Đề Xuất 12/2022 # Khái Niệm, Bản Chất Và Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu) Của Tội Phạm / 2023 # Top 19 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Khái Niệm, Bản Chất Và Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu) Của Tội Phạm / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Khái Niệm, Bản Chất Và Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu) Của Tội Phạm / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

70061

1. Khái niệm tội phạm

là hành vi nguy hiểm cho xã hội được (Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015). quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”

Nội dung của khái niệm thể hiện:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội

Tội phạm phải được quy định trong Bộ luật Hình sự;

Tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện;

Tội phạm do người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý;

Tội phạm xâm phạm tới các quan hệ xã hội (QHXH) được Luật hình sự bảo vệ.

2. Các đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm

Theo Luật hình sự Việt Nam, tội phạm phải là hành vi của con người (hành động và không hành động). Nếu không có hành vi thì không có tội phạm. Ngay cả khi pháp nhân thương mại (một chủ thể của tội phạm) phải chịu TNHS thì đó cũng là chịu TNHS do hành vi phạm tội do cá nhân hay tập thể con người thực hiện dưới danh nghĩa pháp nhân thương mại, chứ pháp nhân thương mại không thể tự thực hiện được hành vi nào để có thể phạm tội.

Hành vi được hiểu dưới góc độ Luật hình sự là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển.

Những gì trong tư tưởng, trong suy nghĩ, chưa thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bằng hành vi thì chưa thể là tội phạm. Bởi vì, chỉ thông qua hành vi của mình con người mới có thể gây ra thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã hội.

Hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với hành vi không phải là tội phạm thông qua 05 đặc điểm sau: đặc điểm nguy hiểm cho xã hội, đặc điểm có lỗi, đặc điểm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, đặc điểm được quy định trong luật hình sự và đặc điểm phải chịu hình phạt.

a) Đặc điểm nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể

☼ Về khách quan:

– Đặc điểm nguy hiểm cho xã hội là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các QHXH được Luật hình sự bảo vệ (trong đó các QHXH quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự).

+ Gây ra thiệt hại đáng kể: Là làm biến đổi tình trạng của QHXH hoặc đối tượng bị tác động được Luật hình sự bảo vệ ở mức độ đáng kể.

(-) Có loại hành vi khi thực hiện luôn gây ra thiệt hại đáng kể và luôn bị coi là tội phạm mà không thể là VPPL khác.

Ví dụ: Hành vi giết người, hành vi hiếp dâm, hành vi cướp tài sản… (Điều 123, Điều 141, Điều 168 Bộ luật Hình sự).

(-) Có loại hành vi khi thực hiện chưa gây ra thiệt hại đáng kể, chưa phải là tội phạm nhưng nếu có thêm các dấu hiệu khác (dấu hiệu về định tính và định lượng) thì lại gây ra thiệt hại đáng kể và là tội phạm.

Ví dụ: Hành vi trồng cây thuốc phiện. Riêng hành vi này chưa có đặc điểm nguy hiểm đáng kể, phải có thêm dấu hiệu khác là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bi kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì hành vi lại có đặc điểm nguy hiểm đáng kể (Điều 247 Bộ luật Hình sự).

+ Đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể: Là chưa làm biến đổi tình trạng của QHXH hoặc đối tượng bị tác động được Luật hình sự bảo vệ nhưng đã đặt chúng ở trong tình trạng nguy hiểm đáng kể.

(-) Có loại hành vi khi thực hiện luôn đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể, luôn là tội phạm mà không thể là vi phạm pháp luật khác.

Ví dụ: Hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 Bộ luật Hình sự). Hành vi này tuy chưa lật đổ được chính quyền nhân dân, nhưng đã đe dọa đến sự tồn tai, an toàn của chính quyền nhân dân đã đặt QHXH này trong sự nguy hiểm đáng kể.

(-) Có loại hành vi khi thực hiện chưa đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể, chưa phải là tội phạm nhưng có thêm các dấu hiệu khác (dấu hiệu về định tính và định lượng) thì lại đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể và là tội phạm.

Ví dụ: Hành vi đe dọa giết người. Riêng hành vi này thì chưa đe dọa gây thiệt hại đáng kể nhưng nếu có thêm dấu hiệu “có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện” thì hành vi này lại đe dọa gây thiệt hại đáng kể (Điều 133 Bộ luật Hình sự).

Các QHXH bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể (được coi là đối tượng tác động của tội phạm) phải là những QHXH được Luật hình sự bảo vệ (được xác định ở Điều 1 và Điều 8 Bộ luật Hình sự).

+ Về chủ quan: Đặc điểm nguy hiểm cho xã hội còn bao gồm cả yếu tố lỗi. (Như chúng ta đã biết, xử sự của con người bao giờ cũng là sự thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan; hai mặt này bao giờ cũng có quan hệ chặt chẽ với nhau). Đặc điểm có lỗi là bộ phận hợp thành của đặc điểm nguy hiểm cho xã hội, không thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm mà không có lỗi. Tuy nhiên, để nhấn mạnh nguyên tắc có lỗi, Luật hình sự Việt Nam tách đặc điểm có lỗi là dấu hiệu độc lập của tội phạm (Bài 3 sẽ nghiên về yếu tố lỗi).

+ Những tình tiết là căn cứ đánh giá đặc điểm nguy hiểm cho xã hội của hành vi

* Tính chất của QHXH bị xâm hại

Để đánh giá đặc điểm nguy hiểm cho xã hội của hành vi được dựa trên cơ sở các căn cứ sau:

Ví dụ: Hành vi cắt đứt đường dây thông tin liên lạc của Quốc gia.

* Tính chất của hành vi khách quan, trong đó bao gồm cả tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ và phương tiện phạm tội

Nếu nhằm chống chính quyền nhân dân thì sẽ xâm hại đến an ninh Quốc gia và có tính nguy hiểm cao (Điều 114 Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam); nếu để bán lấy tiền thì sẽ xâm hại đến trật tự an toàn xã hội và có tính nguy hiểm thấp hơn (Điều 303 Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh Quốc gia).

Ví dụ: Hành vi giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người, hoặc bằng cách lợi dụng nghề nghiệp thì nguy hiểm hơn không sử dụng các phương pháp, thủ đoạn đó (Điều 123 Bộ luật Hình sự).

* Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho QHXH bị xâm hại (biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mức độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hóa phạm pháp…)

* Tính chất và mức độ lỗi

Ví dụ: Hành vi hủy hoại tài sản, nhưng tài sản có giá trị tái sản càng lớn thì tính chất nguy hiểm cho xã hội càng lớn (Điều 178 Bộ luật Hình sự).

* Động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội

Ví dụ: Cũng là hành vi làm lộ bí mật Nhà nước nếu với lỗi cố ý thì bao giờ cũng nguy hiểm hơn với lỗi vô ý (Điều 337, 338 Bộ luật Hình sự).

* Hoàn cảnh chính trị – xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra

Ví dụ: Hành vi mua bán người vì động cơ đê hèn (điểm b khoản 2), hoặc để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm b khoản 3) có tính nguy hiểm hơn so với hành vi mua bán trẻ em vì động cơ vô lí đơn thuần (khoản 1, Điều 150).

* Nhân thân của người có hành vi phạm tội

Ví dụ: Hành vi chống mệnh lệnh trong chiến đấu (điểm a khoản 3) có tính nguy hiểm cao hơn so với hành vi chống mệnh lệnh trong huấn luyện, thường trực sẵn sàng chiến đấu trong thời bình (khoản 1) (Điều 394 Bộ luật Hình sự Tội chống mệnh lệnh).

Nhân thân là tổng hợp các đặc điểm riêng của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết TNHS của họ như: độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, hoàn cảnh gia đình, tiền án, tiền sự …

Ví dụ: Hành vi cướp tài sản của người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2) thì nguy hiểm hơn đối với người không có tính chất chuyên nghiệp (Điều 168 Bộ luật Hình sự)

☼ Vị trí, ý nghĩa của đặc điểm nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

+ Là đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những đặc điểm (dấu hiệu) khác của tội phạm.

+ Là căn cứ để phân biệt hành vi là tội phạm với những hành vi vi phạm khác.

+ Là cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp cho việc phân hóa TNHS được chính xác.

b) Đặc điểm có lỗi

Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi (có đặc điểm nguy hiểm cho xã hội) của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý.

– Điều kiện bị coi là có lỗi

+ Người bị coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.

