Đề Xuất 12/2022 # Giải Thích Cấu Tạo Của Phổi / 2023 # Top 18 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Thích Cấu Tạo Của Phổi / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Thích Cấu Tạo Của Phổi / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường. Phổi có tính chất đàn hồi, xốp và mềm. Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất. Phổi phải lớn hơn phổi trái.Dung tích bình quân của phổi khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

I. Hình thể ngoài

Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi.

Phổi có hai mặt, một đỉnh, một đáy và hai bờ. Mặt sườn lồi, áp vào thành ngực. Mặt trong là giới hạn hai bên của trung thất. Đáy phổi còn gọi là mặt dưới, áp vào cơ hoành.

2. Đỉnh phổi

Nhô lên khỏi lỗ trên của lồng ngực.

Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I. Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm.

3. Mặt sườn

3.1. Đặc điểm chung của hai phổi

– Áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn.

– Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi. Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy.

– Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi.

3.2. Đặc điểm riêng của từng phổi

– Phổi phải có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới.

– Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải.

4. Mặt trong

ặt trong hơi lõm, gồm hai phần:

– Phần trước quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là hố tim.

+ Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.

Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính. Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính.

+ Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải và rãnh động mạch chủ ở phổi trái.

+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

5. Các bờ

5.1. Bờ trước

Là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI.

5.2. Bờ dưới

Gồm hai đoạn:

+ Đoạn cong là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Đoạn này lách sâu vào ngách sườn hoành.

+ Đoạn thẳng là ranh giới giữa mặt trong và mặt hoành.

Sự phân chia của động mạch phổi

2.1. Thân động mạch phổi

Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

2.2. Động mạch phổi phải

– Đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính, rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

– Động mạch phổi phải cho các nhánh bên có tên gọi tương ứng với các thùy hoặc phân thuỳ mà nó cấp huyết:

+ Nhánh động mạch thuỳ trên: chia các nhánh đỉnh, nhánh sau xuống, nhánh trước xuống, nhánh trước lên, nhánh sau lên.

+ Nhánh động mạch thuỳ giữa: chia các nhánh bên và nhánh giữa.

+ Nhánh động mạch thuỳ dưới: chia các nhánh đỉnh của thuỳ dưới, nhánh đáy giữa, nhánh đáy trước, nhánh đáy bên, nhánh đáy sau.

2.3. Động mạch phổi trái

– Ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

– Động mạch phổi trái cũng cho các nhánh bên tương tự động mạch phổi phải, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt:

+ Chỉ có một nhánh sau của thùy trên.

+ Nhánh ứng thùy giữa gọi là nhánh lưỡi, chia làm 2 là nhánh lưỡi trên và dưới.

3. Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

– Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, các tĩnh mạch thùy, và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

– Ngoài các tĩnh mạch đi trong các đơn vị phổi như động mạch, các tĩnh mạch phổi thường đi ở chu vi hoặc ranh giới giữa các đơn vị phổi.

– Hai tĩnh mạch phổi phải trên và trái trên nhận khoảng 4 hoặc 5 tĩnh mạch ở thuỳ trên (và giữa).

– Hai tĩnh mạch phổi phải dưới và trái dưới nhận toàn bộ các tĩnh mạch của thuỳ dưới.

4. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

– Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

– Động mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

– Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

5. Bạch huyết

Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi, cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

6. Thần kinh

– Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi.

– Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang.

III. Màng phổi

Là một bao thanh mạc gồm hai lá: màng phổi thành và màng phổi tạng. Giữa hai lá là ổ màng phổi, hai ổ màng phổi riêng biệt không thông với nhau.

1. Màng phổi tạng

Màng phổi tạng mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

2. Màng phổi thành

Màng phổi thành phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

– Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

– Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất đi từ xương ức phía trước đến cột sống phía sau, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng. Ở rốn phổi, màng phổi thành quặt lên liên tục với màng phổi tạng. Ranh giới của đường quặt này không chỉ bao quanh cuống phổi mà còn kéo dài xuống dưới đến tận cơ hoành và các cơ quan lân cận. Chính vì vậy rốn phổi có hình chiếc vợt, cán vợt quay xuống dưới là phần mà màng phổi dính với nhau tạo nên dây chằng phổi.

– Màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

– Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.

3. Ổ màng phổi

Giải Thích Cấu Tạo Của Phổigiải Thik Cấu Tạo Của Phổi / 2023

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường. Phổi có tính chất đàn hồi, xốp và mềm. Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất. Phổi phải lớn hơn phổi trái.Dung tích bình quân của phổi khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

I. Hình thể ngoài

Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi.

Phổi có hai mặt, một đỉnh, một đáy và hai bờ. Mặt sườn lồi, áp vào thành ngực. Mặt trong là giới hạn hai bên của trung thất. Đáy phổi còn gọi là mặt dưới, áp vào cơ hoành.

2. Đỉnh phổi

Nhô lên khỏi lỗ trên của lồng ngực.

Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I. Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm.

3. Mặt sườn

3.1. Đặc điểm chung của hai phổi

– Áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn.

– Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi. Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy.

– Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi.

3.2. Đặc điểm riêng của từng phổi

– Phổi phải có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới.

– Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới. Ở phía trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải.

4. Mặt trong

ặt trong hơi lõm, gồm hai phần:

– Phần trước quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là hố tim.

+ Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.

Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính. Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính.

+ Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải và rãnh động mạch chủ ở phổi trái.

+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

5. Các bờ

5.1. Bờ trước

Là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI.

5.2. Bờ dưới

Gồm hai đoạn:

+ Đoạn cong là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Đoạn này lách sâu vào ngách sườn hoành.

+ Đoạn thẳng là ranh giới giữa mặt trong và mặt hoành.

