Đề Xuất 12/2022 # Giải Phẫu Vùng Bàn Tay / 2023 # Top 13 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Phẫu Vùng Bàn Tay / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Phẫu Vùng Bàn Tay / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

VÙNG BÀN TAY

Bài giảng Giải phẫu học

Chủ biên: TS. Trịnh Xuân Đàn

Vùng bàn tay là vùng cuối cùng của chi trên bao gồm tất cả phần mềm bọc xung quanh các xương khớp bàn ngón tay, được giới hạn tiếp theo vùng cẳng tay từ nếp gấp cổ tay xa nhất đến tận đầu ngón tay. Xương khớp bàn ngón tay chia bàn tay ra thành 2 vùng là vùng gan tay và vùng mu tay. Bàn tay là một vật quý của con người do tác dụng của lao động, bàn tay có những đặc điểm mà bàn chân không có – khả năng đối chiếu của ngón cái và ngón út với các ngón khác để cầm, quặp được các vật, bàn tay có thể sấp ngửa được. 1. VÙNG GAN TAY (REGIO PALMARIS MANUS) 1.1. Cấu tạo lớp nông Da dày và dính chắc trừ ô mô cái. Trên mặt da đầu ngón và bàn tay có nếp vân da đặc trưng cho từng cá thể, quần thể và chủng tộc người. Mạch nông là những nhánh mạch nhỏ và ít. Thần kinh nông gồm có các nhánh bì của thần kinh giữa ở ngoài, thần kinh trụ ở trong, thần kinh quay và thần kinh cơ bì ở phía trên. Mạc nông: căng từ xương đốt bàn I đến xương đốt bàn V. Cân mỏng ở 2 mô dày ở giữa, cân tách ra 2 vách liên cơ một vách đến bám vào bờ ngoài xương đốt bàn tay V, một vách dính vào bờ trước xương đốt bàn tay III. Mạc sâu: mỏng ở 2 bên dày ở giữa che phủ các xương đốt bàn và các cơ liên cốt, dưới cân sâu có cung động mạch gan tay sâu và nhánh sâu của thần kinh trụ. Như vậy mạc và 2 vách gian cơ phân chia gan tay thành 3 ô từ ngoài vào trong: ô mô cái, ô gan tay giữa và ô mô út. Dưới 3 ô là ô gan tay sâu hay ô gian cốt có mạc sâu che phủ ở trước. Ở các ngón tay mạc tạo thành 1 bao sợi bọc các gân gấp và cùng mặt trước xương đất ngón tay tạo thành 1 ống xương sợi gọi là bao hoạt dịch. 1.2. Lớp sâu và các ô gan tay Có 4 ô và chia thành 2 lớp: – Các ô gan tay nông: đi từ mạc nông đến mạc sâu. Có 2 vách ngăn chia thành 3 ô. Trong đó ô gan tay giữa chứa hầu hết mạch thần kinh quan trọng và các gân gấp từ cẳng tay xuống. – Ô gan tay sâu: nằm dưới mạc sâu và các xương bàn tay có cung mạch gan tay sâu, ngành sâu thần kinh trụ và các cơ gian cốt. 1.2.1. Ô mô cái (ô ngoài) Có 4 cơ, từ nông đến sâu. – Cơ dạng ngắn ngón cái (m. abductor pollicis brevis): bám từ xương thuyền tới đốt I ngón cái. Tác dụng dạng ngón cái và một phần đốt ngón cái.

A. Các cơ gan tay (lớp nông) B. Các cơ gan tay (lớp sâu) 1. Gân cơ cánh tay quay 1, 7. Cơ gấp dài ngón cái 2. Gân cơ cổ tay quay 2, 4. Cơ dạng ngắn ngón cái 3. Gân cơ gan tay dài 3. Cơ đối chiếu ngón cái 4. Cơ dạng ngắn ngón cái 5. Cơ gấp ngắn ngón cái 5. Bó nông cơ gấp ngắn ngón cái 6. Cơ khép ngón cái 6. Cơ khép ngón cái 8. Gân cơ gấp sâu các ngón tay 7. Cơ gian cốt mu tay I 9. Các cơ giun (lật lên) 8. Các cơ giun 10. Các cơ gian cốt mu tay 9. Cơ gấp ngắn ngón út 11. Các cơ gian cốt gan tay 10. Cơ gan tay ngắn 12. Cơ gấp ngắn ngón út 11. Cơ dạng ngón út 13. Cơ đối chiếu ngón út 12. Gân gấp nông các ngón tay 14. Cơ dạng ngón út 13. Gân cơ gấp cổ tay trụ 15. Các gân cơ gấp sâu các ngón tay Hình 2.46. Các cơ gan tay – Cơ gấp ngắn ngón cái (m. flexor pollicis brevis): cơ này có bó nông và bó sâu bám từ xương thang, xương thê, xương cả tới đốt I ngón I. Tác dụng gấp đốt I ngón cái. – Cơ đối chiếu ngón cái (m. opponens pollicis): bám từ xương thang tới mặt ngoài và mặt trước xương đốt bàn tay I. Có tác dụng đối ngón cái với các ngón khác. – Cơ khép ngón cái (m. adductor pollicis): có 2 bó bám từ xương thê, xương cả và bờ trước xương đốt bàn tay II và III tới bám vào đốt I của ngón cái. Tác dụng khép ngón cái và phần nào đối ngón cái với các ngón khác. 1.2.2. Ô mô út (ô trong) Từ nông vào sâu có 4 cơ. – Cơ gan tay bì hay cơ gan tay ngắn (m. palmaris previs): bám cân gan tay giữa tới da ở bờ trong bàn tay. Có tác dụng làm căng da mô út và gan tay. – Cơ dạng ngón út (m. abductor digiti minimi): bám từ xương đậu tới đốt I của ngón út. Dạng ngón út và phần nào giúp gấp đốt I ngón út. – Cơ gấp ngắn ngón út (m. flexor digiti minimi brevis): bám từ xương móc tới đốt I của ngón út. Tác dụng gấp ngón I. – Cơ đối chiếu ngón út (m. opponens digiti minimi): nằm sát xương bám từ xương móc tới bám vào bờ trong xương đốt bàn tay V. Tác dụng làm sâu thêm lòng bàn tay và đưa xương đốt bàn tay V ra trước.

