Đề Xuất 1/2023 # Đặc Điểm Giải Phẫu Xương Đầu Mặt Cổ Chi Tiết # Top 4 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 1/2023 # Đặc Điểm Giải Phẫu Xương Đầu Mặt Cổ Chi Tiết # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đặc Điểm Giải Phẫu Xương Đầu Mặt Cổ Chi Tiết mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xương đầu mặt được chia làm 2 phần đó là khối xương sọ và khối xương mặt.

Khối xương sọ sẽ tạo thành hộp sọ não bao gồm:

Phía trước là xương trán

Phía trên là xương đỉnh

Phía sau là xương chẩm

Hai bên là xương thái dương

Phía trong hốc mắt là xương bướm và xương sàng

Còn lại là khối xương mặt để tạo thành sọ mặt.

Tổng quát về sọ người: sọ được xem là một khối lập phương gồm có 6 mặt:

Mặt ở phía trước: nhìn từ đây ta thấy sọ có dạng hình oval với phía trên mở rộng hơn phía dưới. Tức là từ trên trở xuống khung sọ não sẽ thu hẹp dần.

Hai mặt bên trái, phải

Mặt ở phía trên

Măt ở phía dưới

Mặt ở phía sau

Đây là video giải phẫu xương đầu mặt cổ chi tiết:

Giải phẫu mặt trên xương đầu mặt cổ

Từ đây ta quan sát thấy phía trên là phần trán của khối xương sọ não và phía dưới là khối xương mặt. Khối xương sọ não và sọ mặt của khối xương mặt trước sẽ tạo thành ổ mắt, ổ mũi, ổ miệng ở phía trong. Nếu như các bạn dùng một đường giữa để chia đôi hộp sọ ra thì các bạn sẽ thấy rằng ở hai bên đường giữa từ trên xuống dưới sẽ là: ụ trán, cung mày và dưới là bờ trên ổ mắt.

Tiếp theo ta chia ổ mắt thành 3 phần bằng 1 đường thẳng ta sẽ có một cấu trúc là lỗ trên ổ mắt (trái, phải) nằm ở chỗ nối giữa 2/3 ngoài và 1/3 trong của bờ trên ổ mắt. Lỗ trên ổ mắt sẽ có động mạch trên ổ mắt và nhánh ngoài của thần kinh trên ổ mắt đi qua. Giả sử như phần xương này mà không tạo thành một cái lỗ ở trên ổ mắt thì chúng ta sẽ có vít trên ổ mắt.

Xương trán khớp với 2 xương mú sẽ tạo thành một chỗ lõm vào được gọi là gốc mũi.

Ổ mắt nằm ở hai bên với bờ ngoài được tạo bởi mỏm trán của xương gò má và mỏm gò má của xương trán. Bờ trong ổ mắt được tạo thành bởi xương hàm trên và xương trán.

Phần giữa của mắt trước đó là xương hàm trên và ổ mũi. Mô tả ổ mũi có dạng hình lê với phía trên là bờ dưới của xương mũi. Hai bên là khuyết mũi của xương hàm trên. Xương hàm trên ở mặt trước sẽ có một cấu trúc đó là lỗ dưới ổ mắt, có mạch máu và thần kinh dưới ổ mắt đi qua. Thường lỗ dưới ổ mắt sẽ nằm cách khoảng 1cm dưới của bờ dưới ổ mắt trên đường trung điểm đi qua bờ dưới ổ mắt. Các bạn có thể thấy rằng thường lỗ dưới ổ mắt nằm ở vị trí rất nhạy cảm.

Mặt trước hộp sọ có xương hàm trên, phía dưới của xương hàm trên gọi là xương hàm dưới với lồi cằm nhô ra phía trước. Hai bên lồi cằm có lỗ cằm có mạch máu và thần kinh cằm đi qua.