Sự phân chia của động mạch phổi

2.1. Thân động mạch phổi

Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

2.2. Động mạch phổi phải

– Đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính, rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

– Động mạch phổi phải cho các nhánh bên có tên gọi tương ứng với các thùy hoặc phân thuỳ mà nó cấp huyết:

+ Nhánh động mạch thuỳ trên: chia các nhánh đỉnh, nhánh sau xuống, nhánh trước xuống, nhánh trước lên, nhánh sau lên.

+ Nhánh động mạch thuỳ giữa: chia các nhánh bên và nhánh giữa.

+ Nhánh động mạch thuỳ dưới: chia các nhánh đỉnh của thuỳ dưới, nhánh đáy giữa, nhánh đáy trước, nhánh đáy bên, nhánh đáy sau.

2.3. Động mạch phổi trái

– Ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

– Động mạch phổi trái cũng cho các nhánh bên tương tự động mạch phổi phải, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt:

+ Chỉ có một nhánh sau của thùy trên.

+ Nhánh ứng thùy giữa gọi là nhánh lưỡi, chia làm 2 là nhánh lưỡi trên và dưới.

3. Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

– Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, các tĩnh mạch thùy, và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

– Ngoài các tĩnh mạch đi trong các đơn vị phổi như động mạch, các tĩnh mạch phổi thường đi ở chu vi hoặc ranh giới giữa các đơn vị phổi.

– Hai tĩnh mạch phổi phải trên và trái trên nhận khoảng 4 hoặc 5 tĩnh mạch ở thuỳ trên (và giữa).

– Hai tĩnh mạch phổi phải dưới và trái dưới nhận toàn bộ các tĩnh mạch của thuỳ dưới.

4. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

– Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

– Động mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

– Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

5. Bạch huyết

Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi, cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

6. Thần kinh

– Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi.

– Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang.

III. Màng phổi

Là một bao thanh mạc gồm hai lá: màng phổi thành và màng phổi tạng. Giữa hai lá là ổ màng phổi, hai ổ màng phổi riêng biệt không thông với nhau.

1. Màng phổi tạng

Màng phổi tạng mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

2. Màng phổi thành

Màng phổi thành phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

– Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

– Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất đi từ xương ức phía trước đến cột sống phía sau, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng. Ở rốn phổi, màng phổi thành quặt lên liên tục với màng phổi tạng. Ranh giới của đường quặt này không chỉ bao quanh cuống phổi mà còn kéo dài xuống dưới đến tận cơ hoành và các cơ quan lân cận. Chính vì vậy rốn phổi có hình chiếc vợt, cán vợt quay xuống dưới là phần mà màng phổi dính với nhau tạo nên dây chằng phổi.

– Màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

– Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.

– Ngách màng phổi: được tạo bởi hai phần của màng phổi thành. Có hai ngách màng phổi chính :

+ Ngách sườn hoành: do màng phổi sườn gặp màng phổi hoành.

+ Ngách sườn trung thất: do màng phổi sườn gặp màng phổi trung thất.

3. Ổ màng phổi

– Hai lá màng phổi liên tục với nhau ở rốn phổi giới hạn nên một khoang là ổ màng phổi. Bình thường hai lá màng phổi tiếp xúc với nhau nên ổ màng phổi là một khoang ảo.

– Mỗi phổi có một ổ màng phổi kín, riêng biệt, không thông nhau.

4. Mạch máu và thần kinh của màng phổi

– Động mạch: màng phổi thành được cấp máu bởi những nhánh của các động mạch kế cận: động mạch ngực trong, các động mạch gian sườn, các nhánh trung thất và các động mạch của cơ hoành. Màng phổi tạng được cấp máu từ các động mạch phế quản.

– Tĩnh mạch: đi kèm với động mạch.

– Thần kinh: màng phổi sườn được chi phối bởi các thần kinh gian sườn, màng phổi trung thất và màng phổi sườn được chi phối bởi những nhánh cảm giác của thần kinh hoành. Màng phổi tạng được chi phối thần kinh từ đám rối phổi.

Giải Phẫu Phổi: Phổi Nằm Ở Đâu, Cấu Tạo Phổi Và Màng Phổi / 2023

Phổi là một cơ quan của hệ hô hấp, đóng vai trò là nơi trao đổi khí giữa không khí và máu. Khi phổi bị tổn thương sẽ dẫn đến bệnh phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đường thở.

Phổi được bao bọc trong 1 thanh mạc gồm 2 lá được gọi là màng phổi. Tính chất của phổi đàn hồi, xốp và mềm. Mỗi người có 2 lá phổi và cấu tạo bởi các thùy. Lá phổi bên phải (P) lớn hơn lá phổi trái (T). Mỗi phổi có dung tích khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

Phổi có hình thể ngoài, hình thể trong và màng phổi.

Có dạng 1/2 hình nón treo trong khoang màng phổi nhờ cuống phổi và dây chằng. Bao gồm: 1 đáy, 1 đỉnh, 2 mặt và 2 bờ. Mặt ngoài lồi áp vào thành ngực, mặt trong giới hạn 2 bên trung thất, mặt dưới (đáy phổi) áp vào cơ hoành.

Mặt hoành ở phía dưới và nắm áp sát lên vòm hoành, qua vòm hoành với các tạng của ổ bụng, điển hình là gan.

Nằm ở phía trên và nhô lên khỏi xương sườn I qua lỗ trên của lồng ngực, vị trí nằm ở nền cổ. Phía trước ở trên phần trong xương đòn 3cm. Ngang mức đầu sau của xương sườn I.

Đây là mặt lồi áp sát vào thành trong của lồng ngực ở phía sau và phía ngoài.

Có khe chếch chiếu lên thành ngực ở đầu sau ngang với mức đầu sau khoang gian sườn. Còn có vết ấn lên của các xương sườn.