1. Bao hoạt dịch trụ 2. Cơ đối chiếu ngón út 3. Cơ gấp ngắn ngón út 4. Cơ gan tay ngắn 5. Cơ dạng ngón út 6. Cơ duỗi ngón út 7. Cơ gian cốt gan tay 8. Cơ gian cốt mu tay 9. Gân duỗi các ngón tay 10. Gân duỗi dài ngón cái 11.Gân duỗi ngắn ngón cái 12. Cơ khép ngón cái 13. Cơ gấp ngắn ngón cái

Hình 2.47. Thiết đồ cắt ngang bàn tay 1.2.3. Ô gan tay giữa (ô giữa) Ô gan tay giữa gồm có: – Các gân gấp nông và sâu các ngón tay xếp thành 2 bình diện: ở trước có 4 gân gấp nông các ngón tay khi xuống tới ngón tay II, III, IV, V thì tạo thành các gân thủng. Ở sau có 4 gân gấp sâu các ngón tay, xuống tới các ngón tay tương ứng, chui qua các gân thủng tạo thành gân xiên. – Các cơ giun (m. m. lumbricales): nối gân gấp sâu và gân duỗi. Có 4 cơ giun, cơ giun 1 và 2 bám vào bờ ngoài của gân gấp sâu. Cơ giun 3 và 4 bám vào cả hai bờ của gân gấp sâu rồi chạy thẳng xuống gan tay tách ra một mảnh gân để hoà hợp với một chế gân của cơ liên cốt và cùng vòng qua mặt ngoài của các khớp bàn ngón tay tới bám vào gân cơ duỗi ngón tay tương ứng ở phía mu tay. Tác dụng của các cơ giun làm gấp đốt 1 duỗi đốt 2, đốt 3 các ngón tay. 1.2.4. Ô gan tay sâu Gồm có 8 cơ gian cốt – 4 cơ gian cốt gan tay nằm dọc theo nửa trước mặt bên phía gần trục bàn tay của các ngón tay I, II, IV, V. – 4 cơ gian cất mu tay chiếm phần còn lại của các khoang gian cốt bàn tay và bám vào cả hai xương ở hai bên. Cả 8 cơ gian cốt đều tới bám vào xương đốt gần và gân duỗi của ngón tay II, III, IV, V Cơ gian cốt mu tay 1, 2 bám vào bên ngoài các ngón II, III; cơ gian cốt mu tay 3, 4 bám vào bên trong các ngón III, IV; cơ gian cốt gan tay 1, 2 bám vào bên trong của 2 ngón I, II; cơ gian cốt gan tay 3, 4 bám vào bên ngoài ngón IV, V. 1. Cơ gian cốt gan tay I 2. Cỡ gian cốt mu tay I 3. Cơ gian cốt mu tay II 4. Cơ gian cốt gan tay II và III 5. Trục bàn tay Hình 2.48. Các cơ gian cốt bàn tay Tóm lại: cơ gian cốt mu tay thì bám về phía xa trục bàn tay nên có tác dụng dạng ngón tay, cơ gian cất gan tay thì bám về phía gần trục bàn tay nên có tác dụng khép ngón tay. Ngoài ra các cơ gian cốt còn có tác dụng gấp khớp bàn đất và duỗi khớp gian đốt. 1.3. Bao hoạt dịch các gân gấp Là một bao thanh mạc tiết dịch nhờn để bọc lấy các gân cơ gấp làm cho các gân gấp này co rút dễ dàng. Có 5 bao: 3 bao ngón tay II, III, IV và 2 bao ngón tay- cổ tay: bao trụ và bao quay. 1.3.1. Bao hoạt dịch các ngón tay giữa Bọc gân gấp ngón trỏ, ngón giữa và ngón nhẫn, đi từ nền đốt III các ngón tay đến trên khớp đốt bàn – ngón tay khoảng từ 1-1,5 cm. 1.3.2. Bao hoạt dịch quay Bọc gân gấp dài ngón cái, đi từ nền đốt II ngón cái bao chạy qua ô mô cái và ống cổ tay đến trên mạc hãm các gân gấp 2-3 cm, nằm trên cơ sấp vuông. 1.3.3. Bao hoạt dịch trụ Bọc gân gấp ngón út, từ nền đốt III ngón V tới trên mạc hãm gân gấp 3-4 cm. (vì gân gấp nông ở cổ tay chia thành 2 bình diện: truất là gân gấp ngón giữa và nhẫn, sau là gân gấp ngón trỏ và út). Về chiều dài bao hoạt dịch tru đi từ dưới đường Boeckel lcm cho đến trên dây chằng vòng cổ tay 3-4 cm về chiều ngang thì tới tận xương đất bàn tay III. 1.4. Mạch và thần kinh

1. Túi hoạt dịch trụ 2. Gân gấp cácc ngón nông 3. Bao hoạt dịch ngón tay 4. Túi hoạt dịch quay 5. Gân gấp các ngón sâu 6. Gân cơ gấp ngón cái

Hình 2.49. Bao hoạt dịch ở ngón tay 1.4.1. Cung động mạch gan tay nông (arcus palmaris superficialis) Cấu tạo: do nhánh cùng của động mạch trụ nối với nhánh quay gan tay của động mạch quay. Đường đi: cung động mạch gan tay nông đi theo 2 đường kẻ. Đường chếch là đường kẻ từ bờ ngoài xương đậu tới kẽ ngón III-IV. Đường ngang là đường kẻ qua ngón cái khi ngón cái dạng hết sức (đường Boeckel). Phân nhánh: cung tách 4 nhánh ngón tay: động mạch bên trong ngón út, còn 3 nhánh khác tách thành 2 cho ngón nhẫn ngón giữa và nửa ngoài ngón trỏ. động mạch nằm ngay dưới cân gan tay giữa, trên gân cơ gấp. 1.4.2. Cung động mạch gan tay sâu (arcus palmaris profundus) Cấu tạo: do nhánh cùng của động mạch quay nối với nhánh trụ gan tay của động mạch trụ tạo thành. Đường đi: động mạch quay sau khi bắt chéo hõm lào giải phẫu thọc qua khoang liên cốt bàn tay I, lách giữa 2 bó cơ khép ngón cái để chạy ngang gặp động mạch trụ. Động mạch trụ từ đỉnh xương đậu rồi chui vào sâu gặp động mạch quay. Phân nhánh: ở phía lõm tách các nhánh cổ tay. Ở phía lồi tách 4 động mạch liên cốt, 3 nhánh đổ vào cung nông, nhánh còn lại tách 2 nhánh bên cho ngón trỏ và ngón cái. Ở phía sau tách 3 động mạch xiên đổ vào động mạch liên cốt mu tay. 1.4.3. Dây thần kinh giữa Dây thần kinh giữa sau khi chui dưới dây chằng vòng cổ tay vào gan tay chia 2 nhánh ngoài và trong. * Vận động: tách nhánh ô mô cái vận động cơ ô mô cái trừ cơ khép ngón cái bó sâu của cơ gấp ngắn ngón cái, vận động cơ giun I và II. * Cảm giác: mặt gan tay cảm giác cho nửa ngoài gan tay trừ ô mô cái, cảm giác cho ba ngón rưỡi tính từ ngón cái. Mặt mu tay cảm giác cho mu đốt I, II của ngón trỏ, ngón giữa và nửa ngoài mu đốt I, II ngón nhẫn. Ngoài ra dây thần kinh giữa còn tách nhánh nối với dây thần kinh trụ. 1.4.4. Thần kinh trụ Sau khi cùng động mạch trụ đi trên dây chằng vòng cổ tay vào gan tay chia 2 nhánh, nhánh nông chi phối cảm giác cho 1 ngón rưỡi kể từ ngón út. Nhánh sâu bắt chéo động gan tay sâu tách nhánh vận động cho các cơ ô mô út, vận động 2 cơ giun 3, 4, cơ khép ngón cái, bó sâu cơ gấp ngắn ngón cái và 8 cơ liên cốt. 1.4.5. Thần kinh quay Nhánh cảm giác của thần kinh quay luồn dưới cơ ngửa dài vòng quanh xương quay ra sau cẳng tay rồi tách nhánh cảm giác cho ô mô cái. 2. VÙNG MU TAY (REGIO DORSALIS MANUS) Vùng mu tay gồm các phần mềm ở phía sau các xương khớp bàn tay. Cấu tạo từ nông vào sâu vùng mu tay gồm có: – Da mỏng di động và không có mỡ. – Tổ chức tế bào dưới da mỏng, nhão có nhiều mạch và thần kinh nông. Tĩnh mạch nông gồm các tĩnh mạch mu bàn tay nối tiếp với nhau tạo thành mạng tĩnh mạch hay cung tĩnh mạch mu tay. Tận cùng ở 2 đầu cung là tĩnh mạch quay nông ở ngoài, tĩnh mạch trụ nông ở trong. Thần kinh nông là các nhánh bì của dây thần kinh trụ, thần kinh giữa và thần kinh quay. Dây quay cảm giác cho nửa mu tay và mu 2 ngón rưỡi ở phía ngoài, dây trụ ở nửa trong. Trừ phần mu đốt II, III ngón trỏ, ngón giữa và nửa ngoài mu đốt II, III ngón nhẫn do thần kinh giữa cảm giác. – Mạc mu tay mỏng, chắc. Ở trên liên tiếp với mạc hãm gân duỗi, ở dưới phủ và hoà vào các gân duỗi, 2 bên dính vào xương đốt bàn tay I và V. – Các gân duỗi từ cẳng tay đi xuống. – Cung động mạch mu tay do nhánh mu cổ tay của 2 đông mạch quay và trụ nối với nhau. Từ cung này tách ra động mạch chính ngón cái, nhánh bờ trong ngón trỏ cùng 3 động mạch mu đốt bàn tay chạy sau các cơ gian cất mu tay II, III, IV và nhận thêm các nhánh xiên từ cung mạch gan tay sâu đổ vào. Khi đến ngang mức khớp bàn ngón tay thì tách ra 2 nhánh mu đốt ngón tay, đây là những nhánh tận nhỏ chỉ tới lưng chừng 2 bên của các ngón tay tương ứng. – Mạc sâu mu tay rất mỏng phủ sau các cơ gian cốt mu tay.