Đặc điểm giải phẫu mặt trên của khối xương sọ

Quan sát từ mặt trên xuống ta thấy mặt trên xương sọ có hình bầu dục. Ở mặt này ta sẽ thấy được 4 xương:

Xương trán ở phía trước

Hai xương đỉnh nằm ở 2 bên

Phần trai của xương chẩm nằm ở phía sau

Đỉnh đầu nằm ở vị trí cao nhất ở mặt trên, Ụ đỉnh là phần nhô ra nhất của hai bên. Mặt trên có hai đường khớp:

Khớp dọc nằm ở đường giữa, khớp giữa hai xương đỉnh với nhau.

Khớp vành khớp giữa xương trán và hai xương đỉnh.

Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Nghĩa nghiên cứu và thấy rằng ở trên đường giữa, khớp vành cách gốc mũi khoảng 11-12cm.

Ở một góc nhìn nghiêng ta sẽ thấy ống tai ngoài, khóe mắt ngoài nếu như kẻ một đường thẳng giữa chúng thì khớp vành nằm trên đường trung điểm của đường thẳng đó.

Khớp vành và khớp dọc đều là loại khớp răng cưa.

Cấu trúc giải phẫu mặt sau của hộp sọ

Ta có thể dễ dàng quan sát được 3 xương:

Xương chẩm nằm ở sau dưới

Xương đỉnh ở 2 bên

Một phần của xương thái dương

Ở mặt sau có một cấu trúc giải phẫu quan trọng đó là: ụ chẩm ngoài, 2 bên ta sẽ thấy có đường gáy dưới và trên nằm song song với nhau. Phía dưới của ụ chẩm ngoài là mào chẩm ngoài. Ụ chẩm ngoài cùng với đường gáy và những vùng xương gồ ghề xung quanh chính là chỗ bám của các cơ ở cổ.

Đặc biệt ở mặt sau chúng ta sẽ quan sát được một vùng được gọi là Asterion nằm ở chỗ nối của ba đường khớp: khớp nam đa, khớp chẩm chủm và khớp đỉnh chủm. Nó thường nằm sau dưới của chỗ đổ giữa xoang ngang và xoang sigma.

Khi xoay hộp sọ ra mặt sau, bạn có thể dễ dàng quan sát thấy một đường khớp nam đa. Khớp chẩm chủm là khớp nằm giữa xương chẩm và phần chủm của xương thái dương. Khớp đỉnh chủm nằm giữa xương đỉnh và phần chủm của xương thái dương.

Giải Phẫu Xương Khớp Chi Trên

1.Giải phẫu xương chi trên:

3. Các mốc giải phẫu và cách đo chiều dài chi trên.

Tải bản PDF để xem tốt hơn: Tải về

Chi trên và dưới được gắn vào thân bởi vai và hông. Chi trên và chi dưới tương đối giống nhau, do bàn tay ở chi trên trong quá trình lao động đã dần biến đổi để cầm nắm còn chi dưới có chức phận là nâng đỡ, đứng và đi.

Thuyền, nguyệt, tháp, đậu

– Là một xương dài, cong hình chữ S nằm ngang ở trước trên của lồng ngực.

Xương đòn gồm có thân xương và hai đầu.

– Hai mặt:+Mặt trên: 2/3 trong lồi cơ ức đòn chùm bám; 1/3 ngoài phẳng có cơ thang và cơ Delta bám.

+Mặt dưới: phía trong, ngoài gồ ghề, ở giữa có rãnh cho cơ dưới đòn bám.

– Hai bờ: +Bờ trước:cong lồi, có cơ ngực to bám ở trong và cơ Delta bám ở ngoài+Bờ sau:cong lõm, có cơ ức đòn chùm bám ở trong, cơ thang bám ở ngoài.b.Đầu xương:

– Đầu trong: tròn to, tiếp khớp với xương ức.– Đầu ngoài: rộng, dẹt, tiếp khớp với mỏm cùng vai.

Là một xương dẹt mỏng hình tam giác nằm ở phía sau trên của lồng ngực.

