Đề Xuất 12/2022 # Hệ Hô Hấp Của Gia Cầm / 2023 # Top 14 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Hệ Hô Hấp Của Gia Cầm / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hệ Hô Hấp Của Gia Cầm / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Gia cầm có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu – sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hô hấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí. Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành. Theo chức năng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gia cầm có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ.

Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau. Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính. Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng – xương cùng, có thể nối cả với các xoang của những xương này.

Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan.

Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, d ưới phổi, và kéo dài tới x ương sườn cuối cùng.

Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 – 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đường đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, toả vào các đốt sống cổ, ngực và xương sườn. Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ. Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực. Phần giữa lẻ của túi giữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim.

Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 – 150 cm 3, lớn hơn thể tích của phổi 10 – 12 lần.

Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh. Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của gia cầm thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thường.

Nằm giữa các cơ quan bên trong và dưới da, các túi khí đồng thời làm giảm khối lượng cơ thể gia cầm. Thêm nữa, sự phế hoá các xương cũng có ý nghĩa về mặt này. Ở thuỷ cầm, nhờ có các túi khí làm cho không những khối lượng riêng của cơ thể giảm mà quá trình trao đổi khí cũng kéo dài hơn. Vì vậy vịt có thể lặn dưới nước tới 15 phút liền.

1- Túi giữa xương đòn; 2 – Lối vào xương vai; 3 – Túi cổ; 4 – Túi ngực trước; 5 -Túi ngực sau; 6- Túi bụng; 7 – Phổi; 8 – Phế quản chính; 9 – Phế quản ngoài của túi bụng; 10 – Phế quản túi ngực sau; 11 – Phế quản túi bụng;

Gia cầm hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất. Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai.

Nồng độ khí cacbonic ở không khí thở ra của gia cầm tương đối lớn, ở vịt tới 4,9%, ở bồ câu 4,2%.

Tần số hô hấp ở gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giới tính, độ tuổi, khả năng sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển …). Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể.

Dung tích thở của phổi gia cầm được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất. Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 – 170cm 3, ở vịt 300 – 315cm 3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo được. Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại.

Trao đổi khí giữa không khí và máu gia cầm bằng phương thức khuyếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và trong máu gia cầm.

Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: oxi 20,94%; CO 2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon…) – 79,93%. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 – 14,5% oxi và 5 – 6,5% cacbonic.

Trong chăn nuôi gia cầm, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO 2 , H 2 S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn.

Bảng 1.2. Tần số hô hấp, thể tích phổi và túi khí của các loài gia cầm khác nhau

Chuong Vi: Hệ Hô Hấp / 2023

TRƯỜNG ĐH THỦ DẦU MỘT BÀI GIẢNG GV : Thân Thị Diệp Nga GIẢI PHẪU SINH LÝ TRẺ EMCHƯƠNG VI: HỆ HÔ HẤP

Hãy nêu cấu tạo của hệ hô hấpI- CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN HÔ HẤP Cơ quan hô hấp gồm Bộ phận dẫn khí & bộ phận hô hấp.BỘ PHẬN HÔ HẤPBỘ PHẬN DẪN KHÍ1- Cấu tạoCác cơ quan trong hệ hô hấp a-Bộ phận dẫn khí (đường hô hấp).

– Là 1 loạt các đường ống có đường kính khác nhau, khi hít vào hay thở ra không khí đều vận chuyển qua các ống đó. – Bộ phận dần khí bao gồm: khoang mũi- thanh quản- khí quản- phế quản.* Đường dẫn khí :– Mũi :– Họng :– Thanh quản:– Khí quản:– Phế quản– Có nhiều lông mũi– Có lớp niêm mạc tiết chất nhày– Có lớp mao mạch dày đặcCó nắp thanh quản( sụn thanh thiệt) có thể cử động để đậy kín đường hô hấp– Cấu tạo bởi 15-20 vòng sụn khuyết xếp chồng lên nhau– Có lớp niêm mạc tiết chất nhày với nhiều lông rung chuyển động liên tụcCấu tạo bởi các vòng sụn. Ở phế quản nơi tiếp xúc các phế nang thì không có vòng sụn mà là các thớ cơb- Bộ phận hô hấp: (gồm 2 lá phổi)Trong mỗi lá phổi có các thuỳ phổi (phổi phải có 3 thuỳ, phổi trái có 2 thuỳ) mỗi thuỳ có nhiều tiểu thuỳ, tận cùng các tiểu thuỳ là phế nang (ở người có khoảng 300 triệu phế nang) thành phế nang rất mỏng, có mang lưới mao mạch dày đặc. Sự trao đổi khí giữa túi phổi & máu được thực hiện qua thành phế nang và mao mạch.Màng phổi:

