Đề Xuất 2/2023 # Flavonoid Và Những Tác Dụng Sinh Học # Top 10 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Flavonoid Và Những Tác Dụng Sinh Học # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Flavonoid Và Những Tác Dụng Sinh Học mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Flavonoid là gì ?

Flavonoid là một nhóm hợp chất lớn thường gặp trong thực vật, nhưng về độ nguyên chất và hàm lượng thì Keo Ong Xanh Brazil chiếm phần lớn. Hơn một nửa rau quả thường dùng có chứa flavonoid. Flavonoid cũng là thành phần hay gặp trong dược liệu nguồn gốc thực vật. Cho đến nay có khoảng 4.000 chất đã được xác định cấu trúc. Chỉ riêng 2 nhóm flavon và flavonol và với nhóm thế là OH và/hoặc OCH3 thì theo lý thuyết có thể gặp 38.627 chất. Phần lớn các chất flavonoid có màu vàng (Flavonoid do từ flavus có nghĩa là màu vàng). Tuy nhiên một số có màu xanh, tím đỏ, một số khác lại không có màu cũng thuộc nhóm flavonoid. Trong thực vật cũng có một số nhóm hợp chất khác không thuộc flavonoid nhưng lại có màu vàng như carotenoid, anthranoid, xanthon, cần chú ý để khỏi nhầm lẫn.

Tác dụng sinh học của flavonoid.

Flavonoid tạo được phức với các ion kim loại mà chính các ion kim loại này là xúc tác của nhiều phản ứng oxy hoá. Các flavonoid có 3,5,3′,4′ hydroxy có khả năng liên kết tốt với các ion kim loại đó theo phức oxychromon, oxycarbonyl hoặc 3′,4′ orthodioxyphenol.

Flavonoid cùng với acid ascorbic tham gia trong quá trình hoạt động của enzym oxy hoá – khử. Flavonoid còn ức chế tác động của hyaluronidase. Enzym này làm tăng tính thấm của mao mạch. Khi enzym này thừa thì gây hiện tượng xuất huyết dươi da mà y học gọi là bệnh thiếu vit. P (P avitaminose). Các chế phẩm chứa flavonoid chiết từ các loài Citrus như “Cemaflavone”, “Circularine”…, flavonoid từ lá bạc hà (diosmin) như “Daflon”, “Diosmil”, flavonoid từ hoa hoè (rutin) với nhiều biệt dược khác nhau đã chứng minh tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính “dòn” và tính thấm của mao mạch. Tác dụng này được hợp lực cùng với acid ascorbic. Flavonoid được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, tĩnh mạch bị suy yếu, giãn tĩnh mạch, trĩ, chảy máu do đặt vòng trong phụ khoa, các bệnh trong nhãn khoa như sung huyết kết mạc, rối loạn tuần hoàn võng mạc. Các dẫn chất anthocyanosid có tác dụng tái tạo tế bào võng mạc và đã được chứng minh có tác dụng tăng thị lực vào ban đêm.

Tác dụng chống độc của flavonoid thể hiện làm giảm thương tổn gan, bảo vệ được chức năng gan khi một số chất độc được đưa vào cơ thể súc vật thí nghiệm (CCl4, benzen, ethanol, CHCl3, quinin, novarsenol…) Dưới tác dụng của flavonoid ngưỡng ascorbic được ổn định đồng thời lượng glycogen trong gan tăng. Sự tích luỹ glycogen có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chức năng giải độc gan.

Thành phần của màng tế bào có các chất lipid dễ bị peroxyd hoá, tạo ra những sản phẩm làm rối loạn sự trao đổi chất cũng dẫn đến sự huỷ hoại tế bào. Đưa các chất chống oxy hoá như flavonoid vào cơ thể để bảo vệ tế bào thì có thể ngăn ngừa các nguy cơ như xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hoá , tổn thương do bức xạ, thoái hoá gan…

Việc sử dụng một số dược liệu trong điều trị viêm gan, xơ gan, bảo vệ tế bào gan rất hiệu quả như: cây actisô, có biệt dược là Chophytol. Cây Silibum marianum Gaertn có biệt dược “Legalon”; cây bụt dấm – Hibiscus sabdariffa.

Tác dụng kích thích tiết mật thể hiện ở các chất thuộc nhóm flavanon, flavon, flavonol và flavan-3-ol.