(-) Ví dụ: Do mâu thuẫn cá nhân, Nguyễn Văn An (30 tuổi) đã gây thương tích cho Trần Văn Bình (tỷ lệ thương tật 40%). Trong trường hợp này, An vẫn có những lựa chọn về cách giải quyết mâu thuẫn phù hợp với quy định của pháp luật; An nhận thức được hành vi gây thương tích cho Bình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý gây thương tích cho Bình. Vì vậy, An đã trở thành người thực hiện hành vi phạm tội.

(-) Ví dụ: Nguyễn Văn A (30 tuổi) bị cưỡng bức điểm chỉ vào đơn xin gia nhập tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

+ Là đặc điểm độc lập với đặc điểm nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải để tách đặc điểm có lỗi ra khỏi đặc điểm nguy hiểm mà để nhấn mạnh tính chất quan trọng của đặc điểm có lỗi.

☼ Vị trí, ý nghĩa của đặc điểm có lỗi

+ Là căn cứ để truy cứu TNHS người thực hiện hành vi phạm tội.

Luật Hình sự Việt Nam không quy tội khách quan, nghĩa là quy TNHS cho người nào đó chỉ căn cứ vào hành vi gây thiệt hại mà không căn cứ vào lỗi của họ.

☼ Mối quan hệ với đặc điểm nguy hiểm cho xã hội:

Đặc điểm có lỗi có mối quan hệ chặt chẽ với đặc điểm nguy hiểm cho xã hội. Điều đó thể hiện, bất kì hành vi nguy hiểm cho xã hội nào bị coi là tội phạm cũng phải có lỗi.

Đặc điểm được quy định trong Luật Hình sự

– Được quy định trong Luật Hình sự là thực hiện một hành vi mà theo Luật Hình sự cấm thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi mà theo Luật Hình sự buộc phải thực hiện.

(-) Ví dụ: Điều 132 Bộ luật Hình sự quy định buộc phải cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nếu có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết là một trường hợp của hành vi được quy định trong luật hình sự.

– Đặc điểm được quy định trong Luật Hình sự là đặc điểm pháp lí bắt buộc phải có ở mọi hành vi bị coi là tội phạm.

Điều này được thể hiện cụ thể:

Điều 2 Bộ luật Hình sự quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,…”

(-) Ví dụ: Trước ngày 01/01/2018, tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nhân danh pháp nhân thương mại đều không bị xử lý hình sự do trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thì pháp nhân thương mại chưa phải chủ thể của tội phạm.

(*) Chú ý:

Nếu bỏ qua đặc điểm được quy định trong Luật Hình sự vì chỉ coi trọng đặc điểm nguy hiểm cho xã hội sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong việc xác định tội phạm. Nhưng ngược lại, nếu quá coi trong đặc điểm trái pháp luật hình sự sẽ dẫn đến tình trạng xác định tội phạm một cách hình thức, máy móc.

Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định:”Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”.

☼ Vị trí, ý nghĩa đặc điểm được quy định trong Luật Hình sự

+ Đặc điểm được quy định trong Luật Hình sự là đặc điểm về mặt hình thức pháp lí được xác định bởi đặc điểm nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, đặc điểm trái pháp luật hình sự có tính độc lập tương đối và thể hiện rõ nét nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

+ Là cơ sở để đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất.

+ Bảo đảm cho quyền dân chủ của công dân không bị những hành vi xử lý tùy tiện vi phạm; tránh việc xác định tội danh và áp dụng hình phạt một cách tùy tiện.

+ Là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi luật theo sát sự thay đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội.

c) Đặc điểm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện

– Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của Luật Hình sự và không thuộc trường hợp mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi.

Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Điều 21 Bộ luật Hình sự quy định: ” Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. “

Đây là một đặc điểm về chủ thể của tội phạm mặc dù đặc điểm này đã được phản ánh gián tiếp qua đặc điểm được quy định trong Luật Hình sự.

+ Tuy mọi hành vi nói chung và hành vi nguy hiểm cho xã hội đều phải do cá nhân thực hiện và mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành đều thông qua hành vi của những cá nhân nhưng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì pháp nhân thương mại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự khi những cá nhân đó nhân danh pháp nhân thương mại để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, pháp nhân thương mại cũng được coi là chủ thể của tội phạm. Những quy định đối với pháp nhân thương mại được quy định tại Chương XI Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 75 quy định điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

Điều 76 quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.

– Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm trừng trị, giáo dục người phạm tội và giáo dục người khác.

– Đặc điểm phải chịu hình phạt là đặc điểm của tội phạm nhưng không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm như đặc điểm nguy hiểm cho xã hội và đặc điểm trái pháp luật hình sự.

Đây chỉ là đặc điểm kèm theo của đặc điểm nguy hiểm cho xã hội và đặc điểm trái pháp luật hình sự. Do vậy, Điều 8 Bộ luật Hình sự không đề cập đặc điểm này trong khái niệm tội phạm.

Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người có hành vi phạm tội, không thể áp dụng hình phạt khi không có tội phạm xảy ra.

– Đặc điểm phải chịu hình phạt thể hiện là bất kì hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt.

Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu hình phạt (người phạm tội đượcTNHS, được miễn hình phạth hoặc miễn chấp hành hình phạt Điều 25, 54, 57 và 60 Bộ luật Hình sự), không có nghĩa là hành vi phạm tội mà họ thực hiện không có đặc điểm chịu hình phạt mà ngược lại khả năng đe dọa phải chịu hình phạt vẫn có.

3. Ý nghĩa của khái niệm tội phạm

Khái Niệm Tội Phạm Và Tình Hình Tội Phạm Trong Tội Phạm Học / 2023

16/06/2020

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

1. Tư vấn về tội phạm

Tội phạm là khái niệm pháp lí và là khái niệm khoa học. Khái niệm này dùng để chỉ tất cả những hành vi được luật hình sự quốc gia hoặc quốc tế xác định mà chủ thể thực hiện phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt. Nếu bạn chưa nghiên cứu về vấn đề này, bạn có thể liên hệ tới Luật Minh Gia, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung tư vấn sau đây:

+ Khái niệm tội phạm theo quy định bộ luật hình sự;

+ Dấu hiệu của những hành vi bị coi là tội phạm;

+ Tình hình tội phạm trong tội phạm học;

Tất cả những hành vi bị coi là tội phạm đều có cùng bản chất xă hội và những đặc điểm nhất định. Trước hết, tội phạm là hiện tượng xă hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xă hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là hiện tượng xă hội-pháp lí.

Tội phạm không chỉ là hiện tượng xă hội được phản ánh trong luật hình sự mà đồng thời cũng là hiện tượng xă hội được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, trong đó có khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự và tội phạm học đều là khoa học về tội phạm. Tuy nhiên, khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự là khoa học về tội phạm có tính pháp lí, còn tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm là khoa học về tội phạm không có tính pháp lí (1) hay nói cách khác là khoa học về tội phạm hiện thực.

Khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng mỗi ngành đều có nội dung mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu riêng về đối tượng này. Theo đó, trong một số ngôn ngữ tồn tại hai khái niệm khác nhau được dùng trong hai ngành khoa học này. Ví dụ: Trong tiếng Đức, khái niệm Kriminalität được dùng trong tội phạm học còn khái niệm Straftat được dùng trong luật hình sự. (2) Trong tiếng Việt cũng như trong một số ngôn ngữ khác, chỉ có một khái niệm được dùng cả trong khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng bị pháp luật coi là tội phạm ở các nội dung chính sau:

– Dấu hiệu (đặc điểm) chung của những hành vi bị coi là tội phạm (dấu hiệu về nội dung chính trị-xă hội, dấu hiệu về hình thức pháp lí);

– Cấu trúc chung của những hành vi bị coi là tội phạm (bốn yếu tố của tội phạm);

– Dấu hiệu và cấu trúc (bốn yếu tố cấu thành) của từng nhóm tội cũng như của từng loại tội phạm cụ thể;

– Kĩ thuật phản ánh tội phạm trong luật hình sự (cấu thành tội phạm)…

Với nội dung như vậy, khoa học luật hình sự phục vụ việc quy định tội phạm trong luật cũng như phục vụ việc giải thích và nhận thức luật để áp dụng. Qua đó, khoa học luật hình sự phục vụ nhiệm vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.