+ Góc dưới: (đỉnh) có cơ lưng to bám. + Góc ngoài: có hõm khớp hình ổ chảo để tiếp khớp với chỏm xương cánh tay, xung quanh ổ chảo là vành ổ chảo. Trên ổ chảo có diện bám của phần dài cơ nhị đầu, dưới có diện bám của phần dài cơ tam đầu. Ở giữa ổ chảo và khuyết vai có mỏm quạ chỗ bám cơ nhị dầu và cơ quạ cánh tay.

Là xương dài, nối giữa xương bả vai với hai xương cẳng tay

+Mặt trong: gồ ghề ở giữa có lỗ dưỡng cốt. +Mặt sau: có một rãnh xoắn chạy chếch từ trên xuống dưới từ trong ra ngoài (rãnh thần kinh quay) cho bó mạch thần kinh quay qua.

-Các bờ: +Bờ trước: gồ ghề ở trên, nhẵn-phẳng ở giữa, dưới chia 2 ngành bao lấy hố vẹt. +Bờ ngoài và trong: mờ ở trên, rõ ở dưới có vách liên cơ bám.

Có chỏm chiếm -Đầu trên: 1/3 khối cầu để khớp với ổ chảo xương bả vai và dính liền vào đầu xương bởi cổ khớp ( cổ giải phẫu). Đầu trên được dính vào thân xương bởi cổ tiếp ( cổ phẫu thuật). Phía ngoài chỏm có 2 mấu:

Mấu động nhỏ ở trước.

bè rộng và cong ra trước.-Đầu dưới: +Diện khớp có 2 phần:

Ròng rọc ở trong khớp với hõm Sigma lớn của xương trụ. +Các hố trên khớp:

Phía trước: ở trên lồi cầu có hố trên lồi cầu (hố quay) để nhận vành khăn của xương quay; ở trên ròng rọc có hố trên ròng rọc ( hố vẹt) để nhận mỏm vẹt của xương trụ khi gấp tay. Phía sau: có hố mỏm khuỷu để nhận mỏm khuỷu của xương trụ khi duỗi tay.

+Có 2 mỏm trên khớp là mỏm trên lồi cầu ở ngoài, mỏm trên ròng rọc ở trong. Khi duỗi tay 3 mỏm: mỏm trên lồi cầu, mỏm trên ròng rọc và mỏm khuỷu nằm trên 1 đường thẳng, khi gấp tay 3 mỏm này tạo thành 1 tam giác cân(Tam giác hueter) .

-Là một xương dài nằm ở phía trong xương quay.

– Bờ sắc của thân xương hướng ra ngoài.

Xương trụ gồm có hình lăng trụ tam giác có thân xương và 2 đầu. 3 mặt, 3 bờ.-Các mặt:+Mặt trước: lõm thành rãnh,có lỗ dưỡng cốt.

+Mặt sau: Hơi lồi, càng xuống dưới càng nhỏ lại. Trên có 1 diện tam giác cho cơ khuỷu bám. Dưới có gờ chia mặt sau làm 2 phần: phần trong lõm- các cơ duỗi cổ tay trụ bám. Phần ngoài cho các cơ lớp sâu bám.

+Bờ ngoài: sắc ở trên và chia ra làm hai ngành ôm lấy hõm Sigma bé, ở dưới nhẵn có màng liên cốt bám. – Đầu trên: có hai mỏm và 2 hõm.+Hai mỏm là mỏm khuỷu ở sau trên mỏm vẹt ở trước dưới.+Hai hõm là hõm Sigma nhỏ (hõm quay) để tiếp khớp với vành đài quay của xương quay, hõm Sigma lớn (hõm ròng rọc) để khớp với ròng rọc của xương cánh tay.-Đầu dưới: lồi thành một chỏm, phía ngoài tiếp khớp với xương quay, phía trong có mỏm trâm trụ, phía sau có rãnh để gân cơ trụ sau lướt qua.2. Xương quay:-Là một xương dài nằm ngoài xương trụ.a. Định hướng

– Mỏm trâm quay ra ngoài, mặt có nhiều rãnh của đầu này ra sau.b. Mô tả: Xương quay xương dài gồm có 1 thân và 2 đầu.

