Đề Xuất 2/2023 # Flavonoid: Lợi Ích Của Flavonoid Với Sức Khỏe # Top 11 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Flavonoid: Lợi Ích Của Flavonoid Với Sức Khỏe # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Flavonoid: Lợi Ích Của Flavonoid Với Sức Khỏe mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Flavonoid là một chất chống oxy hóa mạnh và có nhiều trong các loại rau, củ, quả

Giảm viêm

Ca cao, bông cải xanh, bắp cải… chứa một loại flavonoid gọi là flavonols có thể làm giảm tình trạng viêm, đặc biệt trong lòng động mạch. Một nghiên cứu năm 2009 được đăng tải trong “Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Hoa Kỳ” cho thấy việc tiêu thụ ca cao và các thực phẩm giàu flavonols hàng ngày giúp làm giảm phản ứng viêm và ngăn ngừa xơ vữa động mạch.

Flavonols có thể làm giảm tình trạng viêm trong động mạch

Ngăn chặn bệnh tim mạch

Nên đọc

Flavonols còn có tác dụng đẩy nhanh quá trình trao đổi chất lipid nên làm giảm lượng cholesterol & triglyceride toàn phần, cholesterol xấu (nguyên nhân chính dẫn đến mỡ máu, gan nhiễm mỡ) đồng thời làm gia tăng cholesterol tốt, qua đó làm bền thành mạch.

Giảm nguy cơ ung thư

Theo nghiên cứu của Viện Linus Pauling, flavonoids ức chế một loạt các bệnh ung thư ở động vật, nhưng không đủ bằng chứng cho thấy lượng flavonoids cao có thể làm giảm nguy cơ ung thư ở người. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell đã phát hiện ra rằng chất chiết xuất từ ​​hành tây giàu chất flavonoids giúp chống lại các tế bào ung thư ruột kết và tế bào ung thư gan.

Ngăn ngừa béo phì, đái tháo đường

Các loại flavonoids như: Malvidin, pelargondin, peoidin và cyanidin (các loại flavonoid) có nhiều trong mận, nho có thể ngăn ngừa hiệu quả béo phì và đái tháo đường.

Các loại flavonoid có thể ngăn ngừa hiệu quả béo phì

Giảm loãng xương

Flavonoids trong đậu nành hay còn gọi là isoflavone cũng có tác dụng hạ cholesterol. Ngoài ra isoflavone cũng giúp giảm các triệu chứng của mãn kinh và loãng xương.

Phòng bệnh Alzheimer

Flavonoids cũng tốt cho các tế bào thần kinh của bạn. Trên thực tế, những người bị bệnh Alzheimer có thể cải thiện trí nhớ khi ăn chế độ giàu flavonoid.

Thanh Tú H+ (Theo Boldsky)

Từ Flavonoid Đến Vitamin P

Năm 1936, Szent Gyorgy, dược sĩ người Hungari tách từ ớt và quả chanh một chất cùng với vitamin C có tác dụng chữa được chứng chảy máu mao mạch, củng cố thành mạch, ông gọi là vitamin C2 hoặc vitamin P (P là chữ đầu của từ tiếng Pháp perméabilité – có nghĩa là tính thấm).rnrn

Năm 1936, Szent Gyorgy, dược sĩ người Hungari tách từ ớt và quả chanh một chất cùng với vitamin C có tác dụng chữa được chứng chảy máu mao mạch, củng cố thành mạch, ông gọi là vitamin C2 hoặc vitamin P (P là chữ đầu của từ tiếng Pháp perméabilité – có nghĩa là tính thấm).

Flavonoid có nhiều trong Hoa hòe.

Về sau người ta thấy trong giới thực vật có nhiều hợp chất thứ sinh có đặc tính tương tự vitamin P và đặt cho chúng một tên chung là flavonoid. Những công trình sau đó đã chứng minh rằng tác dụng tăng cường sức bền vững của thành mao mạch và do đó giảm sức thấm các hồng huyết cầu qua thành mạch có quan hệ đến các nhóm OH phenol trong cấu trúc hóa học của các flavonoid. Hiện nay người ta đã biết có gần 4.000 chất flavonoid có phổ biến trong thực vật và có ở phần lớn các bộ phận của các loài thực vật bậc cao. Các chất này có tác dụng củng cố, nâng cao sức chống đỡ và hạ thấp tính thẩm thấu các hồng huyết cầu qua thành mạch thông qua tác dụng lên các cấu trúc màng tế bào của nó. Hay nói cách khác, vitamin P và flavonoid nói chung duy trì độ mềm dẻo của thành mạch, ứng dụng vào điều trị các rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy yếu tĩnh mạch. Một số flavonoid còn có ảnh hưởng trên hệ tim mạch, dùng trong dự phòng các bệnh này. Flavonoid còn giúp tích lũy vitamin C trong các mô tổ chức.

Khi ăn uống thiếu vitamin P, cơ thể sẽ mệt mỏi, đau cơ và có những điểm xuất huyết dưới da. Flavonoid có nhiều trong lá chè xanh, hoa hòe, cam, quýt… Một số cây có chứa flavonoid đã được bào chế thành thuốc dùng trong phòng và chữa bệnh.