Phổi (P) có thêm khe ngang, tách từ khe chếch ngang mức khoang gian sườn 4 ở đường nách và đầu trước ngang mức sụn sườn.

Mặt trong phổi quay vào phía trong và hơi lõm. Bao gồm: Phần cột sống và phần trung thất.

Rốn phổi có hình là chiếc vợt bóng bàn. Đây là nơi các thành phần của cuống phổi đi qua, bao gồm động mạch phổi, phế quản chính, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, hạch bạch huyết, các dây thần kinh.

Mặt trong phổi (P) có rãnh tĩnh mạch đơn, còn phổi (T) có rãnh động mạch chủ.

Có thân tĩnh mạch cánh tay đầu và rãnh động mạch dưới đòn ở trên rốn phổi.

Bờ trước chính là ranh giới của mặt trong và mặt sườn. Ở bên trái, bờ trước bị khuyết ở dưới thành khuyết tim của phổi (T).

Bờ trước phổi quây lấy mặt hoành. Bao gồm 2 đoạn: Đoạn cong ngăn cách mặt sườn và mặt hoành. Đoạn thẳng ngăn cách mặt trong và mặt hoành.

Trên bề mặt của phổi là các diện hình đa giác có kích thước to nhỏ khác nhau được gọi là các tiểu thùy phổi.

Hình thể trong

Được cấu tạo bởi những thành phần đi qua rốn phổi và phân chia nhỏ dần trong phổi. Mặt trong phổi bao gồm cây phế quản, động mạch phổi, tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, bạch huyết của phổi và thần kinh của phổi.

Sự phân chia của cây phế quản

Sự phân chia của động mạch phổi

Thân động mạch phổi bắt đầu từ lỗ động mạch phổi tâm thất phải. Tiếp đó chạy lên trên và ra sau đến bờ sau của quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi (T) và động mạch phổi (P).

Động mạch phổi (T): Chếch sang bên trái, lên trên bắt chéo mặt trước của phế quản chính trái. Sau đó chui vào rốn phổi phía trên phế quản thùy bên trái, đi ra ngoài rồi phía sau thân phế quản.

Động mạch phổi (P): Dài và lớn hơn động mạch phổi (T). Đi ngang từ trái sang phải chui vào rốn phổi phải ở dưới phế quản thù trên. Đi trước phế quản sau đó ra phía ngoài. Cuối cùng ở sau phế quản.

Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

Lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy. Sau đó tiếp tục thành những thân lớn dầu cho đến các tĩnh mạch gian hoặc tĩnh mạch thùy, tĩnh mạch trong phân thùy. Cuối cùng lưới mao mạch sẽ hợp thành hai tĩnh mạch phổi để đổ vào tâm nhĩ trái.

Tĩnh mạch phổi trên trái và tĩnh mạch phổi trên phải nhận khoảng 4 – 5 tĩnh mạch thùy trên và thùy giữa nếu là phổi phải. Hai tĩnh mạch dưới trái và phải nhận tĩnh mạch của toàn bộ thùy dưới.

Tĩnh mạch là nơi đi vào những giới hạn phân thùy.

Động mạch và tĩnh mạch phế quản

Đây là thành phần dinh dưỡng của phổi.

Động mạch phế quản được tách ra từ động mạch chủ sau hoặc trước của phế quản chính.

Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số ít nhánh nhỏ sẽ đổ vào tĩnh mạch phổi.

Bạch huyết của phổi

Bao gồm nhiều bạch huyết chảy trong nhu mô phổi và đổ vào các hạch bạch huyết phổi ở chỗ chia đôi các phế quản.

Các hạch bạch huyết đổ vào các hạch phế quản phổi nằm ở rốn phổi.

Đổ vào hạch khí dưới và hạch khí quản trên.

Thần kinh của phổi

Được tạo bởi các sợi thần kinh giao cảm và các nhánh dây thần kinh lang thang.

Thần kinh phổi được chia thành một mạng những nhánh đan ở xung quanh phế quản chính, chui và rốn phổi phân nhánh trong phổi.

Màng phổi có cấu tạo gồm hai lá màng phổi tạng và màng phổi thành. Giữa hai lá màng phổi này là hai ổ màng phổi. Bên trái và phải riêng biệt nhau.

Dính chặt và bọc sát vào nhu mô phổi, đồng thời lách cả vào khe gian thìu phổi.

Ở vị trí rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành tạo nên dây chằng phổi.

Màng phổi thành

Có vị trí nằm áp sát phía ngoài màng phổi tạng. Màng phổi thành lót mặt trong lồng ngực tạo túi màng phổi. Bao gồm: Màng trung thất, màng phổi sườn, màng phổi hoàng, mạc hoành.

Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi.

Góc nhị diện hợp bởi 2 phần màng phổi được gọi là ngách màng phổi. Có 2 ngách màng phổi là ngách sườn hoành và ngách sườn trung thất.

Nằm giữa màng phổi thành và màng phổi tạng, đây là một khoang ảo. Mỗi phổi có một ổ màng phổi riêng và không thông nối với nhau.

Phổi là một cơ quan hô hấp có chức năng trao đổi khí giữa không khí và máu. Quá trình này được thực hiện trên toàn bộ mặt trong của phế quản. Để loại bỏ những vật thể lạ ra ngoài thì những phế nang có niêm mạc bao phủ luôn rung chuyển.

Các tế bào phổi đóng vai trò duy trì sự sống tế bào nội mô và biểu mô. Tế bào phổi tạo nên hàng rào ngăn chặn các phân tử và nước đi qua nhiều vào mô kẽ. Các tế bào phổi cũng tham gia vào quá trình vận chuyển, tổng hợp nhiều chất trong cơ thể.