-Thân xương: hình lăng trụ tam giác:

+Ba mặt: Mặt trước: bắt đầu từ lồi củ quay xuống dưới rộng dần, ở giữa có lỗ dưỡng cốt. Mặt sau: tròn ở 1/3 trên .Lõm thành rãnh ở dưới.

Mặt ngoài: tròn, ở giữa có diện gồ ghề cho cơ sấp tròn.

+Đầu trên: có chỏm xương quay gồm:

vòng xương quay (vành quay) khớp khuyết quay xương trụ. Một diện khớp Cổ xương quya hình ống. Trước có lồi củ quya bám cơ nhị đầu.

+Đầu dưới: to hơn, bè ra hai bên và dẹt từ trước ra sau.

Mặt trước có cơ sấp vuông bám.

Mặt ngoài có các rãnh cho gân cơ qua.

+Hàng trên: có 4 xương từ ngoài vào trong :xương thuyền, xương nguyệt, xương tháp, xương đậu. +Hàng dưới:có 4 xương từ ngoài vào trong là xương thang, xương thê, xương cả, xương móc.

-Các xương ở cổ tay, mỗi xương có 6 mặt, trong đó có 4 mặt là diện khớp (trên-dưới-trong – ngoài) và 2 diện không tiếp khớp (trước sau) và 2 diện trong ngoài của hai xương đầu hàng không tiếp khớp.

-Các xương cổ tay hợp thành một rãnh mà bờ ngoài là xương thang và xương thuyền, bờ trong là xương đậu và xương móc, có mạc hãm gân gấp cổ tay bám vào hai mép rãnh biến nó thành ống cổ tay, để cho các gân cơ gấp ngón tay và dây thần kinh giữa chui qua.

– Có 5 xương đốt bàn tay đều là xương dài,từ ngoài vào trong (đánh số la mã từ I – V) mỗi xương đốt bàn tay có một thân và hai đầu.-Thân xương cong ra trước, hình lăng trụ tam giác, có 3 mặt (mặt sau, mặt trong và mặt ngoài).-Đầu xương: đầu trên có 3 diện khớp với các xương cổ tay và xương bên cạnh (trừ xương đốt bàn tay một I, II và V chỉ có một diện khớp bên), ở dưới là chỏm để tiếp khớp với xương đốt I của các ngón tay tương ứng.VI. Các xương đốt ngón tay-Có 14 xương đốt ngón tay, mỗi ngón tay có 3 đốt, trừ ngón tay cái có 2 đốt, mỗi xương đốt ngón tay có một thân dẹt gồm có 2 mặt (trước và sau) có 2 đầu: đầu trên là hõm, đầu dưới là ròng rọc.

B. CÁC KHỚP XƯƠNG CHI TRÊN

– Chỏm xương cánh tay chiếm 1/3 khối cầu, ngẩng lên trên và vào trong. – Ổ chảo xương vai (hõm khớp) so với chỏm xương cánh tay thì nông và bé. – Sụn viền: do đặc điểm trên nên cần có sụn viền dính vào xung quanh hõm khớp để tăng diện tiếp khớp, tuy vậy hõm khớp vẫn còn nông và bé nên có cần có vòm cùng vai đòn để giữ cho chỏm khỏi trật ra ngoài.

bao sợi chắc bọc xung quanh khớp, ở trên dính vào xung quanh ổ chảo xương bả vai, ở dưới dính vào đầu trên xương cánh tay. Bao khớp rộng, lỏng lẻo nên cần có thêm các thành phần khác tới tăng cường trợ lực

– Dây chằng quạ cánh tay: bám từ mỏm quạ đến 2 mấu động của xương cánh tay, dây này được coi như một phần của gân cơ ngực bé.– Dây chằng ổ chảo cánh tay (Dây chằng bao khớp) có 3 dây:+Dây chằng trên: đi từ trên hõm khớp đến bám vào phía trên mấu động bé.

+Dây chằng giữa: đi từ trên hõm khớp tới nền mấu động bé.+Dây chằng dưới: đi từ trước dưới ổ chảo tới phía dưới cổ tiếp.