bao bọc bên ngoài phổi gồm lá thành & lá tạng (lá thành lót mặt trong lồng ngực, lá tạng phủ mặt ngoài của phổi) giữa lá thành & lá tạng có lớp dịch mỏng có tác dụng làm giảm sự ma sát giừa 2 lá và tránh sự va chạm của phổi với thành lồng ngực.*Đặc điểm cấu tạo của phổi làm tăng diện tích bề mặt trao đổi khí:

+ Số lượng phế nang lớn làm tăng diện tích trao đổi khí+ Bao ngoài hai lá phổi có hai lớp màng, lớp ngoài dính với lồng ngực, lớp trong dính với phổi, giữa hai lớp có chất dịch làm phổi nở rộng và xốp.O2CO2O2O2CO2CO2 Hô hấp là quá trình Tiếp nhận O2 từ ngoài vào tế bào và thải CO2 ra môi trường2-Chức năngII. Chức năng của các cơ quan trong hệ hô hấp :Đường dẫn khí:gồm các cơ quanMũi→Họng→Thanh quản→Khí quản→Phế quản : Có chức năng dẫn khí, làm ấm, làm ẩm không khí đi vào và bảo vệ phổi. Hai lá phổi: Gồm rất nhiều phế nang, phổi là nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường ngoàiII- ĐẶC ĐIỂM CƠ QUAN HÔ HẤP- SỰ HÔ HẤP Ở TRẺ EM. 1- Đặc điểm cơ quan hô hấp trẻ em.Nhìn chung hệ hô của trẻem có kích thước nhỏ hơn người lớn và chưa trưởng thành. Trung tâm điều hoà thân nhiệt chưa hoàn thiện do đó trẻ dễ bị rối loạn hô hấp. Cấu tao và chứac năng sinh lý thay đổi theo quá trình phát triển của cơ thể trẻ.a-Khoang mũi:

III- NHỮNG RỐI LOẠN VỀ HÔ HẤP Ở TRẺ EM 1- Hiện tượng đói ôxy (Thiếu dưỡng khí)Hiện tượng đói oxy xẩy ra khi phân áp oxy ở phế nang giảm do áp suất khí trời giảm. Phân áp oxy ở phế nang thay đổi rõ rệt khi áp suất khí trời tăng hay giảm: khi áp suất khí trời giảm thì phân áp oxy ở phế nang cũng giảm lúc đó xẩy ra hiện tượng thiếu dưỡng khí.Hiện tượng đói oxy thường gặp: xe đông người, chật chội, đứng lâu. nhà cửa chật chội, nóng bức, đun nấu bếp củi, bếp than trong nhà.2- Sổ mũi- ngạt mũi:Trẻ em thường bị ngạt mũi- sổ mũi do: – Trong niêm mạc mũi có nhiều mao mạch, tuyến nhầy, hệ thống thần kinh nhạy cảm với kích thích thời tiết làm cho hiện tượng bài tiết dịch tăng lên. – Khi trời lạnh sẽ làm tăng hiện tượng bài tiết dịch do giản mạch lám tăng lượng máu trong mũi nên nước mũi chảy ra nhiều. Vì vậy về mùa lạnh trẻ dễ bị sổ mũi, ngạt mũi do máu cương tụ làm hẹp khe mũi. – Ở trẻ em sổ mũi, ngạt mũi là hiện tượng phổ biến vì đường hô hấp của trẻ còn nhỏ, hẹp, ít tổ chức đàn hồi, nhiều mao mạch và bạch huyết. IV- VỆ SINH HỆ HÔ HẤP CHO TRẺ EM 1- Vệ sinh về sự thở: * Dạy trẻ biết thở đúng: – Dạy trẻ thở bằng mũi để không khí được lọc sạch và sưởi ấm đầy đủ (tại sao?). – Dạy trẻ biết tăng cường nhịp thở, khi vận động không nín thở. * Tạo điều kiện cho trẻ được hít thở không khí trong lành bằng cách: – Thông thoáng phòng học để tạo sự thay đổi không khí. – Cần có các biện pháp phòng chống bụi (vd: sân láng ximăng rải sỏi…) – Trồng cây xanh.2- Bảo vệ cơ quan hô hấp của trẻ