Hiện nay y học đang nói nhiều đến các gốc tự do, lên án nó là tác nhân hủy hoại tổ chức tế bào của cơ thể người. Gốc tự do là những phân tử, hoặc những mảng vỡ của phân tử có một điện tử lẻ đôi ở quỹ đạo vòng ngoài – do sự có mặt của “điện tử cô đơn” này, các gốc tự do có một thuộc tính đáng ngại là có khả năng ôxy hóa rất mạnh. Vitamin P, các dẫn chất flavonoid có tính khử mạnh có thể vô hiệu hóa các gốc tự do, “khóa” giữ chúng lại bằng phản ứng ôxy hóa – khử, không cho các gốc tự do hoạt động phá hoại các tổ chức. Với người bệnh xuất huyết thành mạch, vitamin P hay flavonoid nói chung có thể giúp bảo vệ được màng tế bào khỏi sự phá hoại bởi các gốc tự do, nhờ đó  tăng được tính bền của thành mao mạch chống được sự xuất huyết. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây về tác dụng của flavonoid đối với gan cũng nhận thấy flavonoid có tác dụng chống lại các độc tố, các chất ôxy hóa hướng gan, trong đó có các gốc tự do.

Nhu cầu về vitamin P của cơ thể chưa biết rõ. Thông thường trong ăn uống nếu nhu cầu vitamin C được thỏa mãn thì nhu cầu vitamin P cũng đủ. Những người thường xuyên uống nước chè xanh, ăn cam, quýt, chanh… thì không lo thiếu vitamin P.

Trên thị trường dược phẩm hiện nay có nhiều loại thuốc dẫn chất flavonoid với những tên: vitamin P, rutin, troxerutin, rutosid, rutinoside… Hoặc vitamin P phối hợp với vitamin C thành các biệt dược kép với nhiều tên thương phẩm. Vitamin P (flavonoid và những dẫn chất) thường được chỉ định dùng trong chứng giãn mao mạch, hội chứng xuất huyết do nhiều nguyên nhân khác nhau, thấp khớp, viêm cầu thận, tăng huyết áp, quá liều các thuốc chống đông máu và quá liều salicylat, và còn dùng trong điều trị và dự phòng bệnh scorbut.

(Nguồn tin: Theo http://www.suckhoedoisong.vn ngày 2/4/2007)

Flavonoid Và Những Tác Dụng Sinh Học

Flavonoid là gì ?

Flavonoid là một nhóm hợp chất lớn thường gặp trong thực vật, nhưng về độ nguyên chất và hàm lượng thì Keo Ong Xanh Brazil chiếm phần lớn. Hơn một nửa rau quả thường dùng có chứa flavonoid. Flavonoid cũng là thành phần hay gặp trong dược liệu nguồn gốc thực vật. Cho đến nay có khoảng 4.000 chất đã được xác định cấu trúc. Chỉ riêng 2 nhóm flavon và flavonol và với nhóm thế là OH và/hoặc OCH3 thì theo lý thuyết có thể gặp 38.627 chất. Phần lớn các chất flavonoid có màu vàng (Flavonoid do từ flavus có nghĩa là màu vàng). Tuy nhiên một số có màu xanh, tím đỏ, một số khác lại không có màu cũng thuộc nhóm flavonoid. Trong thực vật cũng có một số nhóm hợp chất khác không thuộc flavonoid nhưng lại có màu vàng như carotenoid, anthranoid, xanthon, cần chú ý để khỏi nhầm lẫn.

Tác dụng sinh học của flavonoid.

Flavonoid tạo được phức với các ion kim loại mà chính các ion kim loại này là xúc tác của nhiều phản ứng oxy hoá. Các flavonoid có 3,5,3′,4′ hydroxy có khả năng liên kết tốt với các ion kim loại đó theo phức oxychromon, oxycarbonyl hoặc 3′,4′ orthodioxyphenol.

Flavonoid cùng với acid ascorbic tham gia trong quá trình hoạt động của enzym oxy hoá – khử. Flavonoid còn ức chế tác động của hyaluronidase. Enzym này làm tăng tính thấm của mao mạch. Khi enzym này thừa thì gây hiện tượng xuất huyết dươi da mà y học gọi là bệnh thiếu vit. P (P avitaminose). Các chế phẩm chứa flavonoid chiết từ các loài Citrus như “Cemaflavone”, “Circularine”…, flavonoid từ lá bạc hà (diosmin) như “Daflon”, “Diosmil”, flavonoid từ hoa hoè (rutin) với nhiều biệt dược khác nhau đã chứng minh tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính “dòn” và tính thấm của mao mạch. Tác dụng này được hợp lực cùng với acid ascorbic. Flavonoid được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, tĩnh mạch bị suy yếu, giãn tĩnh mạch, trĩ, chảy máu do đặt vòng trong phụ khoa, các bệnh trong nhãn khoa như sung huyết kết mạc, rối loạn tuần hoàn võng mạc. Các dẫn chất anthocyanosid có tác dụng tái tạo tế bào võng mạc và đã được chứng minh có tác dụng tăng thị lực vào ban đêm.