-Chủ yếu với dây thần kinh mũ chi phối vận động cảm giác cho khu vực, cơ Delta ôm lấy khớp vai tạo thành u vai.-Nếu trong chấn thương khi không thấy còn u vai (dấu hiệu gù vai hay nhát rìu) có thể bị sai khớp (khi mất động tác).

-Là khớp chỏm điển hình nên động tác rất rộng rãi:

+ Gấp (khép) ngang 135° và duỗi (dạng) ngang

-Là một khớp gấp duỗi cẳng tay vào cánh tay và sấp ngửa bàn tay, do 3 khớp nhỏ tạo thành:

+ Khớp cánh tay trụ là khớp ròng rọc.+ Khớp cánh tay quay là khớp lồi cầu.+ Khớp quay trụ trên là khớp trục.1. Diện khớp: bao gồm:– Đầu dưới xương cánh tay: gồm có ròng rọc tiếp khớp với hõm Sigma lớnxương trụ, lồi cầu khớp với đài quay của xương quay, hố trên ròng rọc khớp với mỏm vẹt của xương trụ. Hố khuỷu (ở phía sau) khớp với mỏm khuỷu của xương trụ.– Đầu trên xương trụ: gồm hõm Sigma lớnđể khớp ròng rọc của xương cánh tay, hõm Sigma nhỏ tiếp khớp với vành đài quay của xương quay.– Chỏm xương quay: gồm đài quay khớp với lồi cầu xương cánh tay, vành khănquay tiếp khớp với hõm Sigma nhỏ của xương trụ.2. Các cấu trúc giữ khớp:

bao sợi bám vào xung quanh diện khớp của xương cánh tay và xương trụ.Bao mỏng phía trước, phía sau hai bên dày vì khớp khuỷu là khớp gấp duỗi cẳng tay. Chú ý: bao khớp ở dưới dính đến tận cổ xương quay do đó chỏm xương quay xoay được tự do trong bao khớp.

Bao hoạt dịch -Là một bao thanh mạc lót mặt trong bao khớp và dính vào hai đầu xương ở xung quanh sụn bọc.

vì khớp khuỷu có động tác gấp và duỗilà chính, nên các dây chằng bên chắc và mạnh, gồm có:

(3)Dây chằng sau và dây chằng trước, hai dây chằng này rất mỏng đi từ xương cánh tay tới xương quay và xương trụ. Ngoài ra, đây chằng sau còn có các thớ sợi ngang nối 2 bờ của hố khuỷu với nhau, có tác dụng giữ cho mỏm khuỷu khỏi trật ra ngoài.

-Dây chằng khớp quay trụ trên có hai dây: +Dây chằng vòng: từ bờ trước Sigma bé vòng quanh cổ xương quay đến bờ sau hõm Sigma bé.+Dây chằng vuông: buộc cổ xương quay vào bờ dưới của hõm Sigma bé.

– Khớp cánh tay trụ quay có động tác gấp duỗi cẳng tay. – Khớp quay trụ trên và khớp quay trụ dưới có động tác sấp ngửa bàn tay.

2. Các mốc GP vùng khuỷu tay + mỏm trên lồi cầu ngoài+ mỏm trên lồi cầu trong+ mỏm khuỷu+ rãnh nhị đầu trong+ rãnh nhị đầu ngoài+ đài quay

+ thần kinh trụ: rãnh tk trụ3. Các mốc giải phẫu vùng cổ tay+ mỏm trâm trụ – trâm quay+ hõm lào giải phẫu

tam giác cân, đỉnh ở dưới. 4. Tam giác hueter: Ba đỉnh là: mỏm trên lồi cầu ngoài – đỉnh mỏm khuỷu – mỏm trên lồi cầu trong(mỏm trên ròng rọc) khi gấp khuỷu 90 độ. Đường hueter: 3 mốc trên khi khuỷu duỗi

-Từ mỏm cùng vai qua giữa nếp gấp khuỷu đến giữa nếp gấp cổ tay (ngón 3)(Góc mang sinh lý: 10-14 độ)

Tải bản PDF để xem tốt hơn: Tải về

Đặc Điểm Giải Phẫu Vùng Cột Sống Thắt Lưng

1. Đốt sống thắt lưng:

Cột sống thắt lưng có 5 đốt sống, với đặc điểm:

– Thân đốt sống rất to và chiều ngang rộng hơn chiều trước sau. Ba đốt sống thắt lưng cuối có chiều cao ở phía trước thấp hơn phía sau nên khi nhìn từ phía bên trông như một cái chêm.