1. Thần kinh bì cẳng tay trong 2. Nhánh bì cẳng tay sau của TK quay 3. Nhánh mu tay của thần kinh trụ 4. Nhánh mu cổ tay của ĐM trụ 5. Các động mạch mu đốt bàn 6. Các nhánh mu ngón tay của TK trụ 7. Các nhánh mu ngón tay TK quay 8. Các động mạch mu ngón tay

Hình 2.50. Vùng mu bàn tay (mạch máu và thần kinh nông)

Giải Phẫu Chức Năng Vùng Chậu / 2023

Đai chậu, gồm cả khớp háng có vai trò nâng đỡ trọng lượng của cơ thể trong khi cho phép vận động bằng cách gia tăng tầm vận động ở chi dưới. Tương tự với đai vai, xương chậu phải được định hướng để đặt khớp háng vào vị trí thuận lợi cho vận động chi dưới. Do đó, sự phận động phối hợp của đai chậu và đùi ở khớp háng là cần thiết cho hoạt động khớp hiệu quả.

Đai chậu và khớp háng là một phần của một hệ thống chuỗi đóng ở đó lực từ chân đi lên qua khớp háng và xương chậu đến thân hoặc đi xuống từ thân qua xương chậu và khớp háng đến chi dưới. Đai chậu và khớp háng cũng góp phần quan trọng để giữ thăng bằng và tư thế đứng thông qua các hoạt động cơ liên tục để điều chỉnh và đảm bảo thăng bằng.

Đai chậu gồm ba xương nối với nhau bằng liên kết xơ: xương cánh chậu ở trên, xương ngồi ở sau dưới, và xương mu ở trước dưới. Các xương này nối với nhau bằng sụn hyaline lúc mới sinh, nhưng dính hoàn toàn với nhau (cốt hóa) vào tuổi 20-25. Vùng chậu là một vùng của cơ thể có sự khác biệt rõ rệt giữa hai giới. Phụ nữ thường có đai chậu nhẹ, mỏng và rộng hơn nam giới. Ở phía trước xương chậu phụ nữ loe ra sang hai bên nhiều hơn. Ở phía sau xương cùng của nữ cũng rộng hơn, tạo khoang chậu rộng hơn. Sự khác biệt về xương này có ảnh hưởng trực tiếp lên chức năng cơ ở khớp háng và xung quanh.

Hình: Sự khác nhau giữa xương chậu nữ và nam 2.1. Khớp mu:

Hai bên phải và trái của xương chậu nối với nhau ở phía trước ở khớp mu, một khớp sụn có một đĩa sụn xơ nối hai xương mu. Khớp này được giữ vững bởi dây chằng mu trên và dưới và vận động rất hạn chế.

2.2. Khớp cùng-chậu (SI joint):

Ở phía sau, xương chậu nối với thân ở khớp cùng chậu, một khớp hoạt dịch mạnh làm vững bằng sụn xơ và dây chằng vững chắc. Mặt khớp của xương cùng hướng ra sau ngoài và khớp với xương cánh chậu. Được mô tả là khớp mặt phẳng, tuy nhiên mặt khớp rất không đều, giúp khóa hai mặt khớp với nhau.

Có ba nhóm dây chằng nâng đỡ khớp cùng-chậu phải và trái, và chúng là những dây chằng mạnh nhất trong cơ thể.

Hình: Các dây chằng của khớp cùng chậu.

Vận động ở khớp cùng chậu: thay đổi đáng kể giữa hai giới và các cá nhân khác nhau. Nam có dây chằng cùng chậu dày và chắc hơn, khớp cùng chậu ít vận động (thực tế 3/10 nam dính khớp cùng chậu). Nữ có khớp cùng chậu di động hơn vì dây chằng lỏng hơn và có thể tăng lên trong chu kỳ kinh nguyệt, và nhất là trong thời gian mang thai.

Vận động ở khớp cùng chậu có thể được mô tả bằng vận động của xương cùng (và xương cùng di chuyển cùng với vận động của thân mình), bao gồm gấp cùng (còn gọi là nutation)- xảy ra khi gấp thân hoặc đùi; duỗi cùng- xảy ra khi duỗi thân hoặc đùi; xoay cùng sang hai bên.

Hình: Vận động khớp cùng chậu ở mặt phẳng đứng dọc: gấp và duỗi

Ngoài các vận động giữa xương cùng và xương cánh chậu, còn có vận động chung của đai chậu. Những vận động này đi kèm và do kết quả của vận động của cột sống thắt lưng và đùi. Vận động của xương chậu được mô tả theo xương cánh chậu, đặc biệt là gai chậu trước trên và trước dưới.

