dài khoảng 20cm, có khả năng thực hiện các thao tác co bóp để có thể ép chất thải và đẩy ra ngoài cơ thể. Thông thường thì hoạt động co bóp này sẽ mất xuất hiện 2 lần mỗi ngày, mỗi lần từ 10 phút đến 1h đồng hồ. Khi đại tràng co bóp, chúng ta sẽ cảm thấy đau bụng và muốn đi vệ sinh. Chất nhầy trong đại tràng không chỉ có chức năng làm mềm, kết dính chất thải mà còn có thể tạo một lớp màng ở thành cơ quan này để tránh trầy xước và giảm đi tác hại của các loại vi khuẩn.

Nếu có đầy đủ các điều kiện, thuận tiện cho việc đại tiện tốt, vỏ não chủ động thực hiện động tác rặn đẩy phân ra ngoài. Trung tâm thần kinh đảm nhiệm chức năng phản xạ đại tiện nằm ở các đốt tụy cuối cùng từ S2 đến S4. Nhịn đại tiện lâu ngày có thể làm giảm gây bệnh táo bón.

Thực chất, phân của chúng ta có khối lượng khoảng 100 – 200g/ ngày, chúng chứa khoảng 75% nước, một số ít acid béo, protein không hòa tan, muối khoáng, sắc tố mật, các chất xơ không thể tiêu hóa có trong thức ăn, các loại vi khuẩn và cả những tế bào biểu mô của ruột bị bong ra cũng bị lẫn trong phân đi ra ngoài cơ thể. Chính vì có chứa nhiều vi khuẩn, do đó sau khi đi đại tiện, bạn phải vệ sinh hậu môn và tay sạch sẽ tránh để mắc các bệnh như tiêu chảy , kiết lị… để bảo vệ sức khỏe bản thân.

Các biện pháp phòng tránh bệnh viêm đại tràng mãn tính:

Chế độ sinh hoạt lành mạnh

Kiểm soát stress, căng thẳng, lo lắng, bởi điều này kéo dài gây trầm cảm hay giảm nhu động ruột, đảm bảo tinh thần vui vẻ, thoải mái, lành mạnh.

Ngoài ra, tăng cường vận động thể dục thể thao tăng cường sức khỏe và sức đề kháng, uống nhiều nước kết hợp xoa bóp nhẹ vùng thượng vị để kích thích tăng nhu động ruột.

Đảm bảo chế độ ăn hợp lý, lành mạnh

Nên ăn nhiều thực phẩm tốt cho đại tràng và sự phục hồi như sữa đậu nành, gạo, khoai tây, cá, tăng cường rau xanh, trái cây, củ quả giàu chất xơ, chuối đu đủ giàu Kali…

Hạn chế ăn các loại thực phẩm còn tươi sống như nem chua, tiết canh, rau sống, gỏi các loại, lòng heo… tránh nhiễm khuẩn đường ruột.

Hạn chế ăn trứng, nem rán, thịt mỡ, sữa… cùng các chất gây kích thích đường ruột như cà phê, rượu bia, thuốc lá, những đồ ăn chiên nóng khó tiêu. Nên ăn thức ăn dễ tiêu, chia thành nhiều bữa nhỏ, ăn ít vào buổi tối để giảm gánh nặng cho đường ruột.

Dù đảm bảo chế độ ăn uống lành mạnh nhưng điều trị bệnh vẫn cần đủ thành phần dinh dưỡng, đảm bảo 1g chất đạm, 30 – 35 kcal cho mỗi 1kg cân nặng mỗi ngày, đồng thời giảm chất béo, tăng cung cấp nước, vitamin và muối khoáng.

Khám sàng lọc định kỳ

Để phát hiện sớm các nguy cơ có thể gây bệnh nguy hiểm

Tìm Hiểu Cấu Trúc Răng Hàm Và Khám Phá Chức Năng Của Những Chiếc Răng

Trên thực tế một hàm răng người trưởng thành có tổng cộng 32 cái răng, chia đều cho hai hàm (hàm trên 16 và hàm dưới 16). Các răng được chia thành 4 nhóm chính: Nhóm răng cửa, nhóm răng nanh, nhóm răng tiền hàm và nhóm răng hàm.