– Chân cung (cuống sống) to, khuyết trên của chân cung nông, khuyết dưới sâu.

– Mỏm ngang dài và hẹp, mỏm gai rộng, thô, dày, hình chữ nhật đi thẳng ra sau.

– Mặt khớp của mỏm khớp nhìn vào trong và về sau, mặt khớp dưới có tư thế ngược lại.

2. Khớp đốt sống.

Khớp đốt sống là khớp thực thụ, có diện khớp là sụn, bao hoạt dịch, hoạt dịch và bao khớp. Bao khớp và đĩa đệm đều cùng thuộc một đơn vị chức năng thống nhất. Do vị trí của khớp đốt sống ở hướng đứng thẳng dọc nên cột sống thắt lưng luôn có khả năng chuyển động theo chiều trước sau trong chừng mực nhất định. ở  tư thế ưỡn và gù lưng, các diện khớp cũng chuyển động theo hướng dọc thân.

– Sự tăng hay giảm áp lực cơ học lên đĩa đệm sẽ làm tăng hoặc giảm trọng lực trong bao và chiều cao của khoang gian đốt sống. Đĩa đệm và khớp đốt sống do đó đều có khả năng đàn hồi để chống đỡ với động lực mạnh, nếu bị chấn thương mạnh thì đốt sống sẽ bị gẫy trước khi đĩa đệm và khớp đốt sống bị tổn thương.

– Khi đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị, chiều cao khoang gian đốt bị giảm làm các khớp đốt sống bị lỏng, dẫn đến sai lệch vị trí khớp, càng thúc đẩy thêm quá trình thoái hóa khớp đốt sống và đau cột sống. Ngược lại, nếu chiều cao khoang gian đốt tăng quá mức sẽ làm tăng chuyển nhập dịch thể vào khoang trong đĩa đệm, dẫn tới giãn quá mức bao khớp cũng gây đau.

– Cấu tạo: đĩa đệm được cấu tạo bởi 3 thành phần là nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn.

+ Nhân nhầy: được cấu tạo bởi một màng liên kết, hình thành những khoang mắt lưới chứa các tổ chức tế bào nhầy keo, ở người trẻ các tế bào tổ chức này kết dính với nhau rất chặt làm cho nhân nhầy rất chắc và có tính đàn hồi rất tốt (ở người già thì các tế bào tổ chức đó liên kết với nhau lỏng lẻo nên nhân nhầy kém tính đàn hồi). Bình thường nhân nhầy nằm ở trong vòng sợi, khi cột sống vận động về một phía thì nó bị đẩy chuyển động dồn về phía đối diện, đồng thời vòng sợi cũng bị giãn ra.

+ Vòng sợi: gồm những vòng sợi sụn (fibro-caetilage) rất chắc chắn và đàn hồi đan vào nhau theo kiểu xoắn ốc, ở vùng riềm của vòng sợi lại được tăng cường thêm một giải sợi. Giữa các lớp của vòng sợi có vách ngăn, ở phía sau và sau bên của vòng sợi tương đối mỏng và được coi là điểm yếu nhất, nơi dễ xảy ra lồi và thoát vị đĩa đệm.

+ Mâm sụn: gắn chặt vào tấm cùng của đốt sống, nên còn có thể coi là một phần của đốt sống.

– Chiều cao của đĩa đệm: thay đổi theo từng đoạn cột sống. ở đoạn sống cổ khoảng 3mm, đoạn ngực độ 5mm, đoạn thắt lưng độ 9mm, trừ đĩa đệm L5-S1 thấp hơn đĩa đệm L4-L5 khoảng 1/3 chiều cao. Chiều cao của đĩa đệm ở phía trước và phía sau chênh nhau tùy thuộc vào độ cong sinh lý của đoạn cột sống, ở đĩa đệm L5-S1 thì độ chênh này lớn nhất.