Tác dụng chống độc của flavonoid thể hiện làm giảm thương tổn gan, bảo vệ được chức năng gan khi một số chất độc được đưa vào cơ thể súc vật thí nghiệm (CCl4, benzen, ethanol, CHCl3, quinin, novarsenol…) Dưới tác dụng của flavonoid ngưỡng ascorbic được ổn định đồng thời lượng glycogen trong gan tăng. Sự tích luỹ glycogen có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chức năng giải độc gan.

Thành phần của màng tế bào có các chất lipid dễ bị peroxyd hoá, tạo ra những sản phẩm làm rối loạn sự trao đổi chất cũng dẫn đến sự huỷ hoại tế bào. Đưa các chất chống oxy hoá như flavonoid vào cơ thể để bảo vệ tế bào thì có thể ngăn ngừa các nguy cơ như xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hoá , tổn thương do bức xạ, thoái hoá gan…

Việc sử dụng một số dược liệu trong điều trị viêm gan, xơ gan, bảo vệ tế bào gan rất hiệu quả như: cây actisô, có biệt dược là Chophytol. Cây Silibum marianum Gaertn có biệt dược “Legalon”; cây bụt dấm – Hibiscus sabdariffa.

Tác dụng kích thích tiết mật thể hiện ở các chất thuộc nhóm flavanon, flavon, flavonol và flavan-3-ol.

Trên bộ máy tiết niệu, nhiều flavonoid thuôc nhóm flavon, flavanon, flavonol thể hiện tác dụng thông tiểu rõ rệt. Scoparosid trong Sarothamnus scoparius, lespecapitosid trong Lespedeza capitata, quercitrin trong lá diếp cá, flavonoid của cây râu mèo đều có tác dụng thông tiểu.

Flavonoid thể hiện tác dụng chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật, phế quản và một số tổ chức khác). Ví dụ apigenin có tác dụng làm giảm co thắt phế quản gây ra bởi histamin, acetylcholin, seretonin.

Tác dụng chống viêm của nhiều flavonoid thuôc các nhóm flavon, flavanon, dihydroflavonol, anthocyanin, flavan-3-ol, chalcon, isoflavon, biflavon, 4-aryl coumarin, 4-aryl chroman đều được chứng minh bằng thực nghiệm do các chất flavonoid này ức chế con đường sinh tổng hợp prostagladin.

Tác dụng chống loét của flavanon và chalcon glycosid của rễ cam thảo đã được ứng dụng để chữa đau dạ dày. Một số dẫn chất khác như catechin, 3-O-methyl catechin, naringenin cũng đã được thử thấy có tác dụng chống loét.

Người ta đã sử dụng rutin, citrin, leucodelphinidin, quercetin, catechin để điều trị ban đỏ, viêm da, tổn thương da và màng nhầy trong trường hợp xạ trị.

Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoid thuộc nhóm flavonol, flavan-3-ol, anthocyanin như quercetin, rutin, myricetin, pelargonin, hỗn hợp catechin của trà có tác dụng làm tăng biên độ co bóp và tăng thể tích phút của tim, thí nghiệm làm hồi phục tim khi bị ngộ độc bởi CHCl3, quinin, methanol, bình thường lại sự rối loạn nhịp.

Trên hệ thần kinh, một số C-flavon glycosid của hạt táo – Ziziphus vulgaris var. spinosus (chứa spinosin, swertisin và các dẫn chất acyl của spinosin) có tác dụng an thần rõ rệt.

Một số flavonoid khác thuộc nhóm rotenoid như chất rotenon có trong dây mật – Derris ellipticaBenth thì tác dụng diệt côn trùng đã được biết và đã được ứng dụng từ lâu.

Cao chiết từ lá cây bạch quả – Ginko biloba chứa các dẫn chất 3-rutinosid của kaempferol, quercetin và isorhammetin (trong lá già đã vàng thì chứa ginkgetin và isoginkgetin) đã được một số hãng của Pháp bào chế thành biệt dược ví dụ “Ginkogink”, “Tanakan” có tác dụng tăng tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Thuốc dùng cho những người có biểu hiện lão suy: rối loạn trí nhớ, khả năng làm việc bằng trí óc sút kém, mất tập trung tư tưởng, hay cáu gắt.

Các dẫn chất thuộc nhóm isoflavonoid có tác dụng estrogen ví dụ genistein (=5,7,4′ trihydroxyisoflavon) daizein (= 7,4′ dihydroxyisoflavon). Tác dụng này được giải thích do sự gần nhau về cấu trúc với diethylstilboestrol.

Một số tài liệu gần đây có nói đến tác dụng chống ung thư của một số chất như leucocyanidin, leucopelargonidin, leucodelphinidin và tác dụng kháng HIV của một số dẫn chất thuộc nhóm flavon như chrysin, acacetin 7-O-b-D-galactopyranosid.

Tài liệu tham khảo Ngô Văn Thu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập I. Trường đại học Dược Hà Nội

Phạm Thanh Kỳ (1998), “Bài giảng dược liệu”, tập II. Trường đại học Dược Hà Nội Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật. Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.

Thực Hư Thực Phẩm Chức Năng Chứa Các Chất Flavonoid Chữa Ung Thư?