Tội phạm học nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng tội phạm đă xảy ra trên thực tế ở các nội dung chính sau:

– Tình hình tội phạm đă xảy ra;

– Nguyên nhân làm phát sinh tội phạm đă xảy ra;

– Biện pháp có thể hạn chế, phòng ngừa tội phạm…

Như vậy, khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng theo hai nghĩa khác nhau. Do có sự khác nhau này mà ở một số quốc gia có hai khái niệm cùng có nghĩa tiếng Việt là tội phạm – một được sử dụng trong khoa học luật hình sự và một được sử dụng trong tội phạm học. Ở các quốc gia không có hai khái niệm khác nhau mà chỉ có một như Việt Nam, mọi người buộc phải hiểu khái niệm tội phạm theo hai nghĩa. (3)

Với nội dung nghiên cứu riêng của mình, tội phạm học phục vụ trực tiếp việc cảnh báo tội phạm và hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, cộng đồng và người dân có biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp. Để thực hiện nhiệm vụ này, tội phạm học cần có hệ thống các khái niệm làm công cụ nghiên cứu. Tình hình tội phạm (THTP) là một trong những khái niệm được dùng tương đối phổ biến ở Việt Nam khi nghiên cứu về tội phạm học. (4) Trong hầu hết các công trình nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng về tội phạm học ở Việt Nam hiện nay, từ giáo trình đại học, sách nghiên cứu đến luận án tiến sĩ đều sử dụng khái niệm THTP. (5) Có điều tác giả của những công trình này hiểu khái niệm THTP theo nội dung không thống nhất. Do vậy, tình trạng hiểu không rõ ràng, không thống nhất về khái niệm THTP ở người học cũng như người đọc nói chung là không tránh khỏi. Nhiều quan điểm, ý kiến không rõ ràng, không thống nhất trong nghiên cứu tội phạm học có nguyên nhân từ cách hiểu không thống nhất về khái niệm THTP.

Câu hỏi được đặt ra ở đây: Phải hiểu khái niệm THTP như thế nào?

Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “tình hình” được hiểu là “Trạng thái, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng với tất cả những sự kiện diễn ra, biến đổi ở trong đó”. (6)

Từ đó, chúng ta có thể hiểu THTP là trạng thái, xu thế vận động của tội phạm. Khi nói THTP có thể hiểu là tình hình của tội phạm nói chung hoặc của nhóm tội như nhóm tội xâm phạm sở hữu hoặc của tội cụ thể như tội giết người. Đồng thời khi nói THTP bao giờ cũng phải gắn với không gian và khoảng thời gian nhất định, vì tội phạm luôn xảy ra trong không gian và thời gian xác định. Do vậy, có thể định nghĩa đầy đủ về THTP như sau:

THTP là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định.

Với định nghĩa này có thể phân biệt rõ giữa tội phạm và THTP. Đó là sự khác nhau giữa bản thân hiện tượng với trạng thái và xu thế vận động của hiện tượng đó.

Loại định nghĩa khác về THTP là những định nghĩa thể hiện sự không rõ ràng giữa tội phạm với THTP. Ví dụ như định nghĩa sau: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xă hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử; được thể hiện ở tổng hợp các tội phạm cụ thể đă xảy ra trong xă hội và trong khoảng thời gian nhất định”. (9) Hoặc: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xă hội, pháp lí tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xă hội (quốc gia) nhất định và khoảng thời gian nhất định”. (10) Hoặc: “Tình trạng phạm tội là hiện tượng xă hội tiêu cực mang thuộc tính xă hội, thường xuyên thay đổi, giai cấp, pháp luật hình sự và được phản ánh bằng toàn bộ tình hình, cơ cấu, diễn biến của tổng thể các loại hoặc của một loại tội phạm đă xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và trong một phạm vi nhất định”. (11)

Các công trình nghiên cứu về tội phạm học không có định nghĩa về THTP thường theo hướng không phân biệt rõ giữa tội phạm và THTP.

Từ sự không rõ ràng giữa tội phạm với THTP dẫn đến sự không thống nhất trong trình bày một số nội dung giữa các tác giả trong cùng công trình nghiên cứu cũng như của chính một tác giả. Điều này có thể khiến người đọc cho rằng các tác giả đă sử dụng khái niệm tội phạm và khái niệm THTP như hai khái niệm có thể thay thế cho nhau. (12) Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, các tác giả khi xác định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học đă không thống nhất giữa “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” hay “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”. Có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” (tr. 5); có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (tr. 81). Điều đáng chú ý hơn là ở chỗ: Kể cả tác giả thuộc quan điểm cho rằng đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” vẫn có nhiều đoạn viết không phù hợp với quan điểm này. Ví dụ như đoạn viết: “… và cũng có những hiện tượng xă hội mà chính chúng lại làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm phát triển và được gọi là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. … Bản chất, các đặc điểm của tội phạm chỉ có thể được làm rõ khi người nghiên cứu đồng thời xem xét các mối liên hệ biện chứng với các quá trình và hiện tượng khác trong đó có các quá trình và hiện tượng là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm”. (13) Trong giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, các tác giả đều thống nhất khẳng định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là: Tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm… Nhưng nhiều lập luận của các tác giả lại thể hiện có sự đồng nhất giữa tội phạm với THTP. Ví dụ như đoạn phân tích sau: “Căn cứ vào mức độ tác động của các ảnh hưởng, quá trình xă hội, nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội còn được phân chia làm các loại sau đây:

– Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung;

– Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm nhất định;

– Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể…” (14)

Với đoạn viết trên, người đọc có thể hiểu: Tác giả của giáo trình muốn thể hiện có tội phạm nói chung, có loại tội phạm và có tội phạm cụ thể. Tương ứng với sự phân loại này cũng có ba loại nguyên nhân và điều kiện. Đó là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhất định. Như vậy, ở đây, tác giả có sự đồng nhất giữa tội phạm nói chung với THTP. Khi nói nguyên nhân và điều kiện của tội phạm (nói chung) tác giả thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”; còn khi nói nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm và của loại tội phạm cụ thể thì tác giả lại thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm hoặc của tội phạm cụ thể”. (15) Sự đồng nhất THTP với tội phạm (nói chung) như vậy cũng được thể hiện trong lập luận của một số tác giả khác. Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, tác giả viết: “Chúng ta có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung, có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của một nhóm tội hoặc một loại tội” (tr. 195) hoặc “Mối quan hệ giữa tội phạm và tình hình tội phạm là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”. (16) Theo nghĩa triết học, chỉ có quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” khi nói tội phạm với tội phạm cụ thể hoặc với nhóm tội phạm cụ thể. Ở đây, tội phạm là “cái chung” còn tội A hay tội B cũng như nhóm tội C hay nhóm tội D là “cái riêng”. Theo chúng tôi, khi khẳng định THTP là “cái chung” và tội phạm là “cái riêng” tác giả đă quan niệm tội phạm nói ở đây là tội phạm cụ thể và THTP được hiểu là tội phạm nói chung. Do quan niệm THTP là tội phạm nói chung nên các tác giả này mới viết: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (nghĩa là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung) hoặc viết “Phòng ngừa tình hình tội phạm” (nghĩa là phòng ngừa tội phạm nói chung). Do quan niệm về THTP như vậy nên các tác giả này cũng gắn những đặc điểm của tội phạm như tính trái pháp luật hình sự, tính lịch sử… cho THTP. Nhưng khi phân tích về nội dung của THTP thì các tác giả lại quan niệm THTP đúng như chúng tôi quan niệm (Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định).

Vậy vấn đề đặt ra cần phải hiểu khái niệm THTP như thế nào? Khái niệm đó có thật cần thiết cho tội phạm học không?

Chúng ta không thể sử dụng khái niệm THTH cùng một lúc theo hai nghĩa khác nhau: THTP là khái niệm chỉ tội phạm nói chung và THTP là khái niệm chỉ trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Về mặt ngôn ngữ thì khái niệm THTP phải được hiểu theo nghĩa thứ hai. Đó là trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Trong đó có THTP của tất cả các tội phạm (tội phạm nói chung – tất cả các tội danh); THTP của nhóm tội phạm (nhóm tội danh) và THTP của từng tội phạm (tội danh cụ thể). Tội phạm học nghiên cứu tội phạm ở một số nội dung. Trong đó có hai nội dung:

– Nghiên cứu tội phạm về mức độ, tính chất và xu hướng vận động;

– Nghiên cứu tội phạm về nguyên nhân phát sinh.

Khái niệm THTP khi được hiểu như chúng tôi trình bày sẽ bao trùm hết các biểu hiện cụ thể của nội dung nghiên cứu thứ nhất nêu trên của tội phạm học. Thay vì nói: Mức độ, tính chất và xu hướng vận động của tội phạm chúng ta có thể nói THTP. Điều này thể hiện sự cần thiết của khái niệm THTP. Hơn nữa, khái niệm này đă là khái niệm quen thuộc, được sử dụng nhiều trong tội phạm học Việt Nam.