Chức năng ăn nhai:

Về cơ bản, mỗi người đều có số lượng răng như nhau gồm: 8 chiếc răng cửa, 4 chiếc răng nanh, 8 chiếc răng hàm nhỏ, 12 chiếc răng hàm lớn. Mỗi răng, vị trí răng đều có những chức năng ăn nhai khác nhau.

Răng cửa là những chiếc răng nằm ở phía trước cung hàm, có dạng hình chiếc xẻng và có rìa cắn rất sắc bén. Răng cửa đóng vai trò cắn, xé thức ăn thành nhiều miếng nhỏ.

Răng nanh nằm ở vị trí góc cung hàm, sát răng cửa. Răng nanh có hình ngọn giáo, mũ răng nanh dày rất nhọn và sắc bén. Nhiệm vụ của chiếc răng này là dùng để kẹp và xé thức ăn.

Răng hàm nhỏ có mặt cắn phẳng, mũ răng hình lập phương. Trên mặt răng hàm nhỏ được chia thành 2 định đều, nhọn. Răng dùng để xé và làm dập thức ăn.

Răng hàm lớn là các răng lớn nhất trên cung hàm. Mặt răng hàm lớn thường phẳng, có diện tích rộng và to, hình dáng rất phức tạp. Nhiệm vụ chính của răng hàm lớn là nhai và nghiền nát thức ăn trước khi đưa vào dạ dày.

Khi mất một răng, nhiều răng hay mất răng toàn hàm, có nghĩa là hoạt động răng hàm không còn được hoàn mỹ. Thiếu đi vai trò của một răng hay nhiều răng sẽ khiến các răng còn lại hoạt động quá tải và có xu hướng yếu dần đi, ảnh hưởng đến ăn nhai, dạ dày và sức khỏe.

Chức năng phát âm:

Răng cùng với lưỡi và hàm tham gia vào khả năng phát âm của một người. Nếu răng đều và đầy đủ góp phần giúp cho quá trình phát âm tròn vành rõ chữ hơn. Tuy nhiên với những trường hợp răng sữa mất sớm sẽ làm trẻ nói ngọng và phát âm không chính xác.

Nếu mất răng sẽ tạo khoảng trống sẽ không phát âm được hoặc phát âm sẽ lơ lớ, hoặc ngọng. Những trường hợp răng lệch lạc hay thưa cũng vậy, khi ấy luồng hơi từ trong miệng đẩy ra ngoài sẽ không đều và tạo thành tiếng phát ra không chuẩn.

Chức năng thẩm mỹ:

Cấu tạo hàm răng đẹp và khoẻ mạnh sẽ làm tăng vẻ đẹp của khuôn mặt, cân đối khuôn miệng và làm nụ cười thêm duyên dáng hơn. Những người có hàm răng hô, móm, thưa hay lệch lạc cũng ảnh hưởng đến nét đẹp và nét duyên dáng chung của khuôn mặt.

Để được tư vấn cụ thể về các vấn đề sức khỏe răng miệng, bạn vui lòng để lại thông tin bên dưới hoặc liên hệ Hotline 0778.881.885 để được tư vấn cụ thể!

MEDDENTAL – HỆ THỐNG NHA KHOA TIÊU CHUẨN – TRỰC THUỘC MEDLATEC CS1: 85 Bùi Thị Xuân, Hai Bà Trưng, Hà Nội. CS2: Số 42 – 44 Nghĩa Dũng, Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội. CS3: Số 99 Trích Sài, Tây Hồ, Hà Nội. CS4: Số 05 Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội. CS5: Số 31 ngõ 23 Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội.

Website: chúng tôi

Fanpage: chúng tôi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khám Phá Cấu Tạo Và Chức Năng Ruột Non trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!