Giới thiệu

Với thành phần chính chứa các flavonoid thu nhận từ hoa, quả, hạt, thảo dược, cây gia vị, các sản phẩm này cho tác dụng hiệu quả trong hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân ung thư?

Vậy đây là sự thật đáng lưu tâm hay thổi phồng nhằm trục lợi?

Bài viết sẽ cung cấp những thông tin cho biết Flavonoid là gì và công dụng của nó thế nào trong điều trị ung thư!

Flavonoid là gì?

Flavonoid là nhóm các hợp chất thứ cấp từ thực vật có trong nhiều loại trái cây, rau và một số loại hạt. Hiện nay có hơn 6000 hợp chất flavonoid đã được xác định.

Cấu trúc hóa học, flavonoid là những hợp chất polyphenol, chứa khung 15 nguyên tử Carbon tạo thành 2 vòng benzen liên kết bởi carbon số 3[1]

Vì là những hợp chất chống oxy hóa tiềm năng nên flavonoid được chú ý nhiều trong nghiên cứu và ứng dụng trong phòng ngừa bệnh tật.

2. Phân loại:

Dựa vào cấu trúc hóa học, flavonoid được phân loại thành 6 nhóm flavones, isoflavones, flavonol, flavanones, anthocyanidins và flavan-3-ols

Hình 1. Cấu trúc hóa học của các phân lớp chính của flavonoid

(Nguồn: Kyselova Z, Interdiscip Toxicol. 2011 Dec;4(4):173-83)

Các phân lớp và nguồn thực phẩm chứa flavonoid[2]

Loại flavonoid

Các hợp chất thường gặp

Nguồn thực phẩm

Flavonol

Kaempferol, quercetin, myricetin, tamarixetin

Hành tây, rượu vang đỏ, cải xoăn, dầu ô liu, bông cải xanh, táo, anh đào, quả mọng, và bưởi và trà

Flavones

Chrysin, apigenin Rutin, luteolin, glucosidestangeretin

Vỏ trái cây, rượu vang đỏ, kiều mạch, ớt đỏ, vỏ cà chua, rau mùi tây, húng tây

Flavanones

Naringin, naringenin, taxifolin, hesperidin

Trái cây họ cam quýt, bưởi, chanh và cam

Flavanol

Catechin, epicatechin, epigallocatechin, glausan-3-epicatechin, proanthocyanidins

Táo, trà, chocolate

Anthocyanidins

Apigenidin, cyaniding, delphinidin, pelargonidin, malvidin

Anh đào, quả mâm xôi, dâu tây và nho

Isoflavones

Genistein, daidzein

Đậu nành, đậu

Các hoạt tính sinh học của flavonoid

-Chống oxy hóa: là một hoạt tính chính của hầu hết các flavonoid, khả năng chống oxy hóa tùy thuộc vào sự sắp xếp các nhóm chức trong công thức cấu tạo nên các flavonoid.

Cơ chế hoạt động chống oxy hóa có thể bao gồm (1) ức chế sự hình thành các chất chứa oxy hoạt động (Reactive Oxygen Species- ROS) hoặc (2) kích hoạt các enzyme chống oxy hóa hay giảm thiểu stress oxy hóa trên tế bào gây ra bởi nitric oxit, (3) giảm các gốc α-tocopheryl, ức chế các oxydase và tăng đặc tính chống oxy hóa của các chất chống oxy hóa phân tử thấp[2, 3]

-Kháng khuẩn: Các nghiên cứu khác nhau cho thấy các chất chiết xuất từ thực vật giàu flavonoid có hoạt tính kháng khuẩn. Apigenin, galangin, flavone và flavonol glycoside, isoflavone, flavanones và chalcones đã được chứng minh là có hoạt tính kháng khuẩn mạnh mẽ [2]

Flavonoid trong phòng ngừa và điều trị ung thư:

Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (in vitro) cho thấy các loại flavonoid có khả năng ức chế một số loại tế bào ung thư như ung thư vú, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng, ung thư máu[2, 4]; một số nghiên cứu in vivo trên chuột cũng cho thấy một vài hợp chất flavonoid có thể ức chế khối u[37]. (Tuy nhiên cần lưu ý đây là những kết quả trong nghiên cứu in vitro, là các tế bào được nuôi cấy, và mô hình chuột chứ không phải trên cơ thể người)

Nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học:

Nghiên cứu lâm sàng:

Hiện tại, các nghiên cứu lâm sàng ung thư về các flavonoid và các phân lớp cho việc điều trị ung thư còn rất hạn chế và nhiều nghiên cứu chưa có kết quả chính thức:

Nghiên cứu lâm sàng pha 2 sử dụng flavone acetic acid không có hiệu quả trên các bệnh nhân ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư da, ung thư đầu và cổ.[5, 6]

Flavopiridol ( còn gọi là alvocidib) là flavonoid tổng hợp thuộc phân lớp flavone, là chất ức chế CDK, đang được thử nghiệm lâm sàng pha I, II, được sử dụng đơn lẻ hay kết hợp với một số thuốc hóa trị như paclitaxel, docetaxel cho một số loại ung thư như ung thư bạch cầu cấp tính , ung thư da melanoma, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư thận  và một số loại ung thư khác, và vẫn chưa có kết quả chính thức [7, 8]

Nghiên cứu lâm sàng pha I/II sử dụng genistein đang được tiến hành giai đoạn đầu để chữa ung thư đại trực tràng, ung thư tụy, ung thư bàng quang. Trong các nghiên cứu này, genistein có thể sử dụng đơn lẻ hay kết hợp với các thuốc khác như gemcitabine, erlotinib,FOLFOX hayFOLFOX-Avastin. Một số nghiên cứu lâm sàng pha I và pha II sử dụng genistein đã hoàn thành nhưng không có hiệu quả rõ rệt và không tiếp tục nghiên cứu (NCT00244933, NCT00376948) hay chưa có công bố kết quả chính thức, một số nghiên cứu được đưa ra nhưng bị thu hồi[9].