Hình: Vận động của xương chậu cùng với vận động thân mình và đùi. Nghiêng chậu ra trước (A), Nghiêng chậu ra sau (B), Nghiêng chậu sang trái và phải (C, D). Xoay chậu sang trái (E) và phải (F).

Nghiêng chậu ra trước/ra sau- mặt phẳng trước -sau: GCTT ra trước, ra sau

Nghiêng chậu (xuống) sang bên phải/trái- mặt phẳng trán. Xương chậu có thể nghiêng sang bên khi chịu trọng lượng hoặc bất cứ vận động sang bên nào của thân hoặc đùi. Khi đứng lên chân phải, xương chậu phải nâng lên, khớp háng khép và xương chậu trái hạ xuống (nghiêng), khớp háng dạng. Vận động này được kiểm soát bởi các cơ, đặc biệt là cơ mông nhỡ để giảm mức độ nghiêng xuống của xương chậu.

Xoay chậu sang phải/trái (mặt phẳng cắt ngang) khi vận động một chân. Khi chân phải đánh ra trước khi đi, chạy, đá, xương chậu xoay sang trái.

Tương tự khi đứng một chân, để hạn chế sự nghiêng (hạ xuống) của xương chậu sang bên chân không tựa, các cơ gập bên thân chân đó (dựng gai, vuông thắt lưng) co để kéo xương chậu bên đó lên, trong khi cơ dạng (mông nhỡ) bên chân tựa co để kéo xương chậu bên chân tựa xuống làm cho đai chân cân bằng, tạo nên một cặp lực.

2.3. Khớp háng Là khớp ổ cầu gồm khớp giữa ổ cối của xương chậu và chỏm xương đùi, với ba độ tự do , có đặc điểm là rất vững chắc nhưng vận động.

ổ cối hướng ra trước, ra ngoài và xuống dưới. Ổ cối được lót bởi sụn viền ổ cối mà dày nhất ở phần đỉnh của ổ, làm ổ sâu thêm và tăng tính vững chắc.

chỏm xương đùi hình cầu nằm khít trong khoang ổ cối. Khoảng 70% chỏm xương đùi tiếp khớp với ổ cối so với 20-25% chỏm xương cánh tay tiếp xúc với khoang ổ chảo.

Bao quanh khớp háng là bao khớp lỏng nhưng mạnh, được củng cố bởi các dây chằng và gân của cơ thắt lưng (psoas).

Dây chằng: ba dây chằng hòa lẫn vào bao khớp gồm

dây chằng (cánh) chậu-đùi, hay dây chằng chữ Y, là một dây chằng mạnh và nâng đỡ phía trước khớp háng khi đứng. Dây chằng này có thể nâng đỡ phần lớn trọng lượng cơ thể và đóng một vai trò quan trọng trong tư thế đứng. Dây chằng này cũng hạn chế quá duỗi khớp háng.

dây chằng mu đùi ở phía trước khớp háng, chủ yếu kháng lại động tác dạng, một phần với duỗi và xoay ngoài.

Dây chằng ngồi đùi, ở bao khớp sau, kháng lại động tác duỗi, khép và xoay trong. Không có dây chằng quanh khớp háng kháng lại động tác gấp, do đó gấp háng có tầm vận động lớn nhất.

Hình: Khớp háng Hình: Góc nghiêng bình thường và coxa vara, coxa valga.

Góc đưa ra trước (góc vặn): Góc của cổ xương đùi ở mặt phẳng ngang được gọi là góc đưa ra trước (anteversion). Bình thường cổ xương đùi xoay ra trước 12° đến 14° so với xương đùi.

Hình: góc đưa ra trước bình thường. Nếu góc này tăng sẽ gây tư thế ngón chân đưa vào trong. Nếu góc giảm, cổ xương đùi đưa ra sau, làm ngón chân đưa ra ngoài. Hình: bù trừ ở người có góc đưa ra trước quá mức

Các dây chằng và cơ nâng đỡ mọi hướng và giữ vững khớp háng. Ở tư thế gấp 90° với một ít xoay và dạng, chỏm xương đùi và ổ cối tương khớp tối đa. Đây là tư thế vững và thoải mái và phổ biến ở tư thế ngồi. Một tư thế không vững của khớp háng là gấp và khép, như khi ngồi bắt chéo chân.

Khớp háng cho phép đùi di chuyển theo một tầm khá rộng theo ba hướng.

Gấp háng từ 120° đến 125° và duỗi 10° đến 15° ở mặt phẳng đứng dọc. Gấp háng bị giới hạn chủ yếu bởi mô mềm và có thể tăng ở cuối tầm nếu xương chậu nghiêng sau. Gấp háng dễ dàng với gối gập nhưng bị hạn chế nhiều bởi cơ hamstring nếu gấp ở tư thế duỗi gối. Duỗi háng bị hạn chế bởi bao khớp phần trước, các cơ gấp háng và dây chằng chậu đùi. Nghiêng chậu ra trước góp phần vào tầm vận động duỗi háng.Hình: Xương chậu có thể hỗ trợ vận động đùi bằng cách nghiêng ra trước để tăng duỗi háng hoặc nghiêng ra sau để tăng gấp háng.

Dạng háng xấp xỉ 30° đến 45° và khép 15° đến 30°. Dạng bị hạn chế bởi các cơ khép và khép bị hạn chế bởi mạc căng cân đùi.

Xoay trong từ 30° đến 50° và xoay ngoài từ 30° đến 50°. Gấp đùi có thể tăng tầm xoay trong và xoay ngoài.

Hình: Tầm vận động khớp háng

Gấp đùi sử dụng trong khi đi và chạy để đưa chân ra trước. Nó cũng quan trọng trong leo cầu thang và đi lên dốc và hoạt động mạnh trong động tác đá.

Cơ gấp đùi mạnh nhất là cơ thắt lưng-chậu, gồm cơ thắt lưng (psoas) lớn, thắt lưng bé, và cơ chậu. Đây là cơ hai khớp hoạt động lên cả cột sống thắt lưng và đùi. Nếu cố định thân thì cơ thắt lưng chậu tạo gấp háng (thuận lợi hơn khi đùi dạng và xoay ngoài). Nếu đùi cố định, cơ thắt lưng chậu tạo quá duỗi cột sống thắt lưng và gập thân. Cơ thắt lưng chậu hoạt động nhiều trong các bài tập gấp háng khi toàn bộ thân trên đưa lên (như nằm ngữa gập háng gối, nhấc đầu thân) hoặc khi nâng hai chân.

Cơ thẳng đùi là một cơ gấp háng khác mà vai trò tùy thuộc tư thế khớp gối. Đây là một cơ hai khớp và có vai trò duỗi gối nữa. Nó được gọi là cơ đá vì nó ở tư thế tạo lực thuận lợi tối đa ở khớp háng trong giai đoạn chuẩn bị đá, khi đùi quá duỗi ra sau và gối gập. Tư thế này kéo căng cơ thẳng đùi để cho hoạt động tiếp theo, khi đó cơ thẳng đùi góp phần quan trọng vào động tác gấp háng và duỗi gối. Mất chức năng cơ thẳng đùi giảm lực gấp háng đến 17%.

