Đề Xuất 12/2022 # Giải Phẫu Định Khu Của Hàm Trên / 2023 # Top 13 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Giải Phẫu Định Khu Của Hàm Trên / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giải Phẫu Định Khu Của Hàm Trên / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sự tiêu xương hướng tâm có khuynh hướng làm giảm đường kính cung hàm. Đường kính cung hàm tạo nên vùng nâng đỡ chính. Kích thước của 1 cung hàm quá nhỏ so với cung hàm còn lại là yếu tố bất lợi cho sự vững ổn của phục hình trong khi nhai.

Cung hàm có thể vuông, tam giác, bầu dục. Hình thể cung hàm phản ảnh cung răng giả tương lai. Sẽ thiếu sự nâng đỡ ở vùng răng nanh nếu cung hàm có thể có hình tam giác.

Sống hàm rắn chắc, khi được tạo bởi xơ- niêm với độ dây trung bình bám chắc vào xương, rất tốt cho sự nâng đõ. Mang những phục hình kém khít sát có thể làm cho xơ-niêm phát triển và biến dạng, tạo nên ” sống hàm phập phều” ít thuận lợi cho sự nâng đỡ. Đôi khi, cần phẫu thuật tiền phục hình để điều trị nhằm giúp cải thiện sự vững ổn và nâng đỡ cho phục hình.

Chiều cao sống hàm ảnh hưởng đến sự vững ổn và lưu giữ của phục hình tương lai. Sống hàm phẳng dĩ nhiên bất lợi. Ngược lại, những sống hàm rất cao có thể cho sự vững ổn tốt và đảm bảo sự lưu giữ hữu hiệu nhưng gây nhiều khó khăn khi lên răng.

Sống hàm hàm trên có thể được chia thành 4 loại có hình thể khác nhau rõ ràng: loại A, loại B, loại C, loại D .

Loại A được tạo bởi mào xương ổ răng hẹp và mỏng dạng lưỡi dao. Những phíên xương trong sống hàm loại này có rất ít khoảng tủy. Ngược lại, có nhiều xương phiến và thậm chí có một vài u xương. Loại sống hàm này, trong thực tế, không có vùng xương ở giữa (gồm xương xốp và những khoảng tủy) (hình 3).

Loại B được tạo bởi xương ổ rộng và tròn. Trong loại này những phiến xương vỏ ngoại vi liên tục và khá lớn, có những dãy hình đăng ten gồm xương xốp và khoảng tủy. Tại vài vị trí, sự loãng xương ở trung tâm của những dãy xương xốp cho một hình ảnh lỗ rỗ (hình 3).

Loại C có đặc điểm là sống hàm thấp, hình tam giác có cạnh đáy rộng. Trong trường hợp này, những phiến xương vỏ phía khẩu cái và hành lang tạo thành một góc tù và chiều cao của tam giác thấp. Giữa xương vỏ là những dãy xương xốp không đều được ngăn cách bởi những khoảng tủy (hình 3)

Loại D được cấu tạo bởi những hàm rộng, thấp và đặc chắc có bề mặt bị tiêu và mòn. Loại sống hàm này có phiến xương vỏ phía hành lang và khẩu cái khá dầy. Tuy nhiên, hai phiến xương này không liên tục và ở đỉnh sống hàm người ta nhận thấy thiếu khá nhiều vỏ xương. Hậu quả là khoảng tủy của vùng xốp trung tâm tiến sát bề mặt xương và ở liên tục sát với màng đệm. Dường như phiến xương vỏ ngoại vi bị tiêu ở đỉnh sống hàm (hình 3) . Những người mất răng không mang hàm có sống hàm thuộc loại này, sống hàm thường được phủ , màng đệm và thượng bì trong tình trạng viêm. Loại bệnh nhân này phải được điều trị đặc biệt với một phục hình chuyển tiếp.

Những sống hàm nhọn, dù liên tục hay không đều, đều bất lợi cho sự nâng đỡ. Sống hàm hình thể lưỡi dao, có gai xương hay xương ổ còn lại tiêu không tốt, dưới lực nhai sẽ gây đau hay loét niêm mạc và làm giảm hiệu quả nhai.