Phổi nằm ở đâu bên trái hay bên phải cơ thể con người

Giữa hai buồng phổi là khí quản. Khí quản sẽ phân chia nhánh phế quản chính. Tim nằm ở giữa hai phổi trung thất, hơi lệch về bên trái.

Như vậy, qua thông tin giải phẫu phổi tóm tắt trên, bạn đã biết được cấu tạo của phổi và màng phổi. Đồng thời biết được phổi nằm ở đâu trong cơ thể con người, chức năng của phổi là gì. Mong rằng thông tin được chia sẻ giúp bạn có thêm được những kiến thức bổ ích.

Giải Phẫu Phổi – Màng Phổi / 2023

Mục tiêu bài giảng

1. Mô tả được hình thể ngoài của phổi.

3. Vẽ cây phế quản và kể tên các phân thuỳ phế quản – phổi.

4. Mô tả được màng phổi và ổ màng phổi.

Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường. Phổi có tính chất đàn hồi, xốp và mềm. Hai phổi phải và trái nằm trong lồng ngực, cách nhau bởi trung thất. Phổi phải lớn hơn phổi trái.Dung tích bình quân của phổi khoảng 5000ml khi hít vào gắng sức.

I. Hình thể ngoài

Phổi có dạng một nửa hình nón, được treo trong khoang màng phổi bởi cuống phổi và dây chằng phổi.

Phổi có hai mặt, một đỉnh, một đáy và hai bờ. Mặt sườn lồi, áp vào thành ngực. Mặt trong là giới hạn hai bên của trung thất. Đáy phổi còn gọi là mặt dưới, áp vào cơ hoành.

Hình 1. Mặt sườn của phổi

A. Phổi phải                                                     B.  Phổi trái

1. Đỉnh phổi  2. Thùy trên  3. Bờ trước  4. Khe ngang  5. Khuyết tim  6. Thùy giữa

7. Khe chếch    8. Thùy dưới   9. Bờ dưới

1. Đáy phổi

2. Đỉnh phổi

Nhô lên khỏi lỗ trên của lồng ngực.

Phía sau, đỉnh phổi ngang mức đầu sau xương sườn I. Phía trước, đỉnh phổi cao hơn phần trong xương đòn khoảng 3cm.

3. Mặt sườn

3.1. Đặc điểm chung của hai phổi

– Áp sát mặt trong lồng ngực, có vết ấn của các xương sườn.

– Có khe chếch chạy từ ngang mức gian sườn 3 ở phía sau xuống đáy phổi, chia phổi ra thành các thùy phổi. Mặt các thùy phổi áp vào nhau gọi là mặt gian thùy.

– Trên bề mặt phổi có các diện hình đa giác to, nhỏ khác nhau; đó là đáy của các tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi.

3.2. Đặc điểm riêng của từng phổi

– Phổi phải có thêm khe ngang, tách từ khe chếch, ngang mức gian sườn 4, nên phổi phải có ba thuỳ: trên, giữa và dưới.

– Phổi trái chỉ có khe chếch, nên phổi trái chỉ có hai thuỳ: trên và dưới. Ở phía  trước dưới thuỳ trên, có một mẫu phổi lồi ra goi là lưỡi của phổi trái, ứng với phần thuỳ giữa của phổi phải.

4. Mặt trong

Hình 2. Mặt trong của phổi

A.  Phổi phải                                       B. Phổi trái

1. Rãnh ĐM dưới đòn   2. Rãnh TM cánh tay đầu  3. ĐM phổi   4.  Bờ trước   5. Khe ngang

6. Khe chếch   7. Rãnh TM đơn   8. Phế quản chính    9. Các TM phổi    10. Rãnh thực quản

11. Dây chằng phổi   12. Bờ dưới   13. Rãnh ĐM chủ

Mặt trong hơi lõm, gồm hai phần:

– Phần trước quây lấy các tạng trong trung thất, gọi là phần trung thất. Ở phổi phải, có một chỗ lõm gọi là ấn tim; còn phổi trái, có một hố sâu gọi là hố tim.

+ Giữa mặt trong của hai phổi, có rốn phổi hình vợt, cán vợt quay xuống dưới. Trong rốn phổi có các thành phần của cuống phổi đi qua như: phế quản chính, động mạch phổi, hai tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các dây thần kinh và hạch bạch huyết.

Ở rốn phổi phải, động mạch phổi nằm trước phế quản chính; còn ở phổi trái động mạch nằm trên phế quản chính. Hai tĩnh mạch phổi nằm trước và dưới phế quản chính.

+ Phía sau rốn phổi có rãnh tĩnh mạch đơn và ấn thực quản ở phổi phải và rãnh động mạch chủ ở phổi trái.

+ Phía trên rốn phổi có rãnh động mạch dưới đòn và rãnh thân tĩnh mạch cánh tay đầu.

5. Các bờ

5.1. Bờ trước

Là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Bờ trước nằm gần đường giữa, kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn VI ở phổi phải, ở phổi trái có khuyết tim nên bờ trước kéo dài từ đỉnh phổi đến đầu trong sụn sườn số IV thì vòng ra ngoài đến sụn sườn VI.

5.2. Bờ dưới

Gồm hai đoạn:

+ Đoạn cong là ranh giới giữa mặt sườn và mặt hoành. Đoạn này lách sâu vào ngách sườn hoành.

+ Đoạn thẳng là ranh giới giữa mặt trong và mặt hoành.

II. Cấu tạo hay hình thể trong của phổi

Phổi được cấu tạo bởi các thành phần đi qua rốn phổi phân chia nhỏ dần trong phổi. Đó là cây phế quản, động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch mạch phế quản, bạch mạch, các sợi thần kinh và các mô liên kết.