Ba cơ gấp háng phụ khác là cơ may, cơ lược và cơ căng cân đùi. Cơ may là một cơ hai khớp xuất phát từ gai chậu trước trên và bắt chéo khớp gối đến mặt trong đầu trên xương chày. Nó là một cơ yếu tạo lực dạng và xoay ngoài bên cạnh động tác gấp háng. Cơ lược chủ yếu là cơ khép đùi trừ khi đi nó đóng vai trò chủ động trong gấp đùi cùng với cơ căng cân đùi (thường là cơ xoay trong).

Trong động tác gấp đùi, xương chậu bị kéo ra trước bởi những cơ này trừ phi được giữ vững và đối lại bởi thân mình. Cơ thắt lưng chậu và cơ căng cân đùi kéo xương chậu ra trước. Nếu một trong những cơ này bị căng, có thể gây mất vững, lệch chậu hoặc ngắn chi chức năng.

Duỗi đùi quan trọng trong nâng đỡ trọng lượng cơ thể ở thì tựa bởi vì nó duy trì và kiểm soát các hoạt động khớp háng đáp ứng với lực kéo của trọng lượng. Duỗi đùi cũng hỗ trợ đẩy cơ thể lên và ra trước khi đi, chạy hoặc nhảy. Các cơ duỗi bám vào xương chậu và đóng một vai trò lớn trong làm vững xương chậu theo hướng trước sau.

Các cơ góp phần vào hầu hết trường hợp duỗi háng là cơ hamstrings. Hai cơ bên trong (bán gân và bán mạc) không hoạt động bằng cơ bên ngoài- cơ nhị đầu đùi, được xem là cơ duỗi gối chính.

Bởi vì tất cả các cơ hamstrings đi qua khớp gối, tạo lực gấp và xoay gối, hiệu quả duỗi háng của chúng phụ thuộc vào tư thế khớp gối. Khi gối duỗi, cơ hamstring được kéo căng và có hoạt động tối ưu lên khớp háng. Cơ hamstrings cũng kiểm soát xương chậu bằng lực kéo xuống lên ụ ngồi, làm xương chậu nghiêng sau. Như vậy, cơ hamstring đóng vai trò duy trì tư thế đứng thẳng. Căng cơ hamstring có thể gây những vấn đề tư thế như làm phẳng vùng thắt lưng và gây xương chậu nghiêng sau. Trong hoạt động đi đường bằng hoặc các hoạt động duỗi háng cường độ thấp, cơ hamstring là cơ chính tạo vận động duỗi háng ở tư thế chịu trọng lượng. Mất chức năng cơ hamstrings gây khiếm khuyết đáng kể động tác duỗi háng.

Khi cần duỗi háng cường độ mạnh hơn, cơ mông lớn được huy động là cơ duỗi chính, như khi chạy lên dốc, leo cầu thang, đứng lên từ ngồi xổm thấp hoặc từ ghế ngồi.

Cơ mông lớn dường như tác động chính lên xương chậu trong khi đi hơn là góp phần đáng kể vào tạo lực duỗi đùi. Bởi vì đùi hầu như duỗi trong chu kỳ dáng đi, chức năng của cơ mông lớn là duỗi thân và nghiêng chậu ra sau nhiều hơn. Lúc chạm gót khi thân gập, cơ mông lớn ngăn ngừa thân mình khỏi nghiêng phía trước. Vì cơ mông lớn cũng xoay ngoài đùi, cơ bị căng khi xoay trong. Mất chức năng cơ mông lớn không ảnh hưởng đáng kể sức cơ duỗi đùi vì cơ hamstrings là cơ tạo lực duỗi chính.

Bởi vì các cơ gấp và duỗi kiểm soát xương chậu theo hướng trước-sau, hai nhóm cơ này cân cân bằng cả về sức mạnh và độ mềm dẻo để xương chậu không bị kéo ra trước hoặc ra sau do một nhóm cơ mạnh hơn hoặc ít mềm dẻo hơn.

Dạng đùi là một vận động quan trọng trong nhiều kỹ năng thể thao và nhảy múa. Trong dáng đi, dạng đùi và các cơ dạng đóng vai trò quan trọng hơn là làm vững xương chậu và đùi.

Cơ dạng đùi chính ở khớp háng là cơ mông nhỡ. Cơ này co trong thì tựa khi đi, chạy hay nhảy để cố định xương chậu không cho nó hạ xuống ở chân không tựa. Yếu cơ mông nhỡ có thể dẫn đến những thay đổi như xương chậu xệ xuống đối bên và tăng khép và xoay trong đùi mà có thể dẫn đến tăng khớp gối vẹo ngoài, tăng xoay xương chày và sấp bàn chân. Cơ này có thuận lợi cơ học nhiều hơn khi góc nghiêng của cổ xương đùi nhỏ hơn 125°, hoặc khi khung chậu rộng hơn. Khi thuận lợi cơ học của cơ mông nhỡ gia tăng, sự vững của xương chậu trong dáng đi cũng được cải thiện.

Cơ mông bé, cơ căng cân đùi, và cơ hình lê cũng góp phần vào dạng đùi, nhất là cơ mông bé.

Nhóm cơ khép, cũng như cơ dạng, tham gia giữ tư thế xương chậu khi đi. Mặc dù các cơ khép có vai trò quan trọng trong một số hoạt động chuyên biệt, nghiên cứu cho thấy giảm 70% chức năng cơ khép đùi chỉ ảnh hưởng nhẹ hoặc vừa lên chức năng khớp háng.

Các cơ khép bao gồm cơ thon, ở phần trong đùi; cơ khép dài, ở phần trước đùi; cơ khép ngắn, ở phần giữa đùi; và cơ khép lớn, ở phía sau mặt trong đùi. Các cơ khép hoạt động trong thì đu đưa của dáng đi và nếu bị căng có thể dẫn đến dáng đi hình cây kéo (bắt chéo chân).

Các cơ khép ở một bên xương chậu kết hợp với các cơ dạng ở chân kia để giữ tư thế xương chậu và ngăn ngừa nghiêng. Nếu cơ dạng mạnh hơn cơ khép do co rút hoặc mất thăng bằng cơ, xương chậu sẽ nghiêng sang bên cơ dạng mạnh, co rút. Co rút cơ khép hoặc mất cân bằng sức mạnh gây kết quả tương tự ở hướng đối diện.

Xoay ngoài đùi quan trọng để tạo lực ở chi dưới bởi vì nó theo sau thân khi xoay. Các cơ xoay ngoài chính là cơ mông lớn, bịt ngoài, và vuông đùi. Cơ bịt trong, cơ sinh đôi trên và dưới và cơ hình lê góp phần vào xoay ngoài khi đùi duỗi. Cơ hình lê cũng dạng háng khi háng gấp và tạo vận động khi đưa chân lên và dạng, xoay ngoài.