Hình 3. Phân loại theo hình thể các sống hàm trên mất răng

V:hành lang P:khẩu cái Cr:đỉnh sống hàm Ch:màng đệm M:tủy xương

Độ sâu của vòm khẩu, tương ứng với thể tích và chiều cao của sống hàm, là yếu tố góp phần cho sự vững ổn trong chiều dọc và ngang. Không là bề mặt nâng đõ chính bởi tính chịu nén của niêm mạc khác biệt rõ rệt. Có thể thấy:

– Những vùng ít chịu nén: ở đường giữa và trong vùng trước của các vân vòm khẩu.

Ở vùng đường đạn giữa (hình 7), niêm mạc mỏng và rất dính vào xương (hình 4). Đôi khi, đường đan giữa phì đại tạo thành một lồi rắn khẩu cái. Về mặt phục hình, tuỳ theo trường hợp, các lồi rắn khẩu cái có thể là:

Một cấu trúc thuận lợi cho sự nâng đỡ và vững ổn của phục hình ” bằng cách đóng vai trò của một sống hàm ở giữa”.

Một cấu trúc bất lợi do kích thước cần thực hiện giảm nén.

Hình 4. Sơ đồ mặt cắt đứng ngang xương hàm trên trong vùng răng cửa

Trong vùng vân vòm khẩu cái, thượng bì dầy hơn và không có lớp dưới niêm mạc :

– Vùng chịu nén ở những triền bên của vòm khẩu do có lớp dưới niêm mạc (hình 5). Vùng răng cối nhỏ có đặc điểm là có nhiều tế bào mỡ, trong khi vùng răng cối có nhiều tuyến nước miếng . Những tuyến nước miếng này có thế tạo nên một lớp phủ lên niêm mạc và chảy thành dây, cần phải được lau đi hay súc sạch trước khi lấy dấu . Các vùng này tạo nên cùng Schoder (hình 7): được nền hàm che phủ nhưng không tốt cho sự nâng đõ nền hàm. Niêm mạc rất dày và mềm, có thể bị biến dạng bởi sự lấy dấu. Niêm mạc phục hồi lại hình dạng sẽ làm xê dịch phục hình do đó hàm toàn không dính .

Hình 5. Sơ đồ mặt cắt đứng ngang ở hàm trên

Là một yếu tố thuận lợi cho sự vững ổn và lưu giữ. Lồi củ có hình thể thuận lợi, với trũng chân bướm -hàm rõ nét, là yếu tố vững ổn trong chiều trước-sau. Ngược lại, khi lồi củ rất to (hình 7), nền hàm bao phủ lồi củ có thể chạm với phục hình hàm dưới. Lồi củ có vùng lẹm ở triền ngoài ít thuận lợi và gây khó khăn khi gắn hàm giả. Đôi khi phẫu thuật tiền phục hình có thể cải thiện tình trạng trên.

Lồi củ hàm trên giáp ranh với vùng sau lồi củ. Vùng ranh giới này, được Taieb và cộng sựmô tả, nằm giữa hành lang và vòm khẩu, có những hình dạng khác nhau tuỳ theo cách ráp vào nhau của các mảnh xương hàm trên, xương khẩu cái và xương chân bướm ở quanh nó. Vùng sau lồi củ có những hình ảnh khác nhau tuỳ vị trí xuất hiện của dây chằng chân bướm-hàm. Trong đa số trường hợp, dây chằng nằm cách xa lồi củ tạo nên một lối đi nhỏ cong lõm và lún được, đó là rãnh chân bướm-hàm (hình 7) ; khi dây chằng xuất phát ngay sau lồi củ, sẽ không còn rãnh nữa và khoảng cách vùng này sẽ nhỏ và ít chịu nén hơn . Những rãnh này đôi khi không rõ, có thể dùng bờ gương thăm dò để xác định vị trí chính xác.

Ranh giới khẩu cái- màn hầu tương ứng với đường gấp của màn hầu (hình 7), nằm tại chỗ nối giữa khẩu cái cứng và khẩu cái mềm. Đó là một vùng rất quan trọng cho sụ lưu giữ phục hình. Bờ sau của phục hình phải bảo đảm sự khít kín bằng cách lấn nhẹ vào niêm mạc khẩu cái mềm. Việc này không được làm xáo trộn những vận động chức năng của màn hầu. Vì vậy phải xác định chính xác giới này. Khi quan sát, phải xác định hướng của màn hầu và khám xem phản xạ nôn của bệnh nhân co nhạy hay không.