Khi đă phân biệt rõ tội phạm với THTP trên cơ sở hiểu THTP như định nghĩa nêu trên chúng ta có thể rút ra được các kết luận sau:

– Nếu xem tội phạm là hiện tượng xă hội phát sinh bởi nguyên nhân nhất định thì THTP là “bức tranh tổng thể” của những hiện tượng – tội phạm đă xảy ra. Chính những tội phạm đă xảy ra tạo nên “bức tranh tổng thể” đó. Nghiên cứu THTP là nghiên cứu trạng thái của tội phạm và nghiên cứu xu hướng vận động của tội phạm. Đó là hai nội dung nghiên cứu về THTP và cách gọi phổ biến hiện nay là thực trạng và động thái của tội phạm.

– Cùng với việc nghiên cứu THTP, tội phạm học còn nghiên cứu nguyên nhân làm phát sinh tội phạm để từ đó nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính tổng thể. Đó là vấn đề nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và vấn đề phòng ngừa tội phạm.

– Tình hình tội phạm là “bức tranh tổng thể” của những tội phạm đă xảy ra nên giữa THTP với nguyên nhân của tội phạm có quan hệ nhất định với nhau. Tuy nhiên, không thể gắn nguyên nhân của tội phạm là nguyên nhân của tình hình tội phạm – “Cái” được tạo bởi các tội phạm đă xảy ra. Do vậy, không thể nói: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm” cũng như không thể nói: “Phòng ngừa tình hình tội phạm”. (17)

Từ định nghĩa: “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định” có thể rút ra một số đặc điểm của THTP như sau:

– Đặc điểm về phạm vi: Tình hình tội phạm luôn gắn với các phạm vi – phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian. Phạm vi đối tượng thường có ba mức độ: Phạm vi tất cả các tội phạm, phạm vi nhóm tội phạm (như nhóm tội tham nhũng, nhóm tội xâm phạm sở hữu…) và phạm vi tội phạm cụ thể (như tội giết người, tội nhận hối lộ…). Ngoài ra, các phạm vi đó còn có thể được giới hạn tiếp bởi đặc điểm nhất định của tội phạm (như giới hạn trong phạm vi những tội do người chưa thành niên thực hiện hoặc giới hạn trong phạm vi những tội cố ý…). Phạm vi về không gian có thể là phạm vi toàn quốc, phạm vi vùng (như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long), phạm vi địa phương (như thành phố Hà Nội, tỉnh Sóc Trăng) hoặc phạm vi ngành, lĩnh vực (như lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực ngân hàng hoặc ngành tư pháp). Phạm vi thời gian có thể là khoảng thời gian 5 năm, 10 năm hoặc trong giới hạn bởi mốc bắt đầu và mốc kết thúc nào đó. Đặc điểm này của tình hình tội phạm đ̣i hỏi khi nghiên cứu THTP, người nghiên cứu phải xác định rõ ràng ngay từ đầu các phạm vi này. Trong cả quá trình nghiên cứu, các phạm vi này luôn phải được tuân thủ một cách thống nhất.

– Đặc điểm về nội dung: Tình hình tội phạm luôn gắn với các đặc điểm về nội dung – đặc điểm về mức độ, đặc điểm về cơ cấu và tính chất, đặc điểm về xu hướng vận động. Đặc điểm về mức độ cùng với đặc điểm về cơ cấu và tính chất hợp thành đặc điểm về thực trạng của tội phạm. (18) Đặc điểm về xu hướng vận động thường được gọi là đặc điểm về động thái của tội phạm. Như vậy, đặc điểm về nội dung đ̣i hỏi người nghiên cứu THTP phải làm rõ đặc điểm về thực trạng và về động thái của tội phạm. (19)

– Đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lí và tính vận động: Tội phạm – hiện tượng xă hội tạo nên “bức tranh tình hình tội phạm” luôn có tính pháp lí vì được phản ánh trong luật hình sự. Chỉ những hiện tượng xă hội xảy ra đă được quy định trong luật hình sự mới có thể là “nguyên liệu” tạo ra “bức tranh tình hình tội phạm”. Thay đổi của luật sẽ làm thay đổi “nguyên liệu” và qua đó làm thay đổi “bức tranh”. Như vậy, có thể nói: THTP có tính phụ thuộc pháp lí. Đồng thời với đặc điểm này, THTP cũng có tính vận động – không ổn định theo thời gian và không gian. THTP có thể thay đổi do tội phạm luôn vận động theo quy luật dưới sự tác động của các hiện tượng, quá trình xă hội khác. Con người có thể chủ động tác động để THTP thay đổi theo hướng giảm thiểu qua việc áp dụng các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa tội phạm. Đặc điểm này đ̣i hỏi người nghiên cứu phải chú ý đến các điều kiện kinh tế-xă hội và môi trường pháp lí trong đó có môi trường pháp lí hình sự khi xem xét, đánh giá THTP.

– Đặc điểm về tính tuyệt đối và tính tương đối: Tình hình tội phạm luôn tồn tại khách quan và có thể nhận thức được nhưng chúng ta chỉ có thể nhận thức được gần đúng vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau. THTP mà chúng ta nhận thức được chỉ là THTP tương đối so với THTP thực là THTP tuyệt đối. Vấn đề đặt ra là cần loại trừ những yếu tố có thể làm sai lệch nhận thức để chúng ta đến gần nhất với THTP tuyệt đối.

Tình hình tội phạm có thể được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau theo cấp độ và phạm vi.

Theo cấp độ của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở Việt Nam (cấp quốc gia); tình hình tội phạm ở vùng A, tình hình tội phạm ở tỉnh B (cấp địa phương); tình hình tội phạm ở ngành C (cấp ngành, lĩnh vực).

Theo phạm vi của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở… (phạm vi toàn bộ các tội phạm); tình hình các tội A ở… (phạm vi nhóm tội); tình hình tội B ở… (phạm vi tội cụ thể).

Theo phạm vi tình hình tội phạm còn có thể được giới hạn bởi một số đặc điểm khác như đặc điểm về lỗi (giới hạn ở tội cố ý hay vô ý) về chủ thể (như giới hạn ở chủ thể của tội phạm là người chưa thành niên, ở chủ thể của tội phạm là phụ nữ v.v..)./.

Chú thích:

(1). Đây là quan điểm của một số nhà khoa học nước ngoài và chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này. Xem: Hans-Dieter Schwind, Kriminologie, Kriminalistik Verlag, Heidelberg 1995, tr. 5.

(2). Trong tiếng Đức, tội phạm học là Kriminologie và như vậy là cùng gốc với từ tội phạm – kriminalität được dùng trong tội phạm học.

(3). Để phân biệt tội phạm trong tội phạm học với tội phạm trong khoa học luật hình sự có tác giả đă dùng trong tội phạm học khái niệm “tội phạm hiện thực” thay thế cho khái niệm tội phạm. (Xem: Can Ueda, Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại, Nxb. CAND, Hà Nội, 1994, tr. 28). Ở Việt Nam, nhiều tác giả lại dùng khái niệm “tình hình tội phạm” để thay thế cho khái niệm “tội phạm”. Về sự thay thế này chúng tôi có ý kiến nhận xét ở phần tiếp theo của bài viết.

(4). Khái niệm này tương ứng với khái niệm Situation of crime (tiếng Anh) hoặc Situation der Kriminalität (tiếng Đức). Tuy nhiên, khái niệm này được sử dụng ở nước ngoài không phổ biến.

(5). Cũng có công trình dùng khái niệm “tình trạng phạm tội” như Giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQGHN, 1999.

(6).Xem: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá – thông tin, H., 1999, tr. 1649.

(7). Giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQGHN, 1999; Giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, 2004; sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1994; sách Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm, Nxb. CAND, 2001 là các công trình có định nghĩa tình hình tội phạm; sách “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. CAND, 2000 là công trình không có định nghĩa về tình hình tội phạm.

(8).Xem: Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. CAND năm 2001, tr. 24.

(9).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. CAND, 2004, tr. 91.

(10).Xem: Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CTQG, 1994, tr. 14.

(11).Xem: Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. ĐHQGHN, 1999, tr. 60. (Tác giả dùng khái niệm tình trạng thay khái niệm tình hình).

(12). Trong buổi toạ đàm ngày 8/4/2009 do Tạp chí luật học và Trung tâm tội phạm học của Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức, một số nhà khoa học đă khẳng định hai khái niệm này được dùng thay thế cho nhau.

(13).Xem: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. CAND, 2000, tr. 89.