Xoay trong đùi là một vận động yếu. Nó là vận động phụ của tất cả các cơ góp phần động tác này. Hai cơ quan trọng nhất trong xoay trong là cơ mông nhỡ và cơ mông bé. Các cơ xoay trong khác là cơ thon, cơ khép dài, khép lớn, căng cân đùi, bán gân, bán mạc.

Lực cơ mạnh nhất ở háng là lực duỗi, do kết hợp của cơ mông lớn kích thước lớn và cơ hamstrings. Duỗi mạnh nhất khi háng gấp 90° và giảm khoảng ½ ở tư thế trung tính 0°.

Gấp háng chủ yếu là do cơ thắt lưng chậu, dù sức mạnh giảm đi khi gập thân. Ngoài ra, lực gấp có thể tăng nếu kèm gấp gối để tăng tác động của cơ thẳng đùi.

Dạng tối đa ở tư thế trung tính và giảm hơn ½ ở tư thế dạng 25° do giảm chiều dài cơ. Dạng cũng mạnh hơn khi gấp đùi.

Dù nhóm cơ khép có thể tạo nhiều lực hơn cơ dạng, nhưng động tác khép không phải là thành phần chính của nhiều vận động hoặc hoạt động thể thao, do đó nó ít được làm mạnh qua hoạt động.

Lực cơ xoay ngoài lớn hơn lực cơ xoay trong 60% ngoại trừ ở tư thế gấp háng thì lực cơ xoay trong mạnh hơn một ít. Ở tư thế ngồi, lực cơ xoay ngoài và xoay trong mạnh hơn tư thế nằm ngữa.

Các vận động phối hợp của xương chậu và đùi

Xương chậu và đùi thường di chuyển cùng nhau trừ khi thân mình cản trở hoạt động xương chậu. Vận động phối hợp xương xương chậu và khớp háng được gọi là nhịp chậu-đùi. Trong vận động gấp háng chuỗi mở (nâng chân), xương chậu xoay ra sau trong những độ đầu tiên của vận động. Trong động tác nâng chân với gối gập hoặc duỗi, xoay xương chậu góp phần vào 26 đến 39% vận động gấp háng. Ở cuối tầm vận động gấp háng, sự xoay xương chậu ra sau bổ sung có thể góp phần vào gấp háng nhiều hơn. Khi duỗi háng (đưa chân ra sau) thì xương chậu xoay ra trước kết hợp. Trong khi chạy, nghiêng chậu ra trước trung bình ở chi không tựa vào khoảng 22 độ. Trong các vận động ở chi không chịu trọng lượng xương chậu di chuyển nhiều hơn.

Hình: Ở chi dưới, các phân đoạn phối hợp khác nhau phụ thuộc vào chuỗi động đóng hoặc mở. Hình bên trái cho thấy dạng háng ở chuỗi mở xảy ra khi đùi di chuyển lên xương chậu. Trong vận động chuỗi đóng bên phải, dạng xảy ra khi xương chậu hạ xuống ở bên chịu trọng lượng.

Ở tư thế đứng, chịu trọng lượng, chuỗi đóng, xương chậu di chuyển ra trước trên xương đùi, và vận động xương chậu trong gấp háng chỉ đóng góp 18% thay đổi trong vận động háng. Vận động xương chậu ra sau khi chịu trọng lượng góp phần vào duỗi háng.

Ở mặt phẳng trán, khi chịu trọng lượng một chân, xương chậu bên không tựa nâng lên tạo nên khép háng ở bên tựa và dạng ở bên không tựa.

Ở mặt phẳng ngang trong khi chịu trọng lượng (đứng hai chân), khi xoay một bên xương chậu ra trước tạo xoay ngoài ở háng trước và xoay trong ở háng sau.

Đặc Điểm Giải Phẫu Vùng Cột Sống Thắt Lưng / 2023

1. Đốt sống thắt lưng:

Cột sống thắt lưng có 5 đốt sống, với đặc điểm:

– Thân đốt sống rất to và chiều ngang rộng hơn chiều trước sau. Ba đốt sống thắt lưng cuối có chiều cao ở phía trước thấp hơn phía sau nên khi nhìn từ phía bên trông như một cái chêm.

– Chân cung (cuống sống) to, khuyết trên của chân cung nông, khuyết dưới sâu.

– Mỏm ngang dài và hẹp, mỏm gai rộng, thô, dày, hình chữ nhật đi thẳng ra sau.

– Mặt khớp của mỏm khớp nhìn vào trong và về sau, mặt khớp dưới có tư thế ngược lại.

2. Khớp đốt sống.

Khớp đốt sống là khớp thực thụ, có diện khớp là sụn, bao hoạt dịch, hoạt dịch và bao khớp. Bao khớp và đĩa đệm đều cùng thuộc một đơn vị chức năng thống nhất. Do vị trí của khớp đốt sống ở hướng đứng thẳng dọc nên cột sống thắt lưng luôn có khả năng chuyển động theo chiều trước sau trong chừng mực nhất định. ở  tư thế ưỡn và gù lưng, các diện khớp cũng chuyển động theo hướng dọc thân.

– Sự tăng hay giảm áp lực cơ học lên đĩa đệm sẽ làm tăng hoặc giảm trọng lực trong bao và chiều cao của khoang gian đốt sống. Đĩa đệm và khớp đốt sống do đó đều có khả năng đàn hồi để chống đỡ với động lực mạnh, nếu bị chấn thương mạnh thì đốt sống sẽ bị gẫy trước khi đĩa đệm và khớp đốt sống bị tổn thương.

– Khi đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị, chiều cao khoang gian đốt bị giảm làm các khớp đốt sống bị lỏng, dẫn đến sai lệch vị trí khớp, càng thúc đẩy thêm quá trình thoái hóa khớp đốt sống và đau cột sống. Ngược lại, nếu chiều cao khoang gian đốt tăng quá mức sẽ làm tăng chuyển nhập dịch thể vào khoang trong đĩa đệm, dẫn tới giãn quá mức bao khớp cũng gây đau.

– Cấu tạo: đĩa đệm được cấu tạo bởi 3 thành phần là nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn.

+ Nhân nhầy: được cấu tạo bởi một màng liên kết, hình thành những khoang mắt lưới chứa các tổ chức tế bào nhầy keo, ở người trẻ các tế bào tổ chức này kết dính với nhau rất chặt làm cho nhân nhầy rất chắc và có tính đàn hồi rất tốt (ở người già thì các tế bào tổ chức đó liên kết với nhau lỏng lẻo nên nhân nhầy kém tính đàn hồi). Bình thường nhân nhầy nằm ở trong vòng sợi, khi cột sống vận động về một phía thì nó bị đẩy chuyển động dồn về phía đối diện, đồng thời vòng sợi cũng bị giãn ra.