1. Sự phân chia của cây phế quản

Phế quản chính chui vào rốn phổi và chia thành các phế quản thuỳ. Mỗi phế quản thuìy dẫn khí cho một thuỳ phổi và lại chia thành các phế quản phân thuỳ, dẫn khí cho một phân thuỳ phổi. Phế quản phân thuỳ chia ra các phế quản hạ phân thuỳ và lại chia nhiều lần nữa cho tới phế quản tiểu thuỳ, dẫn khí cho một tiểu thuỳ phổi.

Tiểu thuỳ phổi là đơn vị cơ sở của phổi gồm các tiểu phế quản hô hấp dẫn khi vào ống phế nang, túi phế nang và sau cùng là phế nang. Mặt phế nang có các mao mạch phổi để trao đổi khí giữa máu và không khí.

Tóm tắt sự phân thuỳ phế quản – phổ

 Phổi phải                     Phổi trái

A. Thuỳ trên                             A. Thuỳ trên

1. Phân thuỳ đỉnh                       1-2. Phân thuỳ đỉnh – sau

2. Phân thùy sau                                    3. Phân thuỳ trước

3. Phân thuỳ trước

B. Thuỳ giữa

4. Phân thuỳ bên                                  4. Phân thuỳ lưỡi trên

5. Phân thùy giữa                                5. Phân thuỳ lưỡi dưới

C. Thuỳ dưới                                                      B. Thuỳ dưới

6. Phân thuỳ đỉnh                                 6. Phân thuỳ đỉnh

7. Phân thuỳ đáy giữa                           7. Phân thuỳ đáy giữa

8. Phân thuỳ đáy trước                          8. Phân thuỳ đáy trước

9. Phân thuỳ đáy bên                           9. Phân thuỳ đáy bên

10. Phân thuỳ đáy sau                           10. Phân thuỳ đáy sau.

Hình 3. Sự phân chia của cây phế quản.

A. Cây phế quản nhìn từ trước                                             B. Cây phế quản nhìn từ sau

1. Sụn giáp       2. Sụn nhẫn    3. Vòng sụn khí quản    4. Phế quản chính trái

5. Phế quản chính phải            6. Cựa khí quản               7. Thành màng

Phổi phải:

B1. PQ phân thùy đỉnh                        B2. PQ phân thùy sau              B3. PQ phân thùy trước

B4. PQ phân thùy bên                        B5. PQ phân thùy giữa

B6. PQ phân thùy đỉnh (thùy dưới)      B7. PQ phân thùy đáy giữa         B8. PQ phân thùy đáy trước

B9. PQ phân thùy đáy bên                 B10. PQ phân thùy đáy sau

Phổi trái

B’12. PQ phân thùy đỉnh sau                          B’3. PQ phân thùy trước

B’4. PQ phân thùy lưỡi trênbên                       B’5. PQ phân thùy lưỡi dưới

B’6. PQ phân thùy đỉnh (thùy dưới)                 B’7. PQ phân thùy đáy giữa

B’8. PQ phân thùy đáy trước                           B’9. PQ phân thùy đáy bên                  B’10. PQ phân thùy đáy sau

2. Sự phân chia của động mạch phổi

2.1. Thân động mạch phổi

Thân động mạch phổi bắt đầu đi từ lỗ động mạch phổi của tâm thất phải lên trên, sang trái và ra sau. Khi tới bờ sau quai động mạch chủ thì chia thành động mạch phổi phải và động mạch phổi trái.

1. Khí quản  2. Phế quản chính phải   3, 4, 5. Phế quản thùy trên, giữa và dưới phổi phải

6. ĐM phổi phải                      7. Thân ĐM phổi                     8. ĐM phổi trái

9, 10. Phế quản thùy dưới, trên phổi trái                      11. Phế quản chính trái

2.2. Động mạch phổi phải

– Đi ngang sang phải, chui vào rốn phổi phải ở trước phế quản chính, rồi ra phía ngoài và cuối cùng ở sau phế quản.

– Động mạch phổi phải cho các nhánh bên có tên gọi tương ứng với các thùy hoặc phân thuỳ mà nó cấp huyết:

+ Nhánh động mạch thuỳ trên: chia các nhánh đỉnh, nhánh sau xuống, nhánh trước xuống, nhánh trước lên, nhánh sau lên.

+ Nhánh động mạch thuỳ giữa: chia các nhánh bên và nhánh giữa.

+ Nhánh động mạch thuỳ dưới: chia các nhánh đỉnh của thuỳ dưới, nhánh đáy giữa, nhánh đáy trước, nhánh đáy bên, nhánh đáy sau.

2.3. Động mạch phổi trái

– Ngắn và nhỏ hơn động mạch phổi phải, đi chếch lên trên sang trái, bắt chéo mặt trước phế quản chính trái, chui vào rốn phổi ở phía trên phế quản thuỳ trên trái.

– Động mạch phổi trái cũng cho các nhánh bên tương tự động mạch phổi phải, nhưng cũng có một vài điểm khác biệt:

+ Chỉ có một nhánh sau của thùy trên.

+ Nhánh ứng thùy giữa gọi là nhánh lưỡi, chia làm 2 là nhánh lưỡi trên và dưới.

3. Sự phân chia của tĩnh mạch phổi

– Hệ thống lưới mao mạch phế nang đổ vào tĩnh mạch quanh tiểu thùy, rồi tiếp tục thành những thân lớn dần cho tới các tĩnh mạch gian phân thùy hoặc tĩnh mạch trong phân thùy, các tĩnh mạch thùy, và cuối cùng họp thành hai tĩnh mạch phổi ở mỗi bên phổi, dẫn máu giàu ôxy đổ về tâm nhĩ trái. Hệ thống tĩnh mạch phổi không có van.

– Ngoài các tĩnh mạch đi trong các đơn vị phổi như động mạch, các tĩnh mạch phổi thường đi ở chu vi hoặc ranh giới giữa các đơn vị phổi.