– Vi cấu trúc của đĩa đệm: gồm nguyên bào sợi, tế bào sụn, và những tế bào nguyên sống. Trong đó nước chiếm tới 80-85% (ở người trưởng thành). Colagen chiếm 44-51% trọng lượng khô của đĩa đệm. Mô của đĩa đệm có đặc điểm là mô không tái tạo, lại luôn chịu nhiều tác động do chức năng tải trọng và vận động của cột sống mang lại, cho nên đĩa đệm chóng hư và thoái hóa.

– Thần kinh và mạch máu:

+ Thần kinh: đĩa đệm không có các sợi thần kinh, chỉ có những tận cùng thần kinh cảm giác nằm ở lớp ngoài cùng của vòng sợi.

+ Mạch máu nuôi đĩa đệm: chủ yếu thấy ở xung quanh vòng sợi, còn ở trong nhân nhầy thì không có mạch máu, sự nuôi dưỡng chủ yếu bằng khuyếch tán. Việc cung cấp máu cho đĩa đệm bình thường chấm dứt hẳn ở độ tuổi thập niên thứ hai, sau đó dinh dưỡng đối với đĩa đệm là thông qua quá trình thẩm thấu.

4. Lỗ ghép:

Tạo bởi khuyết dưới của đốt sống trên và khuyết trên của đốt sống dưới, nhìn chung các lỗ ghép đều nằm ngang mức với đĩa đệm. Lỗ ghép cho các dây thần kinh sống đi từ ống sống ra ngoài, bình thường đường kính của lỗ ghép to gấp 5-6 lần đường kính của đoạn dây thần kinh đi qua nó. Các tư thế ưỡn và nghiêng về bên làm giảm đường kính của lỗ.

Khi cột sống bị thoái hóa hay đĩa đệm thoát vị sang bên sẽ chèn ép dây thần kinh sống gây đau. Riêng lỗ ghép thắt lưng – cùng là đặc biệt nhỏ do tư thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang chứ không ở mặt phẳng đứng dọc như ở đoạn L1-L4, do đó những biến đổi ở diện khớp và tư thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ ghép này.

5. Các dây chằng:

– Dây chằng dọc trước: phủ mặt trước thân đốt từ mặt trước xương cùng đến lồi củ trước đốt sống C1 và đến lỗ chẩm. Nó ngăn cản sự ưỡn quá mức của cột sống.

– Dây chằng dọc sau: phủ mặt sau thân đốt sống, chạy trong ống sống từ nền xương chẩm đến mặt sau xương cùng. Nó ngăn cản cột sống gấp quá mức và thoát vị đĩa đệm ra sau. Tuy nhiên dây chằng này khi chạy đến cột sống thắt lưng thì phủ không hết mặt sau thân đốt, tạo thành hai vị trí rất yếu ở hai mặt sau bên đốt sống, và là nơi dễ gây ra thoát vị đĩa đệm nhất. Dây chằng này được phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên rất nhạy cảm với đau.

– Dây chằng vàng: phủ phần sau ống sống. Dày dây chằng vàng cũng là một biểu hiện của thoái hóa (ở một số người có hẹp ống sống bẩm sinh không triệu chứng), đến khi dây chằng vàng dầy với tuổi thuận lợi các triệu chứng mới xuất hiện.

– Dây chằng liên gai và trên gai: dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau. Dây chằng trên gai chạy qua đỉnh các mỏm gai.

Các vị trí có dây chằng bám là những vị trí rất vững chắc ít khi nhân nhầy thoát vị ra các vị trí này, mà thường thoát vị ra các điểm yếu không có dây chằng bám, vị trí hay gặp là ở phía sau bên cột sống.

6. Ống sống thắt lưng.