Hướng của màn hầu có thể là nằm ngang, xéo hay thẳng đứng. Phân loại của Landa dựa theo hình thể của khẩu cái và độ nghiêng của khẩu cái mềm(hình 6).

Hình 6. Định hướng của màn hầu tùy theo loại vòm khẩu

Sự có hay không có phản xạ nôn lúc dùng bờ gương chạm ngay phía sau các trũng khẩu cái (hình 7) cho biết bệnh nhân có chịu được phục hình hay không. Nếu không có phản xạ nôn khi gương chạm mạnh và lâu, sẽ làm phục hình với bờ sau có vị trí chạm giống như vậy .

Đó là vùng hình thành lớp nước bọt hình cong lõm ở bờ hàm bảo đảm sự dính của phục hình; vì vậy vùng này hoàn toàn góp phần vào sự lưu của phục hình. Chiều sâu đáy hành lang là yếu tố quan trọng cho sự vững ổn. Sự liên tục của hành lang bị gián đoạn của một vài vị trí do các thắng. Dấu chức năng phải ghi dấu các thắng này. Về phía sau, trong vùng cận lồi củ, hành lang mở rộng và tạo thành vùng bầu Eisenring (hình 7). Bờ hành lang của phục hình phải tiếp xúc với má và như vậy chiếm cả vùng này mà không đụng mấu mỏ quạ trong vận động há tối đa, sang bên và tới trước.

Hình 7. Giải phẫu định khu của hàm trên không răng

Giải Phẫu Gan Trên Hình Ảnh Ct / 2023

Cắt lớp vi tính (CLVT) ngày càng trở thành một phương tiên chẩn đoán hình ảnh không thể thiếu được trong khảo sát gan nói riêng và các cơ quan khác nói chung. Gần đây với sự ra đời của thế hệ CLVT nhiều vòng xoắn đa dãy đầu dò, CLVT đã cung cấp thông tin chẩn đoán mang tính toàn diện và đầy đủ, các thông tin này không những mô tả đầy đủ hình thái gan mà còn nêu lên được động học tưới máu gan.

Về kỹ thuật, để cải thiện độ ly giải tương phản (sự khác biệt giữa tỷ trọng nhu mô gan với tỷ trọng các cấu trúc mạch máu và đường mật) người ta đã đưa vào lòng mạch hay lòng đường mật các chất cản quang thích hợp – tương tự như tiêm các chất nhuộm màu trong kỹ thuật đúc khuôn ăn mòn của nhà giải phẫu – để làm rõ các thành phần giải phẫu này. Ngoài ra, nhờ nắm vững sinh lý động học của máu mà ở trên các máy chụp thế hệ mới, kỹ thuật viên chụp chọn thời điểm thích hợp để thấy rõ từng thành phần riêng biệt mặc dù rằng chỉ tiêm một lần chất cản quang vào tĩnh mạch (khác với các kỹ thuật trước đây là đôi khi phải dùng kỹ thuật xâm nhập để tiêm thuốc cản quang vào động mạch để làm rõ động mạch gan hay tmc). Hơn thế nửa, với đặc tính kỹ thuật thu hình theo vòng xoắn dự kiến thu được là dự kiến khối thể tích, và cùng với sự hỗ trợ của phần mềm đồ họa trong các máy chụp thế hệ mới, người ta có thể dựng lại mặt cắt bất kỳ trong không gian dù rằng khi chụp máy chỉ quét theo mặt phẳng ngang trục, nhờ thế mà sự tương quan vị trí không gian của các thành phần mạch máu, đường mật cũng như thương tổn trong gan được tôn trọng một cách triêt để – điều này tạo nên một phẫu trường “ảo” lý tưởng cho phẫu thuật viên gan mật.

Nhờ những ưu điểm nêu trên và CLVT đã không chỉ cung cấp thông tin về hình thể bên ngoài, cấu trúc bên trong mà còn nêu lên được chi tiết về các thành phần mạch máu, đường mật. Thêm vào đó, căn cứ vào các mốc giải phẫu được khảo sát qua CLVT để phân thùy theo giải phẫu cổ điển cũng như theo phân thùy chức năng mà các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đã xác định được vị trí của thương tổn một cách chính xác.