Trên bộ máy tiết niệu, nhiều flavonoid thuôc nhóm flavon, flavanon, flavonol thể hiện tác dụng thông tiểu rõ rệt. Scoparosid trong Sarothamnus scoparius, lespecapitosid trong Lespedeza capitata, quercitrin trong lá diếp cá, flavonoid của cây râu mèo đều có tác dụng thông tiểu.

Flavonoid thể hiện tác dụng chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật, phế quản và một số tổ chức khác). Ví dụ apigenin có tác dụng làm giảm co thắt phế quản gây ra bởi histamin, acetylcholin, seretonin.

Tác dụng chống viêm của nhiều flavonoid thuôc các nhóm flavon, flavanon, dihydroflavonol, anthocyanin, flavan-3-ol, chalcon, isoflavon, biflavon, 4-aryl coumarin, 4-aryl chroman đều được chứng minh bằng thực nghiệm do các chất flavonoid này ức chế con đường sinh tổng hợp prostagladin.

Tác dụng chống loét của flavanon và chalcon glycosid của rễ cam thảo đã được ứng dụng để chữa đau dạ dày. Một số dẫn chất khác như catechin, 3-O-methyl catechin, naringenin cũng đã được thử thấy có tác dụng chống loét.

Người ta đã sử dụng rutin, citrin, leucodelphinidin, quercetin, catechin để điều trị ban đỏ, viêm da, tổn thương da và màng nhầy trong trường hợp xạ trị.

Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoid thuộc nhóm flavonol, flavan-3-ol, anthocyanin như quercetin, rutin, myricetin, pelargonin, hỗn hợp catechin của trà có tác dụng làm tăng biên độ co bóp và tăng thể tích phút của tim, thí nghiệm làm hồi phục tim khi bị ngộ độc bởi CHCl3, quinin, methanol, bình thường lại sự rối loạn nhịp.

Trên hệ thần kinh, một số C-flavon glycosid của hạt táo – Ziziphus vulgaris var. spinosus (chứa spinosin, swertisin và các dẫn chất acyl của spinosin) có tác dụng an thần rõ rệt.

Một số flavonoid khác thuộc nhóm rotenoid như chất rotenon có trong dây mật – Derris ellipticaBenth thì tác dụng diệt côn trùng đã được biết và đã được ứng dụng từ lâu.

Cao chiết từ lá cây bạch quả – Ginko biloba chứa các dẫn chất 3-rutinosid của kaempferol, quercetin và isorhammetin (trong lá già đã vàng thì chứa ginkgetin và isoginkgetin) đã được một số hãng của Pháp bào chế thành biệt dược ví dụ “Ginkogink”, “Tanakan” có tác dụng tăng tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Thuốc dùng cho những người có biểu hiện lão suy: rối loạn trí nhớ, khả năng làm việc bằng trí óc sút kém, mất tập trung tư tưởng, hay cáu gắt.

Các dẫn chất thuộc nhóm isoflavonoid có tác dụng estrogen ví dụ genistein (=5,7,4′ trihydroxyisoflavon) daizein (= 7,4′ dihydroxyisoflavon). Tác dụng này được giải thích do sự gần nhau về cấu trúc với diethylstilboestrol.

Một số tài liệu gần đây có nói đến tác dụng chống ung thư của một số chất như leucocyanidin, leucopelargonidin, leucodelphinidin và tác dụng kháng HIV của một số dẫn chất thuộc nhóm flavon như chrysin, acacetin 7-O-b-D-galactopyranosid.

Tài liệu tham khảo Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội

Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật. Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

Flavonoid, Hóa Học, Hóa Học Ngày Nay, Hoạt Chất Sinh Học,Hóa Dược

(Hóa học ngày nay-H2N2)-Flavonoid (hay bioflavonoids) là một nhóm hợp chất rất thường gặp trong thực vật, có trong hơn nửa các loại rau quả dùng hàng ngày.

Theo danh pháp IUPAC chúng được phân chia thành:

– flavonoids, bắt nguồn từ cấu trúc của 2-phenylchromen-4-one (2-phenyl-1,4-benzopyrone) (ví dụ: quercetin, rutin).

– isoflavonoids, bắt nguồn từ cấu trúc của 3-phenylchromen-4-one (3-phenyl-1,4-benzopyrone)

– neoflavonoids, bắt nguồn từ cấu trúc của 4-phenylcoumarine (4-phenyl-1,2-benzopyrone)

Vì thế flavonoid được xem là một nhóm hoạt chất lớn trong dược liệu.