Quercetin đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng bước đầu trên đối tượng ung thư đại trực tràng và tuyến tiền liệt tuy nhiên chưa có kết quả được công bố [10, 11]. Quercetin đã được sử dụng một cách an toàn với số lượng 500 mg hai lần mỗi ngày trong 12 tuần. Tuy nhiên nếu sử dụng lâu dài hoặc liều cao hơn thì độ an toàn chưa được xác định. Khi uống, quercetin có thể gây đau đầu và ngứa ở tay, chân. Liều cao có thể gây tổn thương thận[12].

Và trên cơ sở dữ liệu thuốc Drugbank chưa có hợp chất flavonoid nào được sử dụng làm thuốc chữa ung thư được FDA cấp phép [13]

Nghiên cứu dịch tễ trên số lượng lớn:

Tổng hợp các nghiên cứu về tiêu thụ flavonoid và nguy cơ một số ung thư:

Loại ung thư

Nghiên cứu Kết quả T ác giả

Ung thư vú

Nghiên cứu  đoàn hệ tiền cứu trên

10713 phụ nữ tại Tây Ban Nha (Nghiên cứu  đoàn hệ tiền cứu-Prospective Cohort Study – sẽ viết tắt là PCS ở các phần sau)

Itziar Gardeazabal, 2013[14]

Nghiên cứu PCS EPIC trên 334850 phụ nữ tại các nước châu Âu từ 35-70 tuổi trong khoảng 11,5 năm

Trong 11,5 năm có 11576 ca mắc mới ung thư vú được phát hiện. và kết quả cho thấy Không có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ flavonoid tổng và isoflavonoid và làm giảm nguy cơ ung thư vú

Raul Zamora-Ros, 2013[15]

Nghiên cứu bệnh chứng (case-control) với 353 người bệnh và 701 đối chứng, 40-70  tuổi

Cho thấy  tiêu thụ epicatechin có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú và. Tuy nhiên tác giả khẳng định kết quả vẫn còn phải xác nhận thêm

Luo JF, 2010[16]

Ung thư phổi

Nghiên cứu trên 34708 phụ nữ sau mãn kinh.

tiêu thụ liều cao flavanones, proanthocyanidins làm giảm tỉ lệ mắc mới ung thư phổi, tuy nhiên chỉ có hiệu quả với người đang và đã từng hút thuốc lá, không có hiệu quả với người chưa từng hút thuốc

Cutler, 2008[17]

Nghiên cứu bệnh chứng: 1061 người bệnh v à 1425 đối chứng

Tiêu thụ một lượng nhỏ flavonoid cho thấy tăng nguy cơ ung thư phổi

Christensen KY, 2012[18]

Ung thư đại trực tràng[19]

Nghiên cứu PCS trên 42478 nam và 76364 nữ trong 26 năm

Không có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ các loại flavonoid (anthocyanin, flavan-3-ol, flavanone, flavone, flavonol) và làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng

Nimptsch K, 2016[20]

Nghiên cứu PCS trên 62573 nữ và 58279 nam tuổi từ 55-69 tại Hà Lan

Không có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ flavone, flavonol, catechin và giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng

Simons, 2009[21]

Nghiên cứu trên 3234 bệnh nhân ung thư đại trực tràng

5 loại flavone và flavonol thường gặp :quercetin, kaempferol, myricetin apigenin và luteolin không có vai trò ngăn ngừa ung thư

L. Wang, 2009 [22]

Nghiên cứu bệnh chứng với 523 người tham gia

Tiêu thụ flavonoid không có liên hệ với việc giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng, về cả tỉ lệ sống cũng như tái phát ung thư

Zamora Ros, 2015[23]

Nghiên cứu bệnh chứng với 424 người bệnh và 401 đối chứng tại Tây Ban nha

Có sự giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng và việc tiêu thụ flavonoid tổng và một số phân nhóm như proanthocyanidins and flavones

Zamora Ros, 2013[24]

Ung  th ư d ạ d ày

Nghiên cứu dịch tể tại Hoa Kỳ người từ 30-79 tuổi với 1027 bệnh nhân mắc các loại ung thư dạ dày và thực quản, 662 người đối chứng

không có mối liên hệ giữa tiêu thụ flavonoid tổng và tỉ lệ mắc mới cũng như tỉ lệ sống của bệnh nhân ung thực quản và ung thư dạ dày

J L Petrick, 2015[25]

Nghiên cứu bệnh chứng với 334 người bệnh và 334 đối chứng tuổi từ 35-70 tại Hàn Quốc