1. Khảo sát hình thái gan qua CLVT CLVT có một thuận lợi khi khảo sát hình thái gan là kết quả thu được phản ánh khá trung thực vì khảo sát trên cơ thể sống, nhu mô gan không bị co rút như một gan của tử thi, ngoài ra hình dạng gan được giữ nguyên vẹn trong mối tương quan với cơ quan khác và áp lực trong ổ bụng chứ không bị biến dạng và thay đổi vị trí như một gan người chết được lấy ra khỏi cơ thể và để trên bàn mổ của nhà giải phẫu (đây cũng là một yếu tố tạo nên sự tranh cải giữa các trường phái giải phẫu cổ điển về đặt tên cho các phần chức năng của gan).

B Dễ dàng đo được kích thước gan theo các chiều trong không gian, các số đo này phản ánh khá trung thực do không ảnh hưởng bởi sai số do bị biến dạng của gan được đem ra ngoài.

2. Khảo sát các cấu trúc mạch máu, đường mật qua CLVT 2.1. Hệ thống tĩnh mạch cửa (TMC): Nhờ vào vị trí nằm theo phương mặt phẳng ngang mà tĩnh mạch lách và ngành P và T của TMC dễ dàng được khảo sát trên các mặt cắt ngang cơ bản của hình CLVT.

2.2. Hệ thống động mạch gan Khảo sát hệ thống động mạch gan trên mặt cắt ngang tương đối khó do đường đi của động mạch gan thường uốn lượn, nên khi khảo sát động mạch gan trên CLVT thường cần thiết dựng hình theo hình chiếu hoặc theo phối cảnh.

Với khả năng bộc lộ được các nhánh mật bậc III, các nhà nghiên cứu có thể phân biêt được các loại biến thể giải phẫu của hợp nhánh mật trên CLVT.

3. Phân thùy gan trên CLVT Dựa vào các mốc giải phẫu bên ngoài cũng như các cấu trúc giải phẫu bên trong, cấu trúc này được bộc lộ rõ trên hình CLVT như nêu trên, người ta đã xác định được thùy cổ điển cũng như thùy chức năng của gan qua khảo sát CLVT.

3.2. Phân thùy theo đơn vị chức năng Trong phân chia gan theo đơn vị chức năng, điều quan trọng cần xác định là các khe chính và phụ của gan, dựa vào đặc điểm giải phẫu của các khe này mà trên hình CLVT theo mặt phẳng ngang hay hình tái tạo đa diện người ta có thể xác định các khe này.

Cần nhắc lại là các khe, rãnh phân chia gan trên tự nhiên là những mặt uốn lượn, nhưng để dễ dàng trong công viêc thực hành hàng ngày, người ta sử dụng các mặt phẳng làm tượng trưng cho các khe, sau đây là một số mặt phẳng tượng trưng cho các khe:

+ Khe giữa gan được tượng trưng bằng mặt phẳng chứa TMG giữa và TMCD. + Khe bên phải gan được tượng trưng bằng mặt phẳng chứa TMG phải và TMCD. + Khe bên T được tượng trưng bằng mặt phẳng chứa TMG trái và TMCD. + Khe rốn được tượng trưng bằng mặt phẳng chứa rãnh dây chằng liềm và TMCD. + Khe phụ giữa gan P và T là mặt phẳng ngang đi ngang qua ngành P và T tĩnh mạch cửa.

Để xác định phân thùy gan trên CLVT trước hết cần phải xác định ba TMG và mặt phẳng ngang đi ngang qua ngành P và T tĩnh mạch cửa rồi xác định phần gan nằm trên hay dưới mặt phẳng này

Cấu Tạo Giải Phẫu Của Thận / 2023

Thận là một cơ quan trong hệ tiết niệu có nhiều vai trò quan trọng với cơ thể trong đó vai trò quan trọng nhất là lọc máu đào thải chất độc hại ra khỏi cơ thể. Ở bài viết này thiên châu ích thận hoàn gold sẽ giúp mọi người tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo giải phẫu của thận.