Phần lớn các flavonoid có màu vàng. Ngoài ra, còn có những chất màu xanh, tím, đỏ, hoặc không màu.

Flavonoid có mặt trong tất cả các bộ phận của các loài thực vật bậc cao, đặc biệt là ở hoa, tạo cho hoa những màu sắc rực rỡ để quyến rũ các loại côn trùng giúp cho sự thụ phấn của cây. Trong cây, flavonoid giữ vai trò là chất bảo vệ, chống oxy hoá, bảo tồn acid ascorbic trong tế bào, ngăn cản một số tác nhân gây hại cho cây (vi khuẩn, virus, côn trùng,…), một số còn có tác dụng điều hoà sự sinh trưởng của cây cối.

Flavonoid là nhóm hợp chất có nhiều tác dụng sinh học:

– Trước hết, các chất flavonoid là những chất oxy hóa chậm hay ngăn chặn quá trình oxy hóa do các gốc tự do, có thể là nguyên nhân làm cho tế bào hoạt động khác thường. Các gốc tự do sinh ra trong quá trình trao đổi chất thường là các gốc tự do như OH *, ROO * (là các yếu tố gây biến dị, huỷ hoại tế bào, ung thư, tăng nhanh sự lão hoá,…).

Các flavonoid còn có khả năng tạo phức với các ion kim loại nên có tác dụng như những chất xúc tác ngăn cản các phản ứng oxy hoá mà. Do đó, các chất flavonoid có tác dụng bảo vệ cơ thể, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hoá, thoái hoá gan, tổn thương do bức xạ.

– Hyaluronidase là enzym làm tăng tính thấm của mao mạch, khi thừa enzym này sẽ xảy ra hiện tượng xuất huyết dưới da. Flavonoid ức chế sự hoạt động của hyaluronidase, vì thế, nếu được bổ sung flavonoid, tình trạng trên sẽ cải thiện. Phối hợp với vitamin C, flavonoid của hoa Hoè (rutin) sẽ tăng cường tác dụng trị liệu.

– Những nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tác động của thực phẩm giàu flavonoid với những nguy cơ về tim mạch như huyết áp cao. Flavonoid làm bền thành mạch, được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mạch, trĩ, rối loạn tuần hoàn võng mạc…

– Flavonoid còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan.

– Nhiều flavonoid thuộc nhóm flavon, favanon, flavanol có tác dụng lợi tiểu rõ rệt, đó là các flavonoid có trong lá Diếp cá, trong cây Râu mèo…

– Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoid như quercetin, rutin, myricetin, hỗn hợp các catechin của Trà có tác dụng làm tăng biên độ co bóp tim, tăng thể tích phút của tim…

– Cao chiết từ lá Bạch quả (Ginko biloba) chứa các chất của kaempferol, quercetin, isorhammetin có tác dụng tăng tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh mạch và mao mạch, dùng cho những người có biểu hiện lão suy, rối loạn trí nhớ, khả năng làm việc đầu óc sút kém, mất tập trung, hay cáu gắt…

Theo nghiên cứu mới đây, bác sĩ Lee Hooper, giảng viên trường đại học East Anglia tại bang Norwich, U.K., và cộng sự đã sàng lọc hơn 133 nghiên cứu đã tìm ra được mối liên kết giữa những phân lớp flavonoid khác nhau và thực phẩm giàu flavonoid trên những tác nhân gây nguy cơ cho bệnh tim mạch, như cholesterol có hại, huyết áp cao hay máu chảy chậm.

Báo cáo đưa ra kết luận sau:

– Ăn chocolate hoặc ca cao làm tăng sự giãn nở mạch máu. Chúng cũng làm giảm áp suất của máu, tâm thu (phản ánh áp lực tối đa khi tim co lại) bằng khoảng 6 điểm, và tâm trương (phản ánh áp lực tối đa khi tim giãn) khoảng 3.3 điểm. Nhưng điều này dường như không có ảnh hưởng gì đến cholesterol LDL xấu.

– Protein đậu nành cũng làm giảm áp lực máu tâm trương gần bằng 2 điểm thủy ngân và cải thiện protein xấu, nhưng không ảnh hưởng đến cholesterol HDL tốt. Những ảnh hưởng này được tìm thấy trong protein đậu nành đơn, không có trong những sản phẩm từ đậu nành khác.