Tiêu thụ flavonoid tổng giảm nguy cơ ung thư dạ dày ở nữ

Hae Donw Woo, 2014[26]

Ung thư bàng quang

Nghiên cứu dịch tể European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition (EPIC) trên 477312 người tuổi từ 35-70 tại 10 nước châu Âu, sau 11 năm

có 1575 ca mắc ung thư bàng quang được phát hiện, kết quả cho thấy không có mối liên hệ giữa việc tiêu thụ flavonoid và nguy cơ ung thư bàng quang, tuy nhiên subclass flavonol thì cho thấy tỉ lệ nghịch với nguy cơ mắc ung thư

Zamora-Ros R, 2014[27]

Ung thư tụy

Nghiên cứu PCS EPIC với 477309 người tham gia trong 11 năm tại Châu Âu

Không có mối liên hệ cho thấy giảm nguy cơ ung thư tụy và việc tiêu thụ flavonoid và các phân lớp flavonoid

Molina-Montes E, 2016[28]

Nghiên cứu dịch tể National Institutes of Health (NIH)-AARP Diet and Health cohort, 537104 người được khảo sát, trong 10 năm

Arem H, 2013[29]

Kết quả nghiên cứu dịch tễ trên số lượng lớn cho thấy hiệu quả ngăn ngừa ung thư của flavonoid tổng hay cả những phân lớp flavonoid chưa thực sự rõ ràng, tuy có những kết quả cho thấy có khả năng giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư nhưng nhiều nghiên cứu lại cho thấy việc tiêu thụ các flavonoid không có tác dụng. Và các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả của các flavonoid khá khác biệt và biến động tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như loại flavonoid tiêu thụ, nguồn gốc thu nhận, cả vị trí địa lý và chế độ ăn uống.[1]

Tóm lại, thực sự Flavonoid chứa nhiều hợp chất tiềm năng có tác dụng lên tế bào ung thư nhưng đa số các hoạt chất này được chứng minh trong phòng thí nghiệm. Từ đó cho thấy để có thể khẳng định tác dụng của các flavonoid trong ngăn ngừa và điều trị ung thư trên người vẫn cần quá trình nghiên cứu và xác định rõ ràng hơn. Và đặc biệt chưa có sự cho phép sử dụng các chất flavonoid cho điều trị ung thư ở thời điểm hiện tại.

Tuy nhiên như đã nói ở trên, các loại rau củ quả chứa nhiều flavonoid là các chất chống oxy hóa, nên sử dụng các loại rau củ quả trong thành phần bữa ăn nhằm đảm bảo việc cung cấp các vitamin và chất xơ cho cơ thể.

Thực hư thực phẩm chức năng chứa các chất Flavonoid chữa ung thư?

Gần đây trên mạng có lan truyền thông tin thực phẩm chức năng của công ty Navita đưa ra thị trường có chứa các hợp chất Flavonoid sử dụng trong điều trị, hỗ trợ ung thư: “Hỗ trợ điều trị ung thư, kể cả giai đoạn cuối: ức chế tế bào ung thư theo 3 cách: ức chế nhân bào, ức chế hình thành mạch máu và kích hoạt cơ chế tự sát của tế bào ung thư. Tốt cho ung thư: Phổi, gan, vú, đại tràng, dạ dày, tuyến tuyền liệt, thận, máu, vòm họng, tuyến giáp, tuyến tụy, xương, cổ tử cung; Giảm tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị: chống sụt cân, nôn mửa, rụng tóc…”

FLAVITA® LIFEMAX: Sản phẩm cao cấp : giá 20 triệu VND, chứa  Flovonoids từ 200 loại hoa, quả, hạt, thảo dược, cây gia vị

FLAVITA 88® CYTO: Phòng chống ung thư : giá 2 triệu 500 ngàn VND chứa Flavonoids của 88 loại trái cây, hoa, hạt, thảo mộc, gia vị

Vậy thực hư nên hiểu như thế nào?

Phần phân tích phía dưới sẽ thông tin cho bạn đọc về TPCN nói chung và các thông tin từ sản phẩm chữa ung thư chứa Flavonoid của công ty Navita:

Theo “THÔNG TƯ Quy định về quản lý thực phẩm chức năng” của Bộ Y tế – 43/2014/TT-BYT ban hành năm 2014, Dietary Supplement là thực phẩm chức năng thuộc nhóm “Thực phẩm bảo vệ sức khoẻ”. Theo điều 4 trong thông tư này, TPCN nếu công bố là có công dụng đối với sức khỏe con người cần phải có báo cáo thử nghiệm hiệu quả công dụng, có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh thì sản phẩm phải thử nghiệm hiệu quả về công dụng đối với sức khỏe con người

“Việc thử nghiệm hiệu quả về công dụng đối với sức khỏe con người phải được thực hiện tại các tổ chức có chức năng nghiên cứu khoa học về y học. Riêng đối với sản phẩm công bố khuyến cáo có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh phải được thực hiện tại các bệnh viện có chức năng nghiên cứu khoa học từ tuyến tỉnh trở lên.