Vị trí: cơ thể có 2 quả thận nằm ở trong khoang bụng, phía sau phúc mạc trong góc xương sườn thứ 11 và cột sống thắt lưng ngay trước cơ thắt lưng. Thận phải ở vị trí thấp hơn thận trái khoảng 2 cm.

Hình dạng: mỗi quả thận có hình dạng giống hạt đậu màu nâu đỏ, Thận có 2 mặt (mặt trước lồi, mặt sau phẳng), 2 bờ (một bờ lồi và một bờ lõm) và 2 cực.

Kích thước: thận của người trưởng thành có khối lượng khoảng 150-170g, dài khoảng 10 – 12.5 cm, rộng 5-6 cm, dày 3-4 cm.

Thận được bọc trong một bao sợi, ở giữa là xoang thận, có mạch máu thần kinh, bể thận đi qua và được làm đầy bởi tổ chức mỡ. Bao quanh xoang thận là nhu mô thận có hình bán nguyệt.

Xoang thận thông ra ngoài rốn thận. Thành xoang có nhiều chỗ lồi lõm. Chỗ lồi có hình nón gọi là nhú thận. Ðầu nhú có nhiều lỗ của các ống sinh niệu đổ nước tiểu vào bể thận. Xoang thận chứa bể thận, đài thận cũng như mạch máu, tổ chức mỡ. Mỗi thận như vậy có khoảng 7 – 14 đài thận nhỏ. Các đài thận nhỏ họp thành 2 – 3 đài thận lớn. Các đài thận lớn tạo thành bể thận, bể thận lại nối tiếp với niệu quản.

Nhu mô thận gồm có hai phần là vỏ thận và tủy thận:

+Vỏ thận gồm cột thận là phần nhu mô nằm giữa các tháp thận và tiểu thuỳ vỏ là phần nhu mô từ đáy tháp đến bao sợi. Tiểu thuỳ vỏ lai chia thành 2 phần: phần tia gồm các khối hình tháp nhỏ, đáy nằm trên đáy tháp thận, đỉnh hướng ra bao sợi thận và phần lượn là phần nhu mô xen giữa phần tia.

+Tuỷ thận được cấu tạo bởi nhiều khối hình nón gọi là tháp thận, đáy tháp quay về phía bao thận, đỉnh hướng về xoang thận tạo nên nhú thận, phần giữa của thận có 2 – 3 tháp chung một nhú thận, phần 2 cực thận có khi 6 – 7 tháp chung nhau 1 nhú thận. Các tháp thận sắp xếp thành 2 hàng dọc theo 2 mặt trước và sau thận.

Nhu mô thận được cấu tạo chủ yếu bởi những đơn vị chức năng thận là nephron. Mỗi nephron gồm: 1 tiểu thể thận và 1 hệ thống ống sinh niệu:

+Tiểu thể thận gồm 1 bao ở ngoài (bao Bowman) và bên trong là 1 cuộn mao mạch. Bao Bowman giống như một cái bọc có 2 lớp ôm lấy cuộn mạch. Giữa 2 lớp là khoang Bowman chứa dịch siêu lọc (nước tiểu đầu). Bao Bowman thông trực tiếp với ống lượn gần. Nó có một đầu hẹp cho vừa đủ đông mạch đến và động mạch đi chui qua.

+Hệ thống sinh niệu gồm: các tiểu quản lượn, ống lượn gần, quai Henlé, ống lượn xa, và ống thu thập. Quai Henlé, ống thẳng, ống thu thập nằm trong phần tia của vỏ thận và tủy thận. Mỗi phần của nephron có 1 vai trò riêng trong việc bài tiết, hấp thu nước và 1 số chất trong quá trình thành lập nước tiểu.