* Chăm sóc sự phát triển lồng ngực của trẻ bằng cách: – Rèn luyện tư thế đúng cho trẻ khi đi, đứng, nằm, ngồi. – Cho trẻ tập thể dục kết hợp thở sâu. – Cho trẻ tập hát, ngâm thơ nhằm phát triển dây thanh âm, thanh quản& phổiGiữ gìn cơ quan hô hấp cho trẻ:

– Tránh sự nhiễm lạnh cho trẻ nhất là hai bàn chân. – Không cho trẻ la hét hoặc hát ,đọc thơ quá to tiếng, (tại sao?) – Nhà cửa phải đảm bảo thoang mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông – Giáo dục cho trẻ một số thói quen vệ sinh, giữ gìn mũi, họng như: không lấy tay ngoáy mũi, không cho hột, hạt vào mũi, lấy khăn chùi mũi. THÂN ÁI CHÀO TẠM BIỆTCHÚC CÁC EM HỌC TỐT

diepnga@gmail.com

Tỏi: Phòng Và Trị Bệnh Viêm Hô Hấp Mãn Tính (Crd) Trên Gia Cầm / 2023

Hiện nay, chăn nuôi gia cầm rất phát triển, ước tính huyện Mỏ Cày nam số lượng đàn khoảng 1 triệu con, đem lại thu nhập khá cao cho người chăn nuôi, một số hộ đã xóa được nghèo nhờ chăn nuôi gà. Song song đó là tình hình dịch bệnh phức tạp, một trong những bệnh phổ biến và ảnh hưởng không nhỏ đến bà con chăn nuôi gia cầm là bệnh viêm hô hấp mãn tính (CRD). Bệnh có tỷ lệ lây nhiễm rất cao: ở đàn gà giống từ 10-15%, gà thịt 30-40%, gà đẻ 70-80%. Bệnh CRD ở dạng mãn tính, mặc dù tỷ lệ chết không cao, chỉ từ 5-7%, nhưng thiệt hại do bệnh gây ra rất lớn. Ðàn gà bị nhiễm bệnh giảm tỷ lệ tăng trọng 10-30%, giảm tỷ lệ đẻ trứng 10-12%. Một trong những biện pháp phòng bệnh CRD hiệu quả nhưng không ảnh hưởng đến tốc độ lớn của gia cầm, như cách thường sử dụng của bà con là dùng kháng sinh, thì việc bổ sung tỏi phòng bệnh gia cầm đang được bà con áp dụng phổ biến.

Tỏi có tác dụng đáng kể lên hệ thống miễn dịch, giúp tăng hoạt tính các thực bào lympho, có tính kháng khuẩn (ức chế 70 loại vi khuẩn gram (–) và gram (+)), kháng virus (cúm, cảm lạnh, lở mồm long móng), diệt ký sinh trùng và nguyên sinh động vật (giun đũa, giun kim, giun móc, lỵ amid), phòng tránh tốt các rối loạn men tiêu hóa, nhiễm khuẩn dạ dày ruột, chống các bệnh đường hô hấp. Ngoài ra tỏi còn giúp tăng hiệu lực kháng sinh vì thế tỏi sẽ giúp tăng hiệu quả của kháng sinh trong việc điều trị bệnh CRD.