+ Vòng sợi: gồm những vòng sợi sụn (fibro-caetilage) rất chắc chắn và đàn hồi đan vào nhau theo kiểu xoắn ốc, ở vùng riềm của vòng sợi lại được tăng cường thêm một giải sợi. Giữa các lớp của vòng sợi có vách ngăn, ở phía sau và sau bên của vòng sợi tương đối mỏng và được coi là điểm yếu nhất, nơi dễ xảy ra lồi và thoát vị đĩa đệm.

+ Mâm sụn: gắn chặt vào tấm cùng của đốt sống, nên còn có thể coi là một phần của đốt sống.

– Chiều cao của đĩa đệm: thay đổi theo từng đoạn cột sống. ở đoạn sống cổ khoảng 3mm, đoạn ngực độ 5mm, đoạn thắt lưng độ 9mm, trừ đĩa đệm L5-S1 thấp hơn đĩa đệm L4-L5 khoảng 1/3 chiều cao. Chiều cao của đĩa đệm ở phía trước và phía sau chênh nhau tùy thuộc vào độ cong sinh lý của đoạn cột sống, ở đĩa đệm L5-S1 thì độ chênh này lớn nhất.

– Vi cấu trúc của đĩa đệm: gồm nguyên bào sợi, tế bào sụn, và những tế bào nguyên sống. Trong đó nước chiếm tới 80-85% (ở người trưởng thành). Colagen chiếm 44-51% trọng lượng khô của đĩa đệm. Mô của đĩa đệm có đặc điểm là mô không tái tạo, lại luôn chịu nhiều tác động do chức năng tải trọng và vận động của cột sống mang lại, cho nên đĩa đệm chóng hư và thoái hóa.

– Thần kinh và mạch máu:

+ Thần kinh: đĩa đệm không có các sợi thần kinh, chỉ có những tận cùng thần kinh cảm giác nằm ở lớp ngoài cùng của vòng sợi.

+ Mạch máu nuôi đĩa đệm: chủ yếu thấy ở xung quanh vòng sợi, còn ở trong nhân nhầy thì không có mạch máu, sự nuôi dưỡng chủ yếu bằng khuyếch tán. Việc cung cấp máu cho đĩa đệm bình thường chấm dứt hẳn ở độ tuổi thập niên thứ hai, sau đó dinh dưỡng đối với đĩa đệm là thông qua quá trình thẩm thấu.

4. Lỗ ghép:

Tạo bởi khuyết dưới của đốt sống trên và khuyết trên của đốt sống dưới, nhìn chung các lỗ ghép đều nằm ngang mức với đĩa đệm. Lỗ ghép cho các dây thần kinh sống đi từ ống sống ra ngoài, bình thường đường kính của lỗ ghép to gấp 5-6 lần đường kính của đoạn dây thần kinh đi qua nó. Các tư thế ưỡn và nghiêng về bên làm giảm đường kính của lỗ.

Khi cột sống bị thoái hóa hay đĩa đệm thoát vị sang bên sẽ chèn ép dây thần kinh sống gây đau. Riêng lỗ ghép thắt lưng – cùng là đặc biệt nhỏ do tư thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang chứ không ở mặt phẳng đứng dọc như ở đoạn L1-L4, do đó những biến đổi ở diện khớp và tư thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ ghép này.

5. Các dây chằng:

– Dây chằng dọc trước: phủ mặt trước thân đốt từ mặt trước xương cùng đến lồi củ trước đốt sống C1 và đến lỗ chẩm. Nó ngăn cản sự ưỡn quá mức của cột sống.

– Dây chằng dọc sau: phủ mặt sau thân đốt sống, chạy trong ống sống từ nền xương chẩm đến mặt sau xương cùng. Nó ngăn cản cột sống gấp quá mức và thoát vị đĩa đệm ra sau. Tuy nhiên dây chằng này khi chạy đến cột sống thắt lưng thì phủ không hết mặt sau thân đốt, tạo thành hai vị trí rất yếu ở hai mặt sau bên đốt sống, và là nơi dễ gây ra thoát vị đĩa đệm nhất. Dây chằng này được phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên rất nhạy cảm với đau.

– Dây chằng vàng: phủ phần sau ống sống. Dày dây chằng vàng cũng là một biểu hiện của thoái hóa (ở một số người có hẹp ống sống bẩm sinh không triệu chứng), đến khi dây chằng vàng dầy với tuổi thuận lợi các triệu chứng mới xuất hiện.

– Dây chằng liên gai và trên gai: dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau. Dây chằng trên gai chạy qua đỉnh các mỏm gai.

Các vị trí có dây chằng bám là những vị trí rất vững chắc ít khi nhân nhầy thoát vị ra các vị trí này, mà thường thoát vị ra các điểm yếu không có dây chằng bám, vị trí hay gặp là ở phía sau bên cột sống.

6. Ống sống thắt lưng.

Ống sống thắt lưng được giới hạn ở phía trước bởi thân đốt sống và các đĩa đệm, phía sau bởi dây chằng vàng và các cung đốt sống, bên cạnh là các cuống sống, vòng cung và lỗ ghép. Trong ống sống có bao màng cứng, rễ thần kinh và tổ chức quanh màng cứng (là tổ chức lỏng lẻo gồm mô liên kết, tổ chức mỡ và đám rối tĩnh mạch, có tác dụng đệm đỡ tránh cho rễ thần kinh khỏi bị chèn ép bởi thành xương sống, kể cả khi vận động cột sống thắt lưng tới biên độ tối đa).

– Rễ L3 thoát ra khỏi bao cứng ở ngang thân đốt L2.

– Rễ L4 ngang mức thân L3.

– Rễ L5 thoát ra ở bờ dưới thân đốt L4.

– Rễ S1 thoát ra ở bờ dưới thân đốt L5.

Khi ống sống thắt lưng bị hẹp thì chỉ cần một thay đổi nhỏ chu vi phía sau đĩa đệm (lồi đĩa đệm nhẹ) cũng có thể dẫn đến chèn ép rễ thần kinh.

7. Rễ và dây thần kinh tủy sống.

7.1. Đặc điểm chung.

Mỗi bên của một khoanh tủy sống thoát ra 2 rễ thần kinh: Rễ trước hay rễ vận động và rễ sau hay rễ cảm giác, rễ này có hạch gai. Hai rễ này chập lại thành dây thần kinh sống rồi chui qua lỗ ghép ra ngoài. Dây thần kinh sống chia thành hai ngành:

– Ngành sau đi ra phía sau để vận động các cơ rãnh sống và cảm giác da gần cột sống. Ngành này tách ra một nhánh quặt ngược chui qua lỗ ghép đi vào chi phối cảm giác trong ống sống.

– Ngành trước ở đoạn cổ và thắt lưng – cùng thì hợp thành các thân của các đám rối thần kinh, còn ở đoạn ngực thì tạo thành các dây thần kinh liên sườn.

7.2. Rễ và dây thần kinh hông to.

– Dây thần kinh hông to được tạo nên chủ yếu bởi hai rễ thần kinh là rễ L5 và rễ S1 thuộc đám rối thần kinh cùng.