– Hai tĩnh mạch phổi phải trên và trái trên nhận khoảng 4 hoặc 5 tĩnh mạch ở thuỳ trên (và giữa).

– Hai tĩnh mạch phổi phải dưới và trái dưới nhận toàn bộ các tĩnh mạch của thuỳ dưới.

4. Động mạch và tĩnh mạch phế quản

– Là thành phần dinh dưỡng của phổi.

– Động mạch phế quản nhỏ, là nhánh bên của động mạch chủ. Thường có một động mạch bên phải và hai ở bên trái.

– Tĩnh mạch phế quản đổ vào các tĩnh mạch đơn, một số nhánh nhỏ đổ vào tĩnh mạch phổi.

5. Bạch huyết

Gồm nhiều mạch bạch huyết chạy trong nhu mô phổi, đổ vào các hạch bạch huyết phổi, cuối cùng đổ vào các hạch khí quản trên và dưới ở chổ chia đôi của khí quản.

6. Thần kinh

– Hệ thần kinh giao cảm: xuất phát từ đám rối phổi.

– Hệ phó giao cảm: các nhánh của dây thần kinh lang thang.

III. Màng phổi

Là một bao thanh mạc gồm hai lá:  màng phổi thành và màng phổi tạng. Giữa hai lá là ổ màng phổi, hai ổ màng phổi riêng biệt không thông với nhau.

1. Màng phổi tạng

Màng phổi tạng mỏng, trong suốt bao phủ toàn bộ bề mặt của phổi, ngoại trừ rốn phổi và dính chặt vào nhu mô phổi, lách cả vào các khe gian thuỳ. Ở rốn phổi, màng phổi tạng quặt ra để liên tiếp với màng phổi thành.

2. Màng phổi thành

Màng phổi thành phủ lên toàn bộ các thành của khoang chứa phổi. Bao gồm:

– Màng phổi sườn: áp sát vào mặt trong lồng ngực, ngăn cách với thành ngực bởi lớp mô liên kết mỏng gọi là mạc nội ngực.

– Màng phổi trung thất: là giới hạn bên của trung thất đi từ xương ức phía trước đến cột sống phía sau, áp sát phần trung thất của màng phổi tạng. Ở rốn phổi, màng phổi thành quặt lên liên tục với màng phổi tạng. Ranh giới của đường quặt này không chỉ bao quanh cuống phổi mà còn kéo dài xuống dưới đến tận cơ hoành và các cơ quan lân cận. Chính vì vậy rốn phổi có hình chiếc vợt, cán vợt quay xuống dưới là phần mà màng phổi dính với nhau tạo nên dây chằng phổi.

– Màng phổi hoành: phủ lên mặt trên cơ hoành. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là mạc hoành màng phổi.

– Đỉnh màng phổi là phần màng phổi thành tương ứng với đỉnh phổi. Phần mạc nội ngực ở đây được gọi là màng trên màng phổi. Đỉnh màng phổi được các dây chằng treo đỉnh màng phổi cố định vào cột sống cổ, xương sườn, xương đòn.

Hình 5. Màng phổi

1. Khe ngang  2. Ngách sườn trung thất 3. Khe chếch 4. Ngách sườn hoành  5. Đỉnh phổi  6. Tuyến ức

– Ngách màng phổi: được tạo bởi hai phần của màng phổi thành. Có hai ngách màng phổi chính :

+ Ngách sườn hoành: do màng phổi sườn gặp màng phổi hoành.

+ Ngách sườn trung thất: do màng phổi sườn gặp màng phổi trung thất.

3. Ổ màng phổi

– Hai lá màng phổi liên tục với nhau ở rốn phổi giới hạn nên một khoang là ổ màng phổi. Bình thường hai lá màng phổi tiếp xúc với nhau nên ổ màng phổi là một khoang ảo.

– Mỗi phổi có một ổ màng phổi kín, riêng biệt, không thông nhau.

4. Mạch máu và thần kinh của màng phổi

– Động mạch: màng phổi thành được cấp máu bởi những nhánh của các động mạch kế cận: động mạch ngực trong, các động mạch gian sườn, các nhánh trung thất và các động mạch của cơ hoành. Màng phổi tạng được cấp máu từ các động mạch phế quản.

– Tĩnh mạch: đi kèm với động mạch.

– Thần kinh: màng phổi sườn được chi phối bởi các thần kinh gian sườn, màng phổi trung thất và màng phổi sườn được chi phối bởi những nhánh cảm giác của thần kinh hoành. Màng phổi tạng được chi phối thần kinh từ đám rối phổi.

Văn Bản Và Giải Thích Cấu Trúc / 2023

VĂN BẢN VÀ GIẢI THÍCH CẤU TRÚC

PAUL RICOEUR (1913-2005)

Chúng ta hãy xuất phát từ sự phân tích văn bản và từ vị thế tự trị mà chúng ta thừa nhận như là đặc điểm của văn bản so với lời nói và sự thay thế từ ngữ. Cái mà chúng ta gọi là sự che khuất thế giới thực nhờ thế giới giả định của các văn bản, tạo ra cho chúng ta hai khả năng: Chúng ta có thể như là những người đọc trước sự bấp bênh của văn bản, có thể ứng xử với văn bản như là cái không thế giới, không tác giả; và nếu làm như vậy là chúng ta giải thích văn bản theo các mối quan hệ bên trong của nó, tức là theo cấu trúc văn bản. Hoặc là chúng ta có thể triệt tiêu sự bấp bênh của văn bản, làm cho văn bản hoàn thành, trở nên trọn vẹn bằng từ ngữ qua đó đưa văn bản trở lại với sự giao tiếp trực tiếp. Đây là lúc chúng ta diễn giải văn bản. Cả hai khả năng đều thuộc về sự đọc, và sự đọc là biện chứng của hai thái độ trên.