Để giúp người chăn nuôi mạnh dạn sử dụng tỏi phòng bệnh CRD, năm 2010 tập thể trạm Khuyến nông Khuyến ngư Mỏ Cày Nam đã thực hiện thí nghiệm “Sử dụng tỏi phòng bệnh gia cầm”. Phương pháp thực hiện thí nghiệm: Chia đàn gà làm 2 lô, mỗi lô 500 con với điều kiện môi trường sống giống nhau. Trong đó:

* Lô1: sử dụng vitamin C + B complex + điện giải cho uống mỗi ngày.

* Lô 2: sử dụng rượu tỏi pha nước cho uống lúc gà được 7 ngày tuổi, 2 ngày uống 1 lần với liều: 60ml rượu tỏi pha trong 10 lít nước uống cho 200 con gà con (dưới 2 tháng tuổi) hoặc 100 con gà lớn (trên 2 tháng tuổi). Các ngày còn lại vẫn sử dụng vitamin C + B complex + điện giải. Vỏ tỏi còn lại treo ở các góc chuồng để khử mùi hôi.

Sau 4 tháng thực hiện kết quả như sau: Sử dụng tỏi giúp hạn chế bệnh đường hô hấp mãn tính trên đàn gà, giảm được chi phí thuốc, tỷ lệ chết, nâng cao hiệu quả chăn nuôi:

+ Giảm tỷ chết, loại thải: từ 14% xuống còn 2%

+ Giảm chi phí thuốc: 445đ/con

+ Thời gian xuất chuồng sớm hơn: 15 ngày.

+ Trọng lượng xuất chuồng cao hơn: 90g/con.

Do vậy, người chăn nuôi Bà con có thể bổ sung tỏi bằng cách: sử dụng tỏi tươi giã lấy nước cho gia cầm uống, xác trộn trong thức ăn (100g/10 lít nước) hoặc ngâm rượu tỏi (30-40g/100ml rượu, 5-6ml rượu tỏi/1 lít nước). Ngoài ra bà con có thể phơi khô nghiền thành bột trộn trong thức ăn hăng ngày với lượng 3%.

Sử dụng tỏi trong chăn nuôi gia cầm giúp hạn chế bệnh đường hô hấp mãn tính trên đàn gà, giảm được chi phí thuốc, nâng cao hiệu quả chăn nuôi: Giảm tỷ lệ chết, loại thải do nhiễm bệnh, giảm chi phí thuốc điều trị bệnh, gia cầm lớn nhanh. Ngoài ra, tỏi còn nâng cao hiệu quả kháng sinh trong việc điều trị bệnh CRD bằng phương pháp điều trị kết hợp kháng sinh và tỏi.

Tìm Hiểu Hệ Hô Hấp Của Động Vật / 2023

Giải phẫu hệ hô hấp

Đường dẫn khí

Xoang mũi

Xoang mũi nhỏ ở vùng đầu được giới hạn phía trước là hai lỗ mũi, sau có hai lỗ thông với yết hầu, trên là xương mũi, dưới là vòm khẩu cái ngăn cách với xoang miệng.

Nội dung trong bài viết

Giải phẫu hệ hô hấp

Đường dẫn khí

Hoạt động sinh lý hệ hô hấp

Hít vào

Thở ra

Tần số hô hấp

Sự trao đổi khí khi hô hấp

Ở chính giữa có một vách sụn và xương lá mía chia xoang mũi thành hai phần giống nhau là xoang mũi phải và trái.

+ Lỗ mũi: là hai hốc tròn hoặc hình trứng, là nơi cho không khí đi vào xoang mũi. Cấu tạo bởi một sụn giống neo tầu thủy làm chỗ bám cho các cơ mũi. Bên ngoài phủ bởi lớp da.