– Sau khi ra ngoài ống sống rễ L5 và S1 hợp với nhau thành dây thần kinh hông to, là dây thần kinh to và dài nhất trong cơ thể. Từ vùng chậu hông, dây này chui qua lỗ mẻ hông to, qua khe giữa ụ ngồi và mấu chuyển lớn xương đùi chìm sâu vào mặt sau đùi và nằm dưới cơ tháp, đến đỉnh trám khoeo chân thì chia làm 2 nhánh là dây hông khoeo trong (dây chày), và dây hông khoeo ngoài (dây mác chung).

– Rễ L5 chi phối vận động các cơ cẳng chân trước ngoài (gập mu chân và duỗi các ngón chân), chi phối cảm giác một phần sau đùi, mặt sau cẳng chân, hướng đến ngón cái và các ngón gần ngón cái. Rễ S1 chi phối vận động các cơ vùng cẳng chân sau, làm duỗi bàn chân, đảm nhận phản xạ gân gót, chi phối cảm giác phần còn lại sau đùi, mặt sau cẳng chân, bờ ngoài bàn chân, và 2/3 phía ngoài gan chân. 8. Đoạn vận động cột sống.

– Đoạn vận động là một đơn vị cấu trúc và chức năng của cột sống, bao gồm: khoang gian đốt, nửa phần thân đốt sồng trên và đốt sống dưới, dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, khớp đốt sống và tất cả phần mềm tương ứng

– Đoạn vận động của cột sống hoạt động giống như một cái kẹp giấy mà bản lề chính là khớp đốt sống. ở trạng thái cúi hoặc mang vật nặng, khoang gian đốt hẹp lại làm tăng áp lực nội đĩa đệm. Còn ở trạng thái nằm nghỉ hoặc cột sống ưỡn, khoang gian đốt giãn ra làm giảm áp lực nội đĩa đệm. Năm 1964, Nachemson đã đo áp lực nội đĩa đệm khoang gian đốt L3-L4 ở các tư thế như hình sau:

Như vậy ở tư thế đúng cúi và đặc biệt có xách thêm vật nặng thì áp lực nội đĩa đệm sẽ tăng lên rất nhiều lần, và là tư thế dễ gây đau lưng cấp do sự tăng lên đột ngột của áp lực này có thể gây lồi đĩa đệm.

5

1

vote

Article Rating

Giải Phẫu Khung Chậu Nữ / 2023

I. ĐẠI CƯƠNG

Khung chậu được cấu tạo gồm 4 xương: hai xương chậu ở hai bên, xương cùng và xương cụt. Xương chậu là xương to và dẹt mặt trong xương chậu có đường vô danh chia xương chậu làm hai phần. Phần trên thuộc khung chậu to, phần dưới thuộc khung chậu bé. Đốt cùng trên lồi lên gọi là mỏm đỉnh (mỏm nhô) của xương cùng, khớp với xương cụt.

Bốn xương này khớp với nhau bởi 4 khớp:

– Phía trước là khớp mu (vệ).

– Phía sau là khớp cùng – cụt.

– Hai bên là hai khớp

        Xương chậu giống như một cái phễu có hai phần: Phần rộng trên là khung chậu to, phần hẹp dưới gọi là khung chậu nhỏ rất quan trọng trong sản khoa.

II. KHUNG CHẬU TO

1. Cấu tạo

– Mặt trước của cột sống thắt lưng.

– Hai cánh  xương chậu ở hai bên.

– Thành bụng trước và các cơ thành bụng trước.

2. Chỉ số các đường kính khung chậu to của người phụ nữ Việt Nam

(đường kính ngoài khung chậu):

– Đường kính trước sau (đường kính Boledocque): đi từ gai đốt sống thắt lưng 5 đến chính giữa bờ trên khớp mu dài 17,5 cm.

– Đường kính lưỡng gai nối liền hai gai chậu trước trên dài 22,5 cm.

– Đường kính lưỡng mào nối liền hai điểm cao nhất, xa nhất của mào chậu dài 25,5 cm.

– Đường kính lưỡng mấu chuyển to của xương đùi dài 27,5 cm.

3. Trám Mi – kê – lic (Michaelis) nối liền 4 điểm

– Trên là gai đốt sống thắt lưng 5.

– Dưới là đỉnh của rãnh trên mông.

– Hai bên là hai gai chậu sau trên.

 Đường kính dọc của hình trám là 11 cm, đường kính ngang là 10 cm. Đường kính ngang cắt đường kính dọc làm hai phần: phần trên 4 cm, phần dưới 7 cm. Nếu trám Michaelis không cân đối nghĩa là các cạnh của hai hình tam giác không đều nhau là khung chậu bị méo.

III. KHUNG CHẬU NHỎ

1. Cấu tạo

– Phía sau là khối xương cùng, xương cụt

– Phía trước là mặt sau khớp mu

– Hai bên là ngành xuống của xương chậu

  2. Eo trên

        Được giớ hạn bởi bờ trước mỏm nhô, bờ trước cánh xương cùng, đường vô danh và bờ trên khớp mu.

Các đường kính eo trên  (là đường kính trong của khung chậu).

* Đường kính ngang.

+ Ngang tối đa là 13,5 cm.

+ Ngang giữa là 12,5 cm.

Nói chung ngôi thai ít khi lọt theo hai đường kính này vì gần mỏm nhô.

* Đường kính chéo có hai đường.

+ Chéo trái đi từ khớp cùng chậu trái sang mỏm chậu lược phải dài 12 cm.

+ Chéo phải đi từ khớp cùng chậu phải sang mỏm chậu lược trái:12 cm.

* Đường kính trước sau:

+ Nhô – thượng mu: 11 cm.

 + Nhô – hạ mu dài 12 cm gọi là đường kính lâm sàng vì trên lâm sàng đo được. Cách tính đường kính nhô – hậu mu như sau:

+ Nhô – hậu mu: dài 10,5 cm gọi là đường kính hữu dụng nhưng trên  lâm sàng không đo được.

Nhô – hậu mu = Nhô – hạ mu – 1,5 cm (1,5 cm là bề dầy của xương mu).

Khi nhô – hậu mu: 8,5 – 10 cm là khung chậu giới hạn và < 8,5 cm là khung chậu hẹp thực sự..

3. Eo dưới:

được giới hạn bởi phía trước là bờ dưới khớp mu, phía sau là đỉnh xương cụt, hai bên là đỉnh của hai ngành ngồi.

   Các đường kính eo dưới.

+ Đường kính trước sau:

– Đỉnh cụt – hạ mu: dài 9 cm.

– Đỉnh cùng – hạ mu: 11 cm  là đường kính hữu dụng vì khi ngôi thai đè vào eo dưới, do khớp cùng cụt di động được nên xương cụt bị đẩy ra phía làm cho đường kính này có thể lớn hơn .

– Đường kính ngang: Lưỡng ụ ngồi dài 11 cm.

[Total:

0

Average:

0

]

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Phẫu Vùng Bàn Tay / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!