– Thói quen uống trà xanh cũng làm giảm lượng cholesterol xấu trong máu, nhưng uống trà đen sẽ làm tăng áp suất của cả tâm thu và tâm trương, tăng lên 5.6 điểm cho tâm thu và 2.5 điểm cho tâm trương.

Trong dân gian từ lâu đã sử dụng những dược liệu giàu flavonoid để giữ gìn sức khoẻ bằng cách dùng đơn giản là trà thuốc, thuốc sắc như nước trà (chè), trà artichaut,… vừa rẻ tiền vừa hiệu quả. Những dược liệu có hàm lượng cao flavonoid đã được khai thác và chiết xuất lấy flavonoid để phục vụ nền công nghiệp dược: hoa Hoè, vỏ Cam, Núc nác, Hoàng cầm, lá Xoài, bồ Kết… và một số flavonoid đã được nghiên cứu, sản xuất thành sản phẩm: thuốc viên, thuốc nước,… rất tiện sử dụng.

Nhưng vẫn còn nhiều điều chúng ta vẫn chưa tìm ra được đối với nhóm hợp chất flavonoid.

Trong lúc đó, chúng ta phải làm gì? Chúng ta cần ăn nhiều thực phẩm giàu flavonoid, bao gồm thật các loại hoa quả, một miếng chocolate đen (ít nhất 70% cacao), dùng thêm hành, trà xanh và thỉnh thoảng uống một ly rượu vang đỏ.

Hóa học ngày nay

Flavonoid: Lợi Ích Của Flavonoid Với Sức Khỏe

Flavonoid là một chất chống oxy hóa mạnh và có nhiều trong các loại rau, củ, quả

Giảm viêm

Ca cao, bông cải xanh, bắp cải… chứa một loại flavonoid gọi là flavonols có thể làm giảm tình trạng viêm, đặc biệt trong lòng động mạch. Một nghiên cứu năm 2009 được đăng tải trong “Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Hoa Kỳ” cho thấy việc tiêu thụ ca cao và các thực phẩm giàu flavonols hàng ngày giúp làm giảm phản ứng viêm và ngăn ngừa xơ vữa động mạch.

Flavonols có thể làm giảm tình trạng viêm trong động mạch

Ngăn chặn bệnh tim mạch

Nên đọc

Flavonols còn có tác dụng đẩy nhanh quá trình trao đổi chất lipid nên làm giảm lượng cholesterol & triglyceride toàn phần, cholesterol xấu (nguyên nhân chính dẫn đến mỡ máu, gan nhiễm mỡ) đồng thời làm gia tăng cholesterol tốt, qua đó làm bền thành mạch.

Giảm nguy cơ ung thư

Theo nghiên cứu của Viện Linus Pauling, flavonoids ức chế một loạt các bệnh ung thư ở động vật, nhưng không đủ bằng chứng cho thấy lượng flavonoids cao có thể làm giảm nguy cơ ung thư ở người. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell đã phát hiện ra rằng chất chiết xuất từ ​​hành tây giàu chất flavonoids giúp chống lại các tế bào ung thư ruột kết và tế bào ung thư gan.

Ngăn ngừa béo phì, đái tháo đường

Các loại flavonoids như: Malvidin, pelargondin, peoidin và cyanidin (các loại flavonoid) có nhiều trong mận, nho có thể ngăn ngừa hiệu quả béo phì và đái tháo đường.

Các loại flavonoid có thể ngăn ngừa hiệu quả béo phì

Giảm loãng xương

Flavonoids trong đậu nành hay còn gọi là isoflavone cũng có tác dụng hạ cholesterol. Ngoài ra isoflavone cũng giúp giảm các triệu chứng của mãn kinh và loãng xương.

Phòng bệnh Alzheimer

Flavonoids cũng tốt cho các tế bào thần kinh của bạn. Trên thực tế, những người bị bệnh Alzheimer có thể cải thiện trí nhớ khi ăn chế độ giàu flavonoid.

Thanh Tú H+ (Theo Boldsky)

Du Học Singapore: Những Lợi Thế Và Khó Khăn Du Học Sinh Cần Biết

Những lợi ích khi học tập tại Singapore

Tiết kiệm chi phí và thời gian

Thời gian học ngắn giúp sinh viên ra trường sớm, tiết kiệm chi phí ăn ở và đi lại. Chi phí cho việc học tại Singapore thường rẻ hơn rất nhiều so với du học tại đất nước New Zealand, Úc, Anh Mỹ, tổng chi phí rơi vào khoảng 1 tỷ – 1,5 tỷ.