(14).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. CAND, 2004, tr. 136.

(15). Cách lập luận này cũng thấy trong giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội. Trong giáo trình này, tác giả còn nói đến phòng ngừa tình trạng phạm tội và phòng ngừa các loại tội phạm cụ thể. Phòng ngừa tội phạm (nói chung) là phòng ngừa tình trạng phạm tội còn phòng ngừa các tội phạm cụ thể là phòng ngừa tội phạm. Như vậy, tình trạng phạm tội đồng nhất với tội phạm (nói chung) (xem các trang 30, 31).

(16).Xem: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. CAND, 2000; tr. 44. (Thực ra ở đây tác giả cũng đă viết ngược với suy nghĩ của mình – đúng ra là “Mối quan hệ giữa tội phạm và tình hình tội phạm là mối quan hệ giữa “cái riêng” và “cái chung”).

(17). Trong đời sống có thể nói “nguyên nhân của tình hình tội phạm ” cũng như “phòng ngừa tình hình tội phạm “. Nhưng cách nói này không chính xác. “Nguyên nhân” trước hết làm phát sinh tội phạm và trên cơ sở tội phạm xảy ra mà có “bức tranh” tình hình tội phạm. Tương tự như vậy, “phòng ngừa” là phòng ngừa, hạn chế tội phạm xảy ra và qua đó làm thay đổi “bức tranh” tình hình tội phạm theo hướng tích cực…

(18). Trong các công trình nghiên cứu khác, đặc điểm thực trạng được coi đồng nhất với đặc điểm mức độ. Theo chúng tôi khi nói đến thực trạng phải nói đến thực trạng về lượng (mức độ) và thực trạng về chất (tính chất và cơ cấu).

(19). Về nội dung của thực trạng và động thái của tội phạm, xem: Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. CAND, 2008, tr. 219 – 228.

GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa – Theo: Tạp chí Luật học, số 07 năm 2009

Khái Niệm Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học / 2023

59477

1. Tội phạm học là gì?

Thuật ngữ “tội phạm học” bắt nguồn từ tiếng La tinh: “Crimen” có nghĩa là tội phạm và tiếng Hy Lạp: “Logos” có nghĩa là học thuyết, lý luận, kết hợp hai từ đó lại có nghĩa là học thuyết về tội phạm hay tội phạm học.

Từ khi có tội phạm, trong xã hội vấn đề đấu tranh phòng chống nó cũng được đặt ra. Cũng như bất kỳ hoạt động xã hội nào, đấu tranh phòng chống tội phạm cần phải cần phải được tiến hành có cơ sở khoa học. Khoa học hình sự, luật tố tụng hình sự, điều tra hình sự và thi hành án hình sự đảm bảo cho cuộc đấu tranh mang tính chất pháp lý hình sự được thỏa đáng và phù hợp. Điều này thể hiện ở việc xác định những hành vi nguy hiểm nào cho xã hội là tội phạm và khi tội phạm xảy ra, nhanh chóng phát hiện, điều tra không được bỏ lọt đồng thời, áp dụng các biện pháp tác động hình sự đối với những người phạm tội phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và của nhân thân người phạm tội; giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội.

Mặc dù đấu tranh phòng chống tội phạm trên phương diện pháp lí hình sự là cần thiết, có ý nghĩa phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định, đó là nhà nước, xã hội đối phó với tội phạm một cách thụ động bởi vì các biện pháp đấu tranh với tội phạm trên phương diện này chủ yếu chỉ được áp dụng sau khi các tội phạm đã được thực hiện. Do vậy, có phương diện khác của công tác đấu tranh, với tội phạm mang tính chủ động và hiệu quả hơn cần được tiến hành, thể hiện ở việc tìm tòi phát hiện những nguyên nhân, điều kiện của lĩnh hình tội phạm nói chung và nguyên nhân, điều kiện của hành vi phạm tội cụ thể; thực hiện các biện pháp xã hội khác nhau làm và hiệu hóa hoặc thủ tiêu các nguyên nhân và điểu kiện gây ra, tội phạm nhằm ngăn ngừa tội phạm. Phương diện xã hội rộng lớn của cuộc đấu tranh với tội phạm nổi trên chính là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học.

Từ những lí do trên, có thể đưa ra định nghĩa về tội phạm học như sau: Tội phạm học là ngành cứu tình hình tội phạm, các nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm, nhân thân người phạm và phương hướng cũng như các biện pháp phòng ngừa tình hình trong xã hội.

2. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học

Với tư cách là ngành khoa học xã hội pháp lí, tội phạm học có đối tượng nghiên cứu riêng, khác với các ngành khoa học pháp lí khác. Tội phạm học nghiên cứu bốn nội dụng cơ bản sau:

Tình hình tội phạm

Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm

Nhân thân người phạm tội

Phòng ngừa tình hình tội phạm

a) Tình hình tội phạm

Đối tượng nghiên cứu trước tiên của tội phạm học chính là tình hình tội phạm – hiện tượng xã hội mang tính tiêu cực. Tội phạm học nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của hiện tượng này; các đặc điểm về số lượng và chất lượng, tính chất của tình hình tội phạm nói chung. Các đặc điểm đặc trưng của tình hình tội phạm trong từng địa phương, trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội: Các tính chất, đặc trưng của tội phạm ở các tầng lớp xã hội khác nhau, ở môi trường thành phố và nông thôn v.v… Ngoài ra, tội phạm học còn nghiên cứu tình hình các nhóm, dạng tội cụ thể. Ví dụ như tình hình các tội phạm về ma túy tình hình tội phạm của người chưa thành niên; tình hình tái phạm v.v…

Tất cả những kiến thức trên về tình hình tội phạm cho phép phát hiện sự phụ thuộc của tội phạm vào các hiện tượng quá trình xã hội khác. Mang tính chất kinh tế, chính trị, tư tưởng xã hội, văn hóa v.v… và các nhân tố khác như sự thay đổi dân số, quá trình di dân, di cư… Trên cơ sở đó, tội phạm học đưa ra dự đoán về tình hình tội phạm trong thời gian tới và đề ra các biện pháp tác động chính xác, hợp lí đảm bảo/hoạt động phòng chống tội phạm có hiệu quả cao.

b) Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm

Đối với nghiên cứu tiếp theo của tội phạm học là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. Bởi vì quá trình nghiên cứu tội phạm luôn gắn liền với quá trình tìm tòi phát hiện ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, tồn tại trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Do vậy nó có mối quan hệ và tác động qua lại với các hiện tượng quá trình xã hội khác mang tính chất tiêu cực và cả những hiện tượng xã hội tích cực. Nó chịu sự chi phối, quyết định của các hiện tượng, quá trình xã hội. Vì vậy, để phòng ngừa tội phạm, tội phạm học nghiên cứu làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình xã hội làm nảy sinh và quy định tội phạm như là hậu quả của các hiện tượng, quá trình đó. Nếu không xác định được nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thì không thể đứa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm, trong tội phạm học, nguyên nhân của tình hình phạm tội được hiểu là tổng hợp các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, tâm lí xã hội, tổ chức tiêu cực trong tác động qua lại và thâm nhập lẫn nhau, làm phát sinh, quyết định tình hình tội phạm. Các hiện tượng xã hội này là phổ biến và có sự lặp đi, lặp lại nhiều lần trong các mối quan hệ xã hội luôn luôn thay đổi. Còn điều kiện của tình hình tội phạm là những thiếu sót cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóạ… tự nó không làm phát sinh ra tội phạm mà chỉ có tác dụng thúc đẩy quá trình phát sinh tình hình tội phạm.

Những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tư tưởng, chính trị, văn hóa, giáo dục… dẫn đến sự hình thành các quan điểm cá nhân mang tính chống đối xã hội và từ quan điểm cá nhân này sẽ đẫn đến hành vi phạm tội. Tội phạm học còn tìm ra các điều kiện, các hiện tượng có vai trò ngăn ngừa sự ảnh hưởng của các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm và khám phá ra cơ chế tác động qua lại giữa nguyên nhân và điều kiện với nhau dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.