Cấu Trúc Giải Phẫu Của Tai / 2023

Tai ngoài Tai ngoài có loa tai và ống tai ngoài. Loa tai ở người có những nếp lồi lõm, có tác dụng thu nhận âm thanh từ mọi phía mà không cần xoay như một số động vật. Ống tai ngoài hơi cong xuống dưới và ra sau. Cấu trúc này có tác dụng bảo vệ tai nhưng hơi khó cho thầy thuốc khi khám tai. Ống tai ngoài có lông và tuyến nhầy (ráy tai), phần da che phủ sụn ống tai dính chặt vào sụn và xương nên rất nhạy cảm, có mụn nhọt hay dụng cụ vào là rất đau. Giới hạn bên trong là màng nhĩ. Màng nhĩ cấu tạo bởi 4 lớp: lớp da liên kết với ống tai ngoài, 2 lớp sợi hình tia và hình vòng bên, trong là niêm mạc, có cán búa áp phía trên, có cơ căng màng nhỉ bám vào cán búa. Nhìn từ ngoài vào thấy màng nhỉ có màu hồng sáng và bóng. Nếu bên trong có mủ thì màng sẽ mất bóng và đục, có thể rạch màng nhỉ để thăm dò hoặc tháo mủ ra. Tai giữa Tai giữa gồm có hòm nhỉ nằm trong phần đá của xương thái dương, có dung tích1/2ml, trong đó có 3 xương con: xương búa, xương đe và xương bàn đạp. Thành trước có vòi eustache (vòi nhỉ) thông với hầu, bình thường vòi này đóng, chỉ mở ra để cân bằng áp lực khi nuốt hoặc ngáp. Vì nó thông với hầu nên vi trùng ở hầu có thể đi lên để làm viêm tai giữa, có thể làm thủng màng nhỉ và chảy mủ tai. Tai giữa còn thông với các xoang chủm, có thể gây viêm tai xương chủm. Bên trong là cửa sổ tròn (cửa sổ tiền đình) liên hệ với tiền đình tai trong. Nền của xương bàn đạp đậy lên cửa sổ tiền đình. Tai trong Tai trong có cơ quan thinh giác và bộ máy thăng bằng gồm có mê đạo xương và mê đạo màng. Mê đạo xương chứa ngoại dịch còn mê đạo màng chứa nội dịch, nằm trong phần đá của xương thái dương. Cấu tạo của mê đạo (mê lộ) gồm 2 phần: Tiền đình và ống khuyên. Tiền đình Được cấu tạo bởi 2 túi: Túi xoang và túi cầu (xoang nang và cầu nang). Túi xoang liên hệ với tai giữa bằng cửa sổ bầu dục, túi cầu liên hệ bằng cửa sổ tròn, phía phải liên hệ với các ống bán khuyên, phía trái liên hệ với ốc tai, thành bên còn có lỗ để cho dây thần kinh tiền đình và ốc tai đi vào não. Trong tiền đình có một lớp màng gọi là tiền đình màng, lớp này có những đầu mút thần kinh tiền đình gọi là điểm thần kinh cảm giác về áp suất trong tiền đình, ở túi nang có điểm macula utriculi, còn ở túi cầu có điểm macula sacculi. Trong tiền đình chứa một chất gọi là nội dịch, dịch này gần giống dịch nội bào, nhiều kali nhưng it protein hơn. Các ống bán khuyên Có 3 ống bán khuyên sắp xếp theo 3 chiều khác nhau trong không gian, đường kính mỗi ống chừng 2-4m, mỗi ống có một đầu phình. Các ống chụm lại với nhau và thông với tiền đình. Trong ống có lót một lớp màng gọi là màng bán khuyên, ở chổ phình mỗi ống có các đầu mút của thần kinh tiền đình có chức năng tiếp nhận thay đổi áp suất trong các ống này, chúng được gọi là mào bóng (mào thính giác: crista ampularis) trong các ống này cũng chứa nội dịch như trong tiền đình và thông với tiền đình. Ốc tai Ốc tai nằm trong mê đạo xương, có ống ốc tai đó là một ống dài 32mm, xoắn hìnhtrôn ốc 2 vòng rưỡi nằm trong ốc tai. Ốc tai được chia làm 3 phần nhỏ có 2 màng chạy suốt từ đầu đến cuối ốc tai. Đó là vịnh tiền đình ở phía trên bên phải, vịnh màng nhỉ ở dưới và vịnh ốc tai hay vịn trung tâm trong ốc tai. Vịnh tiền đình liên hệ vối cửa sổ bầu