Trong trường hợp đánh giá thử nghiệm hiệu quả về công dụng đối với sức khỏe con người được thực hiện tại nước ngoài, việc thử nghiệm phải được thực hiện ở đơn vị được cơ quan thẩm quyền nước sở tại thừa nhận, công nhận hoặc kết quả thử nghiệm được đăng tải trên các tạp chí khoa học.

Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) thành lập Hội đồng khoa học gồm các chuyên gia thuộc lĩnh vực phù hợp để tham gia thẩm định báo cáo thử nghiệm hiệu quả về công dụng sản phẩm và các bằng chứng khoa học được công bố”.  [34]

Do đó, dựa trên kết quả nghiên cứu này để khẳng định sản phẩm có khả năng chữa hoặc hỗ trợ điều trị ung thư là hoàn toàn vô căn cứ.

Bên cạnh các sản phẩm chứa Flavonoid có khả năng chữa ung thư, công ty này còn có một sản phẩm chữa ung thư khác là Navita ARFeMAX® – Hỗ trợ điều trị và phòng chống ung thư?

Theo thông tin công ty đưa ra Navita ARFeMAX có chứa Artemisinin. Vậy Artemisinin là gì và đã được sử dụng để chữa ung thư hay chưa?

Artemisinin là một loại hợp chất có nguồn gốc từ cây Artemisia annua (Thanh hao hoa vàng) châu Á

Hiện tại artemisinin cho thấy có hiệu quả ức chế một số dòng tế bào ung thư trong phòng thí nghiệm ( in vitro)[35]. Một số nghiên cứu lâm sàng sử dụng artesunate, là hợp chất bán tổng hợp từ artemisinin. Nghiên cứu lâm sàng pha I trên đối tượng ung thư vú di căn (NCT00764036) và pha 2 trên đối tượng ung thư đại trực tràng (NCT03093129, NCT02633098) . Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa có kết quả xác định. Và chưa có thuốc nào hay hợp chất nào có nguồn gốc artemisinin dùng để chữa ung thư. Hiện tại thuốc Coartem là liệu pháp kết hợp artemether-lumefantrine dựa trên Artemisinin và IV artesunate có nguồn gốc từ artemisinin chỉ sử dụng trong chữa bệnh sốt rét[36].

Do đó việc sử dụng các sản phẩm TPCN như trên như thuốc chữa ung thư là hoàn toàn chưa có cơ sở!

Tóm tại, người tiêu dùng, đặc biệt là những bệnh nhân ung thư nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên môn về việc sử dụng bất kì sản phẩm TPCN nào trong quá trình điều trị hay sau điều trị để tránh tiền mất tật mang và tránh những hậu quả đáng tiếc.

Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Trịnh Vạn Ngữ, Viện nghiên cứu Y sinh SoonChunHyang ( SoonChunHyang Institute of Medi-bio Science ), Đại học SoonChunHyang, Hàn Quốc

Cố vấn Khoa học:

TS Nguyễn Hồng Vũ, Viện nghiên cứu City of Hope, California, Hoa Kỳ

TS Lê Anh Phương, Đại học Quốc Gia Singapore

       

Rodriguez-Garcia, C., C. Sanchez-Quesada, and J.G. J,

Dietary Flavonoids as Cancer Chemopreventive Agents: An Updated Review of Human Studies.

Antioxidants (Basel), 2019.

8

(5).

       

Karak, P.,

BIOLOGICAL ACTIVITIES OF FLAVONOIDS: AN OVERVIEW.

International Journal of Pharmaceutical Sciences and Research, 2019.

10

(4).

       

Kumar, S. and A.K. Pandey,

Chemistry and biological activities of flavonoids: an overview.

ScientificWorldJournal, 2013.

2013

: p. 162750.

       

Robert, L. and S. Arvind,

FLAVONOIDS NUTRACEUTICALS IN PREVENTION AND TREATMENT OF CANCER: A REVIEW.

Asian Journal of Pharmaceutical and Clinical Research, 2018.

11

(1).

       

Deep, A., et al.,

Flavopiridol as cyclin dependent kinase (CDK) inhibitor: a review.

New Journal of Chemistry, 2018.

42

(23): p. 18500-18507.

       

Awan, F.T., et al.,

A phase 1 clinical trial of flavopiridol consolidation in chronic lymphocytic leukemia patients following chemoimmunotherapy.

Ann Hematol, 2016.

95

(7): p. 1137-43.

       

Spagnuolo, C., et al.,

Genistein and cancer: current status, challenges, and future directions.

Advances in nutrition (Bethesda, Md.), 2015.

6

(4): p. 408-419.

     

Buonerba, C., et al.,

Isoquercetin as an Adjunct Therapy in Patients With Kidney Cancer Receiving First-Line Sunitinib (QUASAR): Results of a Phase I Trial.

Frontiers in pharmacology, 2018.

9

: p. 189-189.

     

Clinicaltrial.gov.

Quercetin

. Available from:

https://clinicaltrials.gov/ct2/results?cond=Cancer&term=Quercetin&cntry=&state=&city=&dist

=.

     

WebMD.

Quercetin

. Available from:

https://www.webmd.com/vitamins/ai/ingredientmono-294/quercetin

.

     

Flavonoid – Drug bank

. Available from:

https://www.drugbank.ca/categories/DBCAT001281#drugs

.