Giữa tội phạm và các hành vi tiêu cực khác không phải là tội phạm cò mối quan hệ qua lại khắng khít với nhau. Vì Vậy, tội phạm học cần phải nghiên cứu các hiện tượng chống đối xã hội có ảnh hưởng đến tội phạm và đưa ra cạc biện pháp; phòng ngừa chúng. Ví dụ: Tình hình sử dụng các chất kích thích như rượu, ma túy, mua bán dâm v.v…

Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được tội phạm học nghiên cứu ở ba mức độ khác nhau:

Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung (của mọi tội phạm)

Nguyên nhân và điều kiện của tình hình nhóm tội phạm;

Nguyên nhân và điều kiện của loại tội phạm cụ thể.

c) Nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội là một trong những đối tượng nghiên cứu của tội phạm học, bởi vì những lí do sau:

Thứ nhất, tình hình tội phạm không chỉ thể hiện, ở các hành vi phạm tội mà còn thể hiện ở những người, phạm tội nữa, do đó qua việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội chúng ta có thể đánh giá một phần tình hình tội phạm.

Thứ hai, nhân thân người phạm tội là cầu nối giữa môi trường xã hội với tội phạm. Nhân thân người phạm tội là tấm gương phản chiếu tất cả các hiện tượng, quá trình xã hội mà người phạm tội thu nhận được; những nguyên nhân và điều kiện phạm tội được thể hiện trong nhân thân người phạm tội. Do đó nếu không có sự phân tích các dấu hiệu xã hội, tính chất, đặc điểm về tâm lí, đạo đức, mối quan hệ giữa đặc điểm xã hội, và đặc điểm sinh học của con người phạm tội thì không thể hiểu đầy đủ nguyên nhân và điều kiện của hành vi phạm tội cụ thể và nguyên nhân, điều kiện của sự tồn tại tội phạm nói chung.

Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội làm sáng tỏ bản chất, các đặc điểm đặc trưng của nhân, thân người phạm tội, tính chất của khuynh hướng chống đối xã hội, mức độ kiên định của quan điểm, quan niệm chống đối xã hội; đưa ra phương pháp phân loại người phạm tội là cơ sở áp dụng các biện pháp tác động xã hội và lẽ ra các biện pháp giáo dục cải tạo người phạm tội, phòng ngừa tội phạm, ngăn ngừa tái phạm.

d) Phòng ngừa tình hình tội phạm

Ba đối tượng nghiên cứu trên là những chỉ dẫn khoa học giúp cho tội phạm, học có thể đưa ra hệ thống các, biện pháp mang tính nhà nước và xã hội để phòng ngừa tội phạm có hiệu quả; những phương hướng cơ bản của hoạt động phòng ngừa. Qua đó tội phạm học cũng nghiên cứu xây dựng hệ thống các chủ thể thực hiện công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các nguyên tắc về tổ chức công tác phòng ngừa, kế hoạch hoạt động phòng ngừa v.v…

Công tác phòng ngừa tình hình tội phạm cần phải phân loại rõ ràng để xác định được nhiệm vụ và mức độ của từng nhiệm vụ đó. Cơ sở phân loại có thể theo phạm vi, theo chủ thể theo nội dung, theo thời điểm thực hiện các biện pháp phòng ngừa; hoặc theo mức độ thì có thể chia làm ba mức độ phòng ngừa tội phạm sau:

Mức độ toàn xã hội (phòng ngừa xã hội chung).

Mức độ nhóm (phòng ngừa chuyển ngành tội phạm học).

Mức độ cá nhân (phòng ngừa cá biệt).

e) Các đối tượng nghiên cứu khác của tội phạm học

Ngoài bốn thành phần cơ bản nêu trên, trong đối tượng nghiên cứu của tội phạm học còn những vấn đề khác có ý nghĩa trong việc nghiên cứu những nội dung cơ bản của tội phạm học như:

Các phương pháp nghiên cứu tình hình tội phạm nguyên nhân và điều kiên của tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội biện pháp phòng ngừa và nâng cao hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa. Các phương pháp nghiên cứu được đưa ra dựa trên cơ sở nền tảng của phép biện chứng duy vật phù hợp với tính chất nội dung của đối tương nghiên cứu;

Nghiên cứu lí luận và thực tiễn đấu tranh với tội phạm ở các nước khác trên thế giới để sử dụng các kinh nghiệm quý báu của họ đồng thời phê phán các quan điểm phản khoa học của một số học giả tư sản và ngăn chặn ảnh hưởng của các quan điểm phần khoa học này.

Sự ra đời và phát triển của tội phạm học trong lịch sử.

Nạn nhân học.

Nghiên cứu vấn đề hợp tác quốc tế trong việc đấu tranh với tình hình tội phạm v.v…

Khái Niệm, Đặc Điểm, Bản Chất Và Ý Nghĩa Của Nhượng Quyền Thương Mại / 2023

MỞ ĐẦU Nhượng quyền thương mại – Franchising – đã ra đời và phát triển trong hơn sáu thập kỷ qua tại nhiều nước Âu – Mỹ. Còn tại Việt Nam, dù đã manh nha hình thành cách đây gần chục năm, nhưng hiện nay nhượng quyền thương mại vẫn là phương thức kinh doanh hoàn toàn khá mới mẻ. Với việc chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới thì vấn đề này càng phải được quan tâm nhiều hơn, nó đòi hỏi Nhà nước và các cơ quan quản lý phải đưa ra được những quy định, chính sách để cho loại hình này phát triển phù hợp với thông lệ của quốc tế và phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đó pháp luật Việt Nam đã có một số quy định về vấn đề nhượng quyền thương mại, qua bài tập này em xin đi sâu vào việc tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nhượng quyền thương mại.

1

NỘI DUNG I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm a) Một số khái niệm trên thế giới · Khái niệm nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh

Quốc tế (The International Franchise Association): Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã nêu ra Khái niệm nhượng quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”. · Khái niệm nhượng quyền thương mại của Cộng đồng chung Châu

quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo” của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền. – Bên nhượng quyền thương mại và bên nhận quyền thương mại luôn tồn tại ” quyền kiểm soát và trợ giúp” rất gắn bó và mật thiết. Đây được coi là một đặc điểm nổi bật của nhượng quyền thương mại so với các hoạt động thương mại khác. Nhượng quyền thương mại thực chất là việc mở rộng mô hình kinh doanh đã thành công trên thị trường bằng cách chia sẻ quyền kinh doanh thương mại cho các thương nhân nhận quyền. Tuy nhiên việc mở rộng mô hình kinh doanh, bên nhượng quyền thương mại luôn phải đối mặt với nguy cơ giảm uy tín thương mại nếu bên nhận quyền không thực hiện đúng cam kết. Điều này đòi hỏi bên nhượng quyền phải kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền, khiến bên nhận quyền phải tuân thủ chặt chẽ mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền, qua đó bảo vệ được thương hiệu của mình. – Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ nhượng quyền thương mại chính là hợp đồng nhượng quyền thương mại, chính hợp đồng thương mại thể hiện việc thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoậc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Theo Điều 285 Luật Thương mại 2005 thì ” hợp đồng thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” 3. Bản chất Trong thời gian trước đây ở Việt Nam nhượng quyền thương mại được coi như là một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ và chịu sự điều chỉnh của luật về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên về bản chất nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là hai hoạt động khác biệt. Nhượng quyền thương mại chính là việc nhượng quyền kinh doanh kèm theo đó là uy tín, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu, biểu tượng kinh doanh cũng như các kiến thức, bí quyết kinh doanh 5

dây truyền thiết bị công nghệ cho một thương nhân. Trên cơ sở đó thương nhân nhận quyền thương mại phát triển một cơ sở kinh doanh mới, một cơ sở có thể bán, sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa nhất định hoặc cung cấp các dịch vụ có cùng chất lượng, hình thức, phương thức phục vụ như thương nhân nhượng quyền và dưới thương hiệu của thương nhân nhượng quyền. Hay nói cách khác “nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của bên nhượng quyền thông qua việc chia sẻ quyền kinh doanh trên cùng một thương hiệu cho bên nhận quyền”. Ngược lại chuyển giao công nghệ thực chất là việc chuyển giao các kiến thức kỹ thuật từ người có kiến thức cho một người khác, trên cơ sở đó người nhận kiến thức khai thác các giá trị của công nghệ sản xuất ra hàng hóa sản phẩm theo ý kiến chủ quan của mình chứ không phải theo một khuôn mẫu, quy định nào từ phía bên chuyển giao công nghệ. Xuất phát từ sự khác biệt về bản chất đó, cho nên khi sử dụng các văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ điều chỉnh việc nhượng quyền thương mại đã tạo ra một số vấn đề bất cập trong thực tiễn, nhận thức được những vấn đề bất cập đó, đồng thời để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và tiến trình hội nhập, Luật Thương mại 2005 đã chính thức bổ sung thêm một số hoạt động thương mại vào phạm vi điều chỉnh đó là nhượng quyền thương mại. Đây là chế định góp phần hoàn thiện pháp luật về thương mại nói chung và nhượng quyền thương mại nói riêng. Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại độc lập, có những nét đặc thù so với chuyển giao công nghệ. Dưới góc độ kinh doanh, nó là một hình thức tiếp thị và phân phối hàng hóa, dịch vụ rất hiệu quả, theo đó, bên nhận quyền được cấp quyền kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với các tiêu chuẩn, hệ thống, phương thức đã được bên nhượng quyền thiết lập với sự trợ giúp, huấn luyện và kiểm soát của bêm nhượng quyền. Đổi lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền và phí bản quyền cho bên nhượng quyền. 6