dục còn vịnh màng nhỉ liên hệ với cửa sổ tròn. Vịnh ốc tai có cơ quan Corti, đó là bộ máy thính giác. Trong ống này có chứa nội dịch và thông với tiền đình cũng như các ống bán khuyên. Cơ quan Corti gồm có những tế bào Corti, đường hầm và màng phủ Corti. Tế bào Corti đó là những tế bào có lông là những thụ thể thính giác, được chia thành 4 lớp: 3 lớp ngoài có khoảng 20.000 tế bào dựa vào thành bên của đường hầm Corti, lớp trong có 3.500 tế bào nằm bên kia đường hầm. Trên đầu tế bào này có lông, xuyên qua tấm lưới đượ bao phủ bởi màng phủ. Đuôi của những tế bào Corti là những sợi thần kinh sẽ tạo thành thần kinh ốc tai (thính giác ). Đường hầm Corti là những tế bào trụ tròn xếp thành hai dãy chụm đầu vào nhau tạo thành đường hầm chạy suốt từ đầu đến cuối ố tai. Màng phủ Corti là một màng mỏng, đàn hồi, nằm trên đầu những tế bào lớp ngoài của tế bào Corti, ôm lấy những tế bào này. Màng đáy là những vách ngăn giữa vịnh nhĩ và vịnh trung tâm trong ốc tai, vịn tiền đình có 2 phần: Phần xương ở phía vịnh tiền đình và phần màng ở phía vịnh trung tâm trong ốc tai. Màng này gồm những sợi liên kết chạy ngang tạo thành 1 vách ngăn giữa vịnh màng nhỉ và vịnh trung tâm. Đặc điểm màng này có thể cho ngoại dịch trong vịnh màng nhĩ thấm qua. Vì vậy đường hầm Corti và đáy những tế bào có lông của corti đều ngâm mình trong ngoại dịch. Trong lúc đó, những lông của tế bào Corti lại ngâm mình trong nội dịch. Đó là một điểm cần chú ý vì thành phần trong nội dịch tương tự như dịch nội tế bào (chứa nhiều kali hơn nhưng ít protein hơn nội dịch tế bào). Ngoại dịch có thành phần gần giống dịch não tuỷ (có nhiều natri) nhưng lại có nhiều protein hơn dịch não tuỷ. Có lẽ sự chênh lệch thành phần giữa dịch nội bào và ngoại bào đóng vai trò trong hoạt động điện khi có kích thích của những sóng âm ở nội dịch và ngoại dịch, trong lúc đó, màng đáy và màng phủ đều rung chuyển mỗi khi có thay đổi áp suất do sóng âm gây nên. Các đường dẫn truyền thần kinh thị giác và thăng bằng Dây thần kinh VIII Gồm có hai thành phần: tiền đình là các sợi trục bắt nguồn từ tiền đình và các ống khuyên, nhánh ốc tai bắt nguồn từ các tế bào Corti trong ốc tai. Cả hai nhập lại với nhau thành dây VIII, nhưng các bó vẫn riêng lẻ và có nhiệm vụ khác nhau. Dây VIII cùng chạy chung một lỗ với dây VII (mặt) trong ống tai rồi thoát ra khỏi lỗ ống tai để vào hố sọ sau. Tại đây nó tách thành 2 rễ: rễ tiền đình và rễ ốc tai, chui vào thân não ở rãnh hành cầu để vào các nhân ở cầu não rồi chúng được phân chia đường đi khác nhau theo chức năng.

Dây thần kinh VIII ốc tai Vào nhân lưng và nhân bụng của nhân VIII, đó là trung tâm phản xạ thính giác ở cầu não, từ đó chạy vào thể gối giữa của đồi thị, rồi lên vỏ não vùng thái dương. Ngoài ra cũng có một số sợi bắt chéo sang bên đối diện chạy vào tiểu não hoặc vào đồi thị rồi lên vỏ não bên đối diện, dây VIII tiền đình vào nhân tiền đình ở cầu não, rẽ ngay sang tiểu não, một số chạy thẳng lên đồi thị cùng bên, một số khác bắt chéo sang đồi thị bên đối diện. Ngoài ra còn những bó chạy xuống tuỷ sống cùng bên và bắt chéo sang bên đối diện rồi chạy xuống tuỷ sống.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giải Phẫu Định Khu Của Hàm Trên / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!