     

Gardeazabal, I., et al.,

Total polyphenol intake and breast cancer risk in the SUN cohort.

Br J Nutr, 2018: p. 1-23.

     

Zamora-Ros, R., et al.,

Dietary flavonoid and lignan intake and breast cancer risk according to menopause and hormone receptor status in the European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition (EPIC) Study.

Breast Cancer Research and Treatment, 2013.

139

(1): p. 163-176.

     

Luo, J., et al.,

Urinary polyphenols and breast cancer risk: results from the Shanghai Women’s Health Study.

Breast Cancer Res Treat, 2010.

120

(3): p. 693-702.

     

Cutler, G.J., et al.,

Dietary flavonoid intake and risk of cancer in postmenopausal women: the Iowa Women’s Health Study.

Int J Cancer, 2008.

123

(3): p. 664-71.

     

Christensen, K.Y., et al.,

The risk of lung cancer related to dietary intake of flavonoids.

Nutr Cancer, 2012.

64

(7): p. 964-74.

     

Afshari, K., et al.,

Natural flavonoids for the prevention of colon cancer: A comprehensive review of preclinical and clinical studies.

J Cell Physiol, 2019.

     

Nimptsch, K., et al.,

Habitual intake of flavonoid subclasses and risk of colorectal cancer in 2 large prospective cohorts.

Am J Clin Nutr, 2016.

103

(1): p. 184-91.

     

Simons, C.C.J.M., et al.,

Dietary flavonol, flavone and catechin intake and risk of colorectal cancer in the Netherlands Cohort Study.

International Journal of Cancer, 2009.

125

(12): p. 2945-2952.

     

Wang, L., et al.,

Dietary intake of selected flavonols, flavones, and flavonoid-rich foods and risk of cancer in middle-aged and older women.

Am J Clin Nutr, 2009.

89

(3): p. 905-12.

     

Zamora-Ros, R., et al.,

Dietary flavonoids, lignans and colorectal cancer prognosis.

Scientific Reports, 2015.

5

: p. 14148.

     

Zamora-Ros, R., et al.,

Association between habitual dietary flavonoid and lignan intake and colorectal cancer in a Spanish case-control study (the Bellvitge Colorectal Cancer Study).

Cancer Causes Control, 2013.

24

(3): p. 549-57.

     

Petrick, J.L., et al.,

Dietary intake of flavonoids and oesophageal and gastric cancer: incidence and survival in the United States of America (USA).

Br J Cancer, 2015.

112

(7): p. 1291-300.

     

Woo, H.D., et al.,

Dietary flavonoids and gastric cancer risk in a Korean population.

Nutrients, 2014.

6

(11): p. 4961-4973.

     

Zamora-Ros, R., et al.,

Flavonoid and lignan intake in relation to bladder cancer risk in the European Prospective Investigation into Cancer and Nutrition (EPIC) study.

Br J Cancer, 2014.

111

(9): p. 1870-80.

     

Molina-Montes, E., et al.,

Flavonoid and lignan intake and pancreatic cancer risk in the European prospective investigation into cancer and nutrition cohort.

Int J Cancer, 2016.

139

(7): p. 1480-92.

     

Arem, H., et al.,

Flavonoid intake and risk of pancreatic cancer in the National Institutes of Health-AARP Diet and Health Study Cohort.

Br J Cancer, 2013.

108

(5): p. 1168-72.

     

Konstat-Korzenny, E., et al.,

Artemisinin and Its Synthetic Derivatives as a Possible Therapy for Cancer.

Medical sciences (Basel, Switzerland), 2018.

6

(1): p. 19.

     

Society, A.C.

Choosing and using dietary supplements safely

. Available from:

https://www.cancer.org/treatment/treatments-and-side-effects/complementary-and-alternative-medicine/dietary-supplements/choosing-safely.html

.

     

Society, A.C.

FDA regulation of drugs versus dietary supplements

. Available from:

https://www.cancer.org/treatment/treatments-and-side-effects/complementary-and-alternative-medicine/dietary-supplements/fda-regulations.html

.

     

Hua, X., et al.,

Association among Dietary Flavonoids, Flavonoid Subclasses and Ovarian Cancer Risk: A Meta-Analysis.

PLoS One, 2016.

11

(3): p. e0151134.

     

Thông tư số 43/2014/TT-BYT của Bộ Y tế : Quy định về quản lý thực phẩm chức năng

2014.

http://vfa.gov.vn/van-ban/thong-tu-quy-dinh-ve-quan-ly-thuc-pham-chuc-nang.html

     

Konstat-Korzenny, E., et al.,

Artemisinin and Its Synthetic Derivatives as a Possible Therapy for Cancer.

Medical sciences (Basel, Switzerland), 2018.

6

(1): p. 19.

     

Raffetin, A., et al.,

Use of artesunate in non-malarial indications.

Med Mal Infect, 2018.

48

(4): p. 238-249.

Farombi, E.O., Anti-cancer Foods: Flavonoids. Module in Food Science, 2018.

‘;

Bạn đang đọc nội dung bài viết Flavonoid: Lợi Ích Của Flavonoid Với Sức Khỏe trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!