7

* Đối với bên nhận quyền: + Tận dụng được nguồn lực, tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc xây dựng một mô hình kinh doanh đào tạo đội ngũ quản lý hay xây dựng một thương hiệu trên thị trường. + Giảm thiểu rủi ro: Mục đích chủ yếu của nhượng quyền chính là giảm thiểu rủi ro. Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ lệ thất bại cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người mới bước vào nghề, không có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các đặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh. Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí quyết thành công của các loại hình kinh doanh đặc thù mà bên nhượng quyền đã tích luỹ được từ những lần trải nghiệm trên thị trường tức là họ kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn. Bên nhận quyền không phải trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu. Bên nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên nhận quyền các nguyên tắc chung. + Được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi: bên nhượng quyền luôn có những ưu đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên bên nhận quyền. Do đó, bên nhận quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên liệu với khối lượng lớn theo một tỷ lệ khấu hao đầy hấp dẫn. Giá của các sản phẩm, nguyên liệu đầu vào thấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh tranh lớn. Nếu trên thị trường có những biến động lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận quyền trước. Điều này giúp cho bên nhận quyền ổn định đầu vào, tránh được những tổn thất từ biến động thị trường. + Rất phù hợp với những thương nhân có quy mô kinh doanh vừa và nhỏ vì mức cạnh tranh của các thương nhân này nếu tự mình xây dựng các thương hiệu cho riêng mình thì sẽ rất khó khăn.

8

II.

THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Trên thế giới Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn tại Mỹ nhưng thực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức có 2 – 3 điểm bán lẻ cùng hình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh. Năm 1840, các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán sản phẩm của họ. Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền. Năm 1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas. Trong thời gian này, phạm vi hoạt động nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phân phối và bán sản phẩm của các nhà sản xuất. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thức này đã thực sự phát triển rất mạnh mẽ. Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh và khách sạn. Vào thập niên 60-70, nhượng quyền bùng nổ và phát triển mạnh ở Mỹ, Anh và một số nước khác. Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá trên thế giới diễn ra rất nhanh, mạnh trong tất cả các lĩnh vực. Hình thức nhượng quyền càng phát huy vai trò của nó trên toàn thế giới. Theo các nghiên cứu mới nhất, cứ 12 phút lại có 1 hệ thống nhượng quyền mới ra đời. Ở Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại tiếp tục hoạt động sau 10 năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5% công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với 38% công ty độc

9

lập. Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức này trên thế giới là điều tất yếu. Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới : Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt 1.000 tỷ USD với khoảng 320.000 DN từ 75 ngành khác nhau. Nếu so sánh với GDP của Việt Nam cùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần và còn có dấu hiệu vượt hơn nữa trong những năm gần đây. Tại Mỹ, hoạt động nhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu người lao động tứ là 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có hơn 550.000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền mới ra đời. Ở Châu Âu, tổng cộng có hơn 4.000 hệ thống nhượng quyền thương mại; với 167.500 cửa hàng nhượng quyền thương mại, doanh thu đạt khoảng 100 tỉ Euro. Tạo ra hơn 1.5 triệu việc làm. Ở Anh, nhượng quyền thương mại là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với khoảng 32.000 DN nhượng quyền, doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ bảng Anh. Khu vực nhượng quyền thương mại cũng thu hút một lượng lao động lớn với khoảng 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bán lẻ. IFA cho hay, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu riêng ở khu vực châu Á đã tạo doanh thu hơn 50 tỷ USD mỗi năm. Ở Thái Lan số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD. Bộ thương mại công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thương hiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua nhượng quyền thương mại. Được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về công nghệ nhượng quyền thương mại. Bước đầu: năm 2004 đạt 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% tương tự các năm tiếp theo. Tại Nhật Bản, nhượng quyền thương mại phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004 đã có 1.074 hệ thống nhượng quyền thương mại và 10

220.710 cửa hàng nhận quyền thương mại, doanh thu từ công nghệ nhượng quyền thương mại là khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm 7%. Từ năm 1980, nhượng quyền thương mại vào Trung Quốc. Đến năm 2004, nước này đã có 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120.000 cửa hàng nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước này gia nhập WTO. Từ năm 2000, tại Trung Quốc, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%. Đặc biệt, hệ thống nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng với thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của nước ngoài. Ở Malaysia, nhìn thấy lợi ích của nhượng quyền thương mại từ 1992, Chính phủ thành lập chương trình quốc gia về chuyển nhượng (Franchise Development Programe – FDP) với 2 mục tiêu: Gia tăng số doanh nghiệp bán / mua nhượng quyền thương mại; Thúc đẩy phát triển những sản phẩm / dịch vụ đặc thù nội địa thông qua nhượng quyền thương mại. Ở Úc, tổng cửa hàng nhượng quyền thương mại khoảng 54.000, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động.

2. Tại Việt Nam Giữa thập niên 90, ở nước ta đã có một vài doanh nghiệp kinh doanh thiết bị lọc nước do Việt kiều về đầu tư đã đưa ra hình thức nhượng quyền thương mại, nhưng thị trường lúc bấy giờ chưa thực sự sôi động và bản thân thương hiệu của các doanh nghiệp đó cũng chưa mấy nổi tiếng nên đã không thành công. Mãi đến 3 – 4 năm trở lại đây, hình thức nhượng quyền thương mại mới rục rịch trở lại với các thương hiệu tên tuổi như Kinh Đô, Trung Nguyên, Lotteria, Phở 24… Theo ông Patrick Ho Lock Yin – Phó 11

tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh Đô, đến nay Kinh Đô có mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp trên cả nước với nhiều chủng loại sản phẩm bánh, kẹo. Trong đó, có nhiều cửa hàng Kinh Đô đã áp dụng phương thức nhượng quyền thương mại. Còn đối với Công ty cà phê Trung Nguyên, đây là thương hiệu cà phê số 1 và cũng là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên áp dụng mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại. Hiện Trung Nguyên đã có 1.000 quán cà phê ở Việt Nam, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc và đang tiếp tục phát triển tại Mỹ, Đức, Australia thông qua phương thức nhượng quyền thương mại này. Theo phân tích của chương trình dự báo bán lẻ tại chúng tôi cơ hội kinh doanh nhượng quyền thương mại ở Việt Nam rất lớn do có các yếu tố: kinh tế vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng tốt; các trung tâm mua sắm, đô thị, khu thương mại dịch vụ… còn phân bố rải rác, thích hợp để các thương hiệu mạnh phát triển chuỗi – hệ thống bán hàng; với thị trường tiềm năng hơn 84 triệu dân, hạ tầng dịch vụ ngày càng hoàn thiện và tâm lý kinh doanh thích làm chủ của người Việt Nam trong điều kiện vốn và kinh nghiệm đều có giới hạn thì kinh doanh nhượng quyền là phương pháp thích hợp nhất. Tóm lại đến nay, ở Việt Nam có một số hệ thống nhượng quyền rất thành công và một số đang trên đà phát tiển nhưng nhìn chung là còn rất khiêm tốn. Những hệ thống nhượng quyền thương mại nước ngoài đã vào Việt Nam, theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng gần 100 thương hiệu: Trà Dilmah, tập đoàn bán lẻ Bourbon Group ( BigC), KFC, Jollibee, Qualitea, khách sạn Sofitel, Hilton, Sharaton, Metro Cash & Carry, Bourbon, Parkson (Malaysia), v.v … Trong thời gian tới đây khi Việt Nam đã gia nhập WTO, sẽ có nhiều nhân tố làm phát triển thị trường nhượng quyền thương mại hơn nữa, đặc biệt khi Việt Nam lại được đánh giá là thị trường bán lẻ có tiềm năng cao.