Ý định này không chỉ hoàn toàn có thể mà còn hợp lý nữa: trong thực tế văn bản như là văn bản và sự hiện thân của các mạng lưới văn bản như là văn học làm cho sự trì hoãn yếu tố tiên nghiệm hai mặt này của lời nói hướng tới thế giới và thế giới khác, trở nên hợp lý. Thái độ giải thích có xuất phát điểm như thế này trước văn bản là có thể được.

Khác với suy nghĩ của Dilthey, chúng tôi không lấy thái độ giải thích từ mô hình nhận thức luận khác về lĩnh vực nhận thức khác, mà từ chính lĩnh vực ngôn ngữ. Mô hình này không phải là mô hình khoa học tự nhiên được lan rộng sang các khoa học tinh thần một cách muộn màng. Sự đối đầu tự nhiên – tinh thần không đóng vai trò gì trong nó cả. Nếu chúng ta nói về sự vay mượn thì điều đó xảy ra ngay trên lĩnh vực đó, bên trong các ký hiệu ngôn ngữ. Chúng ta xem xét các văn bản theo những nguyên tắc giải thích mà ngôn ngữ học đã vận dụng thành công đối với những hệ thống đơn giản của các ký hiệu giống như ở ví dụ ngôn ngữ (langue) đối diện với lời nói (parole). Như chúng ta biết, ngôn ngữ – lời nói (langue – parole) là sự phân biệt cơ bản tạo nên đối tượng thống nhất cho ngôn ngữ học. Trong khi lời nói thuộc về tâm lý học, sinh lý học, xã hội học, thì ngôn ngữ chỉ thuộc về ngôn ngữ học, giống như trò chơi mà các quy tắc của nó được người ta thực hiện trong lời nói. Chúng ta cũng đều biết rằng ngôn ngữ học chỉ biết đến cái hệ thống của những đơn vị bị tước bỏ khỏi các nghĩa thuần khiết, mỗi một đơn vị chỉ có thể xác định được qua sự tách biệt của nó ra khỏi toàn bộ những đơn vị còn lại. Các đơn vị, – cứ cho là chúng khác biệt, như là các đơn vị của sự kết nối âm vị học hay là những cái mang nghĩa như là các đơn vị từ vựng – là những đơn vị đứng đối diện. Cái trò chơi hỗn hợp các mâu thuẫn và những mâu thuẫn bên trong nội bộ các đơn vị nghĩa thầm kín, đã quyết định khái niệm cấu trúc trong ngôn ngữ học.

Có thể nêu những nhận xét phản bác lại điều đó trước khi chúng ta cho vận dụng: Không thể dùng những quy luật chỉ có hiệu lực đối với ngôn ngữ qua những phẩm chất khác biệt của lời nói để giải thích văn bản. Văn bản – thay cho lời nói – phải chăng không đứng cùng một phía giống như lời nói so với ngôn ngữ? Phải chăng không cần phải đối chứng diễn ngôn với ngôn ngữ mà rốt cuộc cũng chính là trình tự của các câu? So với sự phân biệt diễn ngôn – ngôn ngữ thì sự phân biệt giữa nói – viết phải chăng là thứ yếu, bởi vì cả lời nói và sự viết đều cùng ở phía diễn ngôn? Những nhận xét này đều hoàn toàn hợp lý, chúng cho phép chúng ta suy nghĩ rằng mô hình giải thích cấu trúc không tận dụng những thái độ có thể có trước văn bản. (N. D. nhấn mạnh). Tuy vậy, trước khi chỉ ra những giới hạn của thái độ giải thích, chúng ta cần nắm bắt được sự phong phú của nó. Giả thuyết làm việc của giải thích cấu trúc về mọi văn bản là cho dù sự viết giống như lời nói quan hệ với ngôn ngữ, đều ở phía diễn ngôn, thì đặc trưng của sự viết – so với lời nói thực thụ – được xác lập trên những đặc điểm cấu trúc có thể nhận biết qua những tương đồng bên trong của sự thể hiện ngôn ngữ. Giả thuyết này hoàn toàn xác đáng, nhờ việc xác định được rằng với những điều kiện nhất định, các đơn vị lớn của ngôn ngữ, tức là các đơn vị phía trên câu – thuộc vùng ảnh hưởng của ngôn ngữ học – được tổ chức giống với các đơn vị nhỏ hơn câu của ngôn ngữ.

Có thể nói rằng chúng ta đã giải thích thần thoại như thế nào, nhưng đáng lẽ ra chúng ta phải diễn giải nó. Với sự giúp đỡ của phân tích cấu trúc, chúng ta đã làm nổi bật cái lô gíchcủa những hoạt động liên kết “các gói quan hệ” nhất định với những người khác. Cái lô gích này tạo nên “quy luật cấu trúc thần thoại đã nói đến” (tr. 241). Chúng tôi không quên ghi nhớ rằng cái tuyệt vời của quy luật này là sự đọc và nó không phải là đối tượng của lời nói, trong ý nghĩa của sự thuyết trình, nơi quyền uy của thần thoại lại hoạt động trong tình thế đặc trưng. Ở đây văn bản chỉ là văn bản và sự đọc chỉ như phủ lên văn bản trong sự bấp bênh của nghĩa đối với chúng ta, là cái phụ thuộc vào sự thực hiện lời nói bất kì nào đó.