+ Cấu tạo xoang mũi:

– Xoang mũi được cấu tạo khung xương gồm các xương: xương mũi, xương hàm trên, liên hàm, khẩu cái, lá mía. Trong xoang mũi từ thành bên đi vào trong có 3 đôi xương ống cuộn là ống cuộn mũi (ở trên), ống cuộn hàm (ở dưới), ống cuộn sàng (ở sau). Đây là các xương rất mỏng cuộn lại và được phủ bởi niêm mạc nhằm tăng diện tích tiếp xúc không khí với niêm mạc mũi.

– Niêm mạc: niêm mạc bao phủ toàn bộ mặt trong xoang mũi chia làm hai khu:

Khu niêm mạc hô hấp: bao phủ 2/3 phía trước mặt trong xoang mũi. Niêm mạc màu hồng, có các lông để cản bụi, tế bào biểu mô phủ có lông rung, dưới là các tuyến tiết dịch nhầy và mạng lưới mao mạch dày đặc.

Chức năng: cản bụi, lọc sạch, tẩm ướt và sưởi nóng không khí trước khi đưa vào phổi.

Khu niêm mạc khứu giác nằm ở phía sau có màu vàng nâu. Trên niêm mạc chứa các tế bào thần kinh khứu giác, sợi trục của chúng tập trung lại thành dây thần kinh khứu giác liên hệ với bán cầu đại não.

Chức năng: nhận cảm giác mùi trong không khí.

Yết hầu

Yết hầu là một xoang ngắn, hẹp nằm sau xoang miệng và màng khẩu cái, trước thực quản và thanh quản, dưới hai lỗ thông lên mũi. Yết hầu là nơi giao nhau (ngã tư) giữa đường tiêu hóa và đường hô hấp. Nó có nhiệm vụ dẫn khí từ xoang mũi xuống thanh quản, dẫn thức ăn từ miệng xuống thực quản. Ngoài ra từ yết hầu còn có hai lỗ thông lên xoang nhĩ (bên trong màng nhĩ tai) nh ờ hai ống nhĩ hầu.

Thanh quản

Là một xoang ngắn hẹp nằm sau yết hầu và màng khẩu cái, trước khí quản, dưới thực quản. Thanh quản vừa là đường dẫn khí vừa là cơ quan phát âm.

– Cấu tạo: gồm một khung sụn, cơ và niêm mạc.

+ Khung sụn gồm 5 sụn:

Sụn tiểu thiệt giống như nửa lá cây nằm sau yết hầu.

Sụn giáp trạng giống như quyển sách mở nằm giữa sụn tiểu thiệt và sụn nhẫn tạo thành đáy thanh quản.

Sụn nhẫn giống cái nhẫn mặt đá nằm sau sụn giáp trạng, trước các vòng sụn khí quản.

Hai sụn phễu giống như hai tam giác nằm trên giáp trạng, hai đầu trên gắn liền nhau cùng với sụn tiểu thiệt làm thành hình vòi ấm.

– Ở giữa nhô vào lòng thanh quản là hai u tiếng.

– Hai đầu dưới cùng gắn lên mặt trên sụn giáp trạng. Hai u tiếng có hai bó dây tiếng (là hai bó sợi đàn hồi cao), cùng đi xuống bám vào đầu dưới hai sụn phễu.

+ Cơ thanh quản: gồm cơ nội bộ là các cơ nhỏ mỏng liên kết các sụn với nhau, cơ ngoại lai có chức năng vận động thanh quản.

+ Niêm mạc: phủ bề mặt thanh quản chia làm 3:

Vùng trước cửa thanh quản rất nhạy cảm. Vật lạ rơi xuống sẽ tạo phản xạ ho và bị đẩy ra ngoài.

Vùng giữa cửa thanh quản: ở đó có hai bó dây tiếng tạo nên cửa tiếng, sẽ phát ra âm cao thấp khác nhau.

Vùng sau của thanh quản: niêm mạc có tuyến nhầy để cản bụi.

Khí quản

Là ống dẫn khí từ thanh quản đến rốn phổi chia làm hai đoạn là đoạn cổ và đoạn ngực.