12

III. NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại. Quan hệ nhượng quyền thương mại rất phức tạp, phụ thuộc vào đối tượng ” quyền thương mại” được chuyển giao đến mức độ như thế nào mà mỗi hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có những đặc trưng riêng và đặt ra những yêu cầu riêng cho việc áp dụng pháp luật. Vì vậy pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại cũng rất đa dạng và phong phú. Có thể tìm thấy những quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nhượng quyền thương mại trong nhiều văn bản như tại: +Bộ luật dân sự 2005 +Luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành là Nghị định 35/2006/NĐ_CP, Thông tư Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) số 09/2006/TT_BTM ngày 25-05-2006 +Luật sở hữu trí tuệ 2005 +Luật chuyển giao công nghệ 2006 +Luật cạnh tranh 2004 1. Quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại trong Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn. -Trong Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thì điều chỉnh trực tiếp hoạt động nhượng quyền thương mại và vấn đề nhượng quyền thương mại được ghi nhận từ Điều 284 đến Điều 291 trong Luật thương mại. Luật Thương mại mới chỉ đề cập những vấn đề chung nhất về nhượng quyền thương mại, đó là các quyền và nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền và thương nhân nhận quyền; nhượng quyền lại cho bên thứ 3; đăng ký nhượng quyền thương mại.

13

14

2. Yêu cầu thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại.” (Điều288) “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền có các nghĩa vụ sau đây: 1. Trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng nhượng quyền thương mại; 2. Đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao; 3. Chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền; tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của thương nhân nhượng quyền; 4. Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc chấm dứt; 5. Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại; 6. Điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại; 7. Không được nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấp thuận của bên nhượng quyền.” (Điều 289) Những quyền và nghĩa vụ trên chỉ là những quyền và nghĩa vụ cơ bản trong hoạt động nhượng quyền thương mại, nó mới chỉ dừng lại bên nhận quyền, bên nhượng quyền và bên thứ ba như quy định tại điều 290 “1. Bên nhận quyền có quyền nhượng quyền lại cho bên thứ ba (gọi là bên nhận lại quyền) nếu được sự chấp thuận của bên nhượng quyền. 2. Bên nhận lại quyền có các quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền quy định tại Điều 288 và Điều 289 của Luật này.” Chứ nó chưa đề cập một cách chi tiết các vấn đề như nhượng quyền thương mại trong nước và nhượng quyền

15

thương mại ở nước ngoài, các điều kiện nhượng quyền thương mại đối với các bên… Ngày 31 tháng 3 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại. Nghị định này là văn bản pháp luật đầu tiên cụ thể hoá các quy định về nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại năm 2005. Nghị định áp dụng với thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Để đảm bảo thực thi tốt các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực phân phối, Nghị định cũng quy định đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyên hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá, ngoài việc tuân thủ Nghị định, chỉ được thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại đối với những mặt hàng mà doanh nghiệp đó được kinh doanh dịch vụ phân phối theo cam kết quốc tế của Việt Nam. Nghị định cũng đưa ra quy định về điều kiện đối với bên nhượng quyền và bên nhận quyền, trong đó điều kiện quan trọng nhất là hệ thống kinh doanh mà bên nhượng quyền dự kiến dùng để nhượng quyền phải hoạt động ở Việt Nam tối thiểu là 01 năm. “Thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: 1. Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm. Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại.

16

2. Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 18 của Nghị định này. 3. Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại không vi phạm quy định tại Điều 7 của Nghị định này” (Điều 5: Điều kiện với bên nhượng quyền) “Thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại” (Điều 6: Điều kiện với bên nhận quyền) Ngoài ra, Nghị định cũng quy định chi tiết về cơ chế cung cấp thông tin, theo đó bên dự kiến nhận quyền sẽ có ít nhất là 15 ngày, nếu các bên không có thoả thuận khác, để xem xét toàn bộ tài liệu về hoạt động nhượng quyền (bao gồm bản sao hợp đồng mẫu, bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại) trước khi ký hợp đồng nhượng quyền thương mại: “Điều 8. Trách nhiệm cung cấp thông tin của Bên nhượng quyền 1. Bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp bản sao hợp đồng nhượng quyền thương mại mẫu và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại của mình cho bên dự kiến nhận quyền ít nhất là 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại nếu các bên không có thỏa thuận khác. Các nội dung bắt buộc của bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại do Bộ Thương mại quy định và công bố. 2. Bên nhượng quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho tất cả các Bên nhận quyền về mọi thay đổi quan trọng trong hệ thống nhượng quyền thương mại làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại của Bên nhận quyền. 3. Nếu quyền thương mại là quyền thương mại chung thì ngoài việc cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều này, Bên nhượng quyền thứ cấp còn phải cung cấp cho bên dự kiến nhận quyền bằng văn bản các nội dung sau đây: a) Thông tin về Bên nhượng quyền đã cấp quyền thương mại cho mình; 17

b) Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại chung; c) Cách xử lý các hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp trong trường hợp chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại chung.” “Điều 9. Trách nhiệm cung cấp thông tin của bên dự kiến nhận quyền Bên dự kiến nhận quyền phải cung cấp cho Bên nhượng quyền các thông tin mà Bên nhượng quyền yêu cầu một cách hợp lý để quyết định việc trao quyền thương mại cho Bên dự kiến nhận quyền.” Với mục đích đơn giản hoá các thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước, Nghị định đưa ra cơ chế đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại của thương nhân vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. “Cơ quan có thẩm quyền đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại có trách nhiệm đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại của thương nhân vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và thông báo bằng văn bản cho thương nhân về việc đăng ký đó” (khoản 2 Điều 17). Bên dự kiến nhượng quyền, trước khi tiến hành hoạt động nhượng quyền, chỉ cần đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo một trình tự thủ tục đơn giản, minh bạch. Theo Nghị định, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) là cơ quan đăng ký đối với các hoạt động nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam và ngược lại. Sở Thương mại, Sở Thương mại Du lịch là cơ quan đăng ký đối với các hoạt động nhượng quyền còn lại trong lãnh thổ Việt Nam. “1. Bộ Thương mại thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại sau đây: a) Nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền thương mại từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam; 18

b) Nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài, bao gồm cả hoạt động nhượng quyền thương mại từ lãnh thổ Việt Nam vào Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam. 2. Sở Thương mại, Sở Thương mại Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thương nhân dự kiến nhượng quyền đăng ký kinh doanh thực hiện đăng ký đối với hoạt động nhượng quyền thương mại trong nước trừ hoạt động chuyển giao qua ranh giới Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam” (Điều 18) Bên cạnh đó từ Điều 24 đến Điều 26 của Nghị định đã đưa ra vấn đề vi phạm pháp luật trong nhượng quyền thương mại và thẩm quyền xử lý trong đó liệt kê 9 hành vi vi phạm là: “a) Kinh doanh nhượng quyền thương mại khi chưa đủ điều kiện quy định; b) Nhượng quyền thương mại đối với những hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; c) Vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hoạt động nhượng quyền thương mại quy định tại Nghị định này; d) Thông tin trong bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại có nội dung không trung thực; đ) Vi phạm quy định về đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại; e) Vi phạm quy định về thông báo trong hoạt động nhượng quyền thương mại; g) Không nộp thuế theo quy định của pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; h) Không chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tiến hành kiểm tra, thanh tra; i) Vi phạm các quy định khác của Nghị định này”

19

Nghị định cũng quy định về thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và được cụ thể hóa trong Thông tư 09/2006/TT_BTM. Theo đó thương nhân dự kiến nhượng quyền thương mại phải lập hố sơ đề nghị nhượng quyền thương mại bao gồm: a) Đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại theo mẫu b) Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu c) Bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trong trường hợp nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài; bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền nơi thương nhân nước ngoài thành lập xác nhận trong trường hợp nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt nam; d) Bản sao có công chứng văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài trong trường hợp có chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ; đ) Giấy tờ chứng minh sự chấp thuận về việc cho phép nhượng quyền lại của bên nhượng quyền ban đầu trong trường hợp thương nhân đăng ký hoạt động nhượng quyền là bên nhượng quyền thứ cấp; Nếu các giấy tờ nói trên được thể hiện bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và được công chứng bởi cơ quan công chứng trong nước hoặc phải được cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận và thực hiện việc hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Sau khi lập xong hồ sơ đề nghị đăng ký nhượng quyền thương mại, thương nhân dự kiến nhượng quyền thương mại phải gửi hồ sơ đố đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm qưuyền nói trên thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mạivà thông báo bằng văn bản cho thương nhân về việc đăng ký đó. Trong trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa 20

Bạn đang đọc nội dung bài viết Khái Niệm, Bản Chất Và Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu) Của Tội Phạm / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!