Chương trình học mang tính ứng dụng cao

Tại Singapore, bạn chỉ mất khoảng 3 – 6 tháng đầu năm cho chương trình học đại cương, thay vì toàn bộ 2 năm đầu như ở Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, bạn sẽ có một cái nhìn cực kỳ rõ ràng và chi tiết về ngành mà bạn đã chọn học. Trên thực tế, du học sinh Singapore được thực hành từ 30 – 60% trong toàn bộ chương trình học, hơn rất nhiều so với các quốc gia khác.

Khoảng cách địa lý gần

So với việc du học Anh, Úc, Canada, du học tại Singapore có lợi thế hơn hẳn về mặt địa lý. Bay từ Singapore về Việt Nam chỉ mất hơn 3 tiếng và chi phí cũng không quá đắt đỏ, phù hợp cho những bạn muốn về thăm nhà thường xuyên. Đặc biệt, gia đình muốn sang thăm bạn cũng không cần thủ tục visa thăm thân.

Thủ tục làm hồ sơ đơn giản

Khi du học tại Singapore, bạn không cần phải chứng minh tài chính, phỏng vấn với lãnh sự quán như khi du học tại Mỹ, Úc hay Canada. Bên cạnh đó, bạn cũng không cần phải có điểm GPA quá cao, có thể nói tỉ lệ visa du học Singapore cực cao. Đây chính là giải pháp hợp lý cho nhiều du học sinh trượt visa du học tại Mỹ, Úc, Canada.

Phong tục tập quán tương đồng với Việt Nam

Việc phong tục tập quán tại Singapore không quá nhiều điểm khác biệt so với Việt Nam tạo nên sự thuận lợi cho du học sinh Việt từ ngay những ngày đầu nhập học. Các du học sinh Việt sang đây sẽ không bị “sốc văn hóa” như khi học tập tại môi trường phương Tây. Tại Singapore, bạn cũng cũng sẽ được ăn Tết Nguyên Đán với người Hoa, được hòa mình vào các lễ hội đặc sắc của các dân tộc Hoa, Ấn Độ,…

Những khó khăn bạn phải đối mặt khi du học tại Singapore

Bên cạnh những lợi ích kể trên, du học sinh tại Singapore cũng gặp không ít khó khăn với các vấn đề:

Chi phí đắt đỏ

Mặc dù so với các nước châu Âu hay Hoa Kì, giá cả các loại mặt hàng và chi phí rẻ hơn, nhưng so với mức sống tại Việt Nam thì lại khá đắt đỏ. Singapore vẫn được xếp vào top quốc gia có mức sống cao với 750 – 2000 USD/tháng đối với một du học sinh. Đặc biệt, Singapore cũng cấm sinh viên đi làm thêm nên việc cân đối chi tiêu là rất quan trọng.

Ngôn ngữ

Singapore không phải là một đất nước lý tưởng để học tiếng Anh bởi đây là một quốc gia đa sắc tộc và đa ngôn ngữ. Một người dân Singapore có thể nói được nhiều thứ tiếng cùng lúc: tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Mã Lai và cả tiếng Ấn Độ. Do đó, phát âm của người Singapore thường mang một nét đặc trưng và được gọi là Singlish. Cũng chính vì điều đó mà nhiều du học sinh tự tin với ngoại ngữ khi sang đây cũng đều phải mất một khoảng thời gian nhất định để làm quen.

Công ty TNHH Hợp tác Du học Quốc tế Hà Nội (HISA Co)

Trụ sở chính: C20204, Tầng 2, toà C2 D’Capitale, Trần Duy Hưng, Phường Trung Hoà, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Chi nhánh Hồ Chí Minh: Tầng 2, Tòa nhà Đức Nhân, 328 – 330 Phan Xích Long. Phường 7, Quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Hotline: +84 98 310 4430 – (+84) 28 3517 07 97 hoặc (+84) 28 3517 07 98

Email: duhoc@hisa.vn – hisahcm@hisa.vn

Website: https://hisa.edu.vn/

Bạn đang đọc nội dung bài viết Flavonoid Và Những Tác Dụng Sinh Học trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!