+ Đoạn cổ: 2/3 phía dưới đi dưới thực quản, 1/3 phía sau đi song song bên trái thực quản.

+ Đoạn ngực đi dưới thực quản

Khí quản được cấu tạo bởi 50 vòng sụn hình chữ C, hai đầu chữ C quay lên trên, nối với nhau bằng một băng sợi. Niêm mạc khí quản có tế bào biểu mô phía trên có lông rung, tuyến tiết dịch nhầy.

Phổi

+ Vị trí: gia súc có hai lá phổi hình nón, chiếm gần hết lồng ngực, nằm chùm lên tim, lá phổi phải thường lớn hơn phổi trái.

+ Cấu tạo:

– Ngoài cùng là lớp màng phổi bao bọc.

– Trong là mô phổi, mỗi lá phổi gồm nhiều thùy phổi. Thùy phổi là tập hợp của các đơn vị cấu tạo bởi tiểu thùy phổi.

Mỗi tiểu thùy hình đa giác có thể tích khoảng một cm³  bên trong gồm các chùm phế nang (giống chùm nho) và các túi phế nang (giống quả nho). Trong mỗi thùy phổi hệ thống phế quản phân nhánh dẫn khí vào đến chùm phế nang và túi phế nang.

– Số lượng phế nang ở phổi rất nhiều. Tổng diện tích bề mặt phế nang (để trao đổi khí) ở đại gia súc khoảng 500m 2 , ở tiểu gia súc: 50 – 80 m 2

Hoạt động sinh lý hệ hô hấp

Hít vào

– Khi các cơ hít vào co rút sẽ làm cho lồng ngực được kéo căng sang hai bên và từ trước về sau, đồng thời cơ hoành chuyển từ cong lồi về phía ngực thành một góc nhọn ép xuống các cơ quan trong xoang bụng.

– Kết quả của động tác hít vào là thể tích lồng ngực được mở rộng, áp lực âm trong khoang màng ngực tăng làm cho phổi giãn nở ra, áp lực trong phổi giảm nhỏ hơn áp lực không khí làm cho không khí theo đường dẫn khí, tràn vào các chùm phế nang của phổi và làm thể tích của phổi tăng lên.

Thở ra

– Khi thở ra các cơ thở ra (chiều cơ sắp xêp ngược chiều với cơ hít vào) co rút (trong khi đó các cơ hít vào giãn ra) ép lồng ngực vào trong, đồng thời có hoành chuyển từ trạng thái co sang giãn lại cong lồi lên phía ngực, thu hẹp thể tích lồng ngực từ sau ra trước.

– Kết quả của động tác thở ra làm cho lồng ngực bị thu hẹp lại theo cả 3 chiều không gian, phổi bị ép xẹp lại, áp lực trong phổi tăng lên, đẩy không khí thoát ra ngoài.

Tần số hô hấp

Là số lần hít vào và thở ra trong một phút.

Ví dụ: Ng ựa 8 – 16;  bò 10 – 30;  l ợn 20 – 30;  dê; 10 – 18; trâu 18 – 21; gà 22 – 25.

Tuy nhiên tần số hô hấp còn phụ thuộc vào trạng thái sinh lý, nhiệt độ môi trường, sự vận động của cơ thể.

Sự trao đổi khí khi hô hấp

+ Sự kết hợp và vận chuyển khí ô xy

– Khi gia súc hít vào lượng ô xy ở trong phổi cao hơn lượng ô xy ở trong máu cho nên ô xy khuyếch tán trong máu, kết hợp với sắc tố của hồng cầu và  được hồng cầu vận chuyển đến các mô bào của cơ quan trong cơ thể động vật. Tại mô bào do lượng ô xy giảm nên ô xy từ hồng cầu khuyếch tán vào mô bào, ô xy hóa các chất dinh dưỡng giải phóng ra năng lượng cho cơ thể hoạt động

+ Sự kết hợp và vận chuyển CO2

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hệ Hô Hấp Của Gia Cầm / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!