Vừa rồi, tôi đã lấy ví dụ từ lĩnh vực thần thoại. Tôi đã có thể lấy ví dụ từ những lĩnh vực kề cận, về truyện kể dân gian mà các nhà hình thức Nga của trường phái Propp và các chuyên gia phân tích cấu trúc truyện kể người Pháp, là Barthes và Greimas, từng nghiên cứu. Chúng ta có thể gặp những điều kiện cơ bản tương tự ở các tác giả này giống như ở Lévi Strauss: Các đơn vị phía trên câu đều có cùng kết cấu như các đơn vị dưới câu; nghĩa của truyện kể tự có trong sự sắp xếp các yếu tố, trong quyền uy của sự hội tụ và hợp nhất hoá tất cả các đơn vị thứ yếu. Và ngược lại: nghĩa của một yếu tố nào đó tức là cái cho thấy khả năng của yếu tố đó, cái khả năng mà qua đó yếu tố đó quan hệ với các yếu tố khác và với toàn bộ tác phẩm. Trên cơ sở đó, những điều kiện cơ bản quyết định quá trình kể chuyện. Như vậy, nhiệm vụ của phân tích cấu trúc là phát động sự phân đoạn để xác lập các cấp độ khác nhau của đơn vị thuộc bộ phận nằm trong cái toàn thể. Vậy là khi nhà phân tích tách biệt các đơn vị của hành động thì những đơn vị đó không phải là những đơn vị tâm lý học có thể trải nghiệm, hoặc những đơn vị lôi cuốn sự vận dụng chủ nghĩa hành vi của ứng xử, những thái cực của các bộ phận tiếp theo nhau chỉ là những vị trí của người lính gác, để nếu chúng ta thay đổi một yếu tố thì toàn bộ sự tiếp tục sẽ khác đi. Trong phương pháp này, chúng ta có thể nhận biết sự chuyển dịch của phương pháp giao hoán từ bình diện âm vị học đến bình diện của các đơn vị truyện kể. Lôgích hoạt động có từ mắt xích của các điểm nối, chúng cùng tạo nên tính liên tục của cấu trúc truyện kể. Việc vận dụng kỹ thuật này dẫn đến “sự loại bỏ trật tự thời gian” bằng cách làm nổi bật lôgích tự sự ẩn sau thời gian tự sự. Rốt cuộc, truyện kể có thể quay về với tổ hợp của một vài đơn vị mang kịch tính (hứa hẹn, phản bội, cản trở, giúp đỡ v. v. . . ), qua đó, các đơn vị cũng là những bệ biến hoá của hành động. Như vậy, mỗi điểm nối của hành động đều khép lại khả năng khác đã được mở của cái trước nó. Những đơn vị nhỏ sát nhập vào các đơn vị lớn hơn bằng sự kết nối các mắt xích của chúng. Ví dụ sự gặp gỡ che lấp những hoạt động nhỏ hơn như đến gần, gọi tên, chào hỏi v. v. . . Giải thích một câu chuyện nào đó có nghĩa là chúng ta nắm bắt sự kết nối, cái kết cấu dễ thay đổi của quá trình các hành động sát nhập vào nhau.

Các mối quan hệ có tính chất giống nhau của những người hành động “trong truyện kể phù hợp với hàng loạt các đơn vị và sự hoà nhập vào nhau của các hoạt động. Ở đây, chúng tôi không hiểu các nhân vật như là các chủ thể tâm lý học có sự tồn tại riêng, mà đó là các vai phù hợp với những hoạt động đã được hình thức hoá trong bản thân chúng. Chỉ có các vị ngữ của hoạt động, các trục ngữ nghĩa của câu và truyện kể là quyết định những người hành động: người hành động là người. . . , người có. . . , người bị. . . , người cùng. . . v. v. . . Hành động xảy ra đó là việc có người hứa hẹn, người chấp nhận điều hứa hẹn, là người cho, người nhận v. v. . . Như vậy, sự phân tích cấu trúc làm nổi bật cái tôn ti phụ thuộc lẫn nhau của người hành động và hành động.

Bằng cách này chỉ còn lại việc chúng ta phải sắp xếp truyện kể và đưa nó trở lại sự giao tiếp tự sự. Như vậy có nghĩa là diễn ngôn được gửi đến người nhận thông qua người kể chuyện. Tuy nhiên, sự phân tích cấu trúc phải tìm trong văn bản những người đối thoại; chỉ có những dấu hiệu thuộc về việc xây dựng truyện kể là có thể giúp nhận ra người kể chuyện. Vượt qua ba bình diện (hành động, chủ thể hành động và truyện kể) thì không có gì thuộc về khoa ký hiệu học, chỉ có người sử dụng truyện kể là có thế giới của mình, cái thế giới có thể thuộc về những ngành ký hiệu học khác (các hệ thống xã hội, kinh tế, tư tưởng), nhưng những ngành này lại không mang tính chất ngôn ngữ học. Việc chuyển dịch sang lý luận truyện kể của mô hình ngôn ngữ nào đó đã chứng thực một cách chính xác điều chúng tôi nhận định từ đầu: ngày nay, sự giải thích không còn là khái niệm lấy từ khoa học tự nhiên đưa sang lĩnh vực xa lạ, lĩnh vực của những ký ức được viết ra. Khái niệm giải thích cũng xuất xứ từ lĩnh vực ngôn ngữ, từ sự chuyển dịch tương tự của những đơn vị nhỏ hơn của ngôn ngữ đến các đơn vị lớn ở trên câu như là truyện kể, folklore, thần thoại. Do đó, chúng ta không đối lập sự diễn giải với mô hình nằm ngoài các khoa học tinh thần, nếu ta cho nó ý nghĩa đi chăng nữa. Nó sẽ gây tranh luận với mô hình dễ hiểu mà chúng ta có thể nói rằng ngay từ khi ra đời đã thuộc về các khoa học tinh thần, thuộc về một trong những đỉnh cao của các khoa học này là ngôn ngữ học.

Do vậy, sự tranh luận giữa giải thích và diễn giải đều ở trên lĩnh vực đó, lĩnh vực ngôn ngữ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Thích Cấu Tạo Của Phổi / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!