Ống sống thắt lưng được giới hạn ở phía trước bởi thân đốt sống và các đĩa đệm, phía sau bởi dây chằng vàng và các cung đốt sống, bên cạnh là các cuống sống, vòng cung và lỗ ghép. Trong ống sống có bao màng cứng, rễ thần kinh và tổ chức quanh màng cứng (là tổ chức lỏng lẻo gồm mô liên kết, tổ chức mỡ và đám rối tĩnh mạch, có tác dụng đệm đỡ tránh cho rễ thần kinh khỏi bị chèn ép bởi thành xương sống, kể cả khi vận động cột sống thắt lưng tới biên độ tối đa).

– Rễ L3 thoát ra khỏi bao cứng ở ngang thân đốt L2.

– Rễ L4 ngang mức thân L3.

– Rễ L5 thoát ra ở bờ dưới thân đốt L4.

– Rễ S1 thoát ra ở bờ dưới thân đốt L5.

Khi ống sống thắt lưng bị hẹp thì chỉ cần một thay đổi nhỏ chu vi phía sau đĩa đệm (lồi đĩa đệm nhẹ) cũng có thể dẫn đến chèn ép rễ thần kinh.

7. Rễ và dây thần kinh tủy sống.

7.1. Đặc điểm chung.

Mỗi bên của một khoanh tủy sống thoát ra 2 rễ thần kinh: Rễ trước hay rễ vận động và rễ sau hay rễ cảm giác, rễ này có hạch gai. Hai rễ này chập lại thành dây thần kinh sống rồi chui qua lỗ ghép ra ngoài. Dây thần kinh sống chia thành hai ngành:

– Ngành sau đi ra phía sau để vận động các cơ rãnh sống và cảm giác da gần cột sống. Ngành này tách ra một nhánh quặt ngược chui qua lỗ ghép đi vào chi phối cảm giác trong ống sống.

– Ngành trước ở đoạn cổ và thắt lưng – cùng thì hợp thành các thân của các đám rối thần kinh, còn ở đoạn ngực thì tạo thành các dây thần kinh liên sườn.

7.2. Rễ và dây thần kinh hông to.

– Dây thần kinh hông to được tạo nên chủ yếu bởi hai rễ thần kinh là rễ L5 và rễ S1 thuộc đám rối thần kinh cùng.

– Sau khi ra ngoài ống sống rễ L5 và S1 hợp với nhau thành dây thần kinh hông to, là dây thần kinh to và dài nhất trong cơ thể. Từ vùng chậu hông, dây này chui qua lỗ mẻ hông to, qua khe giữa ụ ngồi và mấu chuyển lớn xương đùi chìm sâu vào mặt sau đùi và nằm dưới cơ tháp, đến đỉnh trám khoeo chân thì chia làm 2 nhánh là dây hông khoeo trong (dây chày), và dây hông khoeo ngoài (dây mác chung).

– Rễ L5 chi phối vận động các cơ cẳng chân trước ngoài (gập mu chân và duỗi các ngón chân), chi phối cảm giác một phần sau đùi, mặt sau cẳng chân, hướng đến ngón cái và các ngón gần ngón cái. Rễ S1 chi phối vận động các cơ vùng cẳng chân sau, làm duỗi bàn chân, đảm nhận phản xạ gân gót, chi phối cảm giác phần còn lại sau đùi, mặt sau cẳng chân, bờ ngoài bàn chân, và 2/3 phía ngoài gan chân. 8. Đoạn vận động cột sống.

– Đoạn vận động là một đơn vị cấu trúc và chức năng của cột sống, bao gồm: khoang gian đốt, nửa phần thân đốt sồng trên và đốt sống dưới, dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, khớp đốt sống và tất cả phần mềm tương ứng

– Đoạn vận động của cột sống hoạt động giống như một cái kẹp giấy mà bản lề chính là khớp đốt sống. ở trạng thái cúi hoặc mang vật nặng, khoang gian đốt hẹp lại làm tăng áp lực nội đĩa đệm. Còn ở trạng thái nằm nghỉ hoặc cột sống ưỡn, khoang gian đốt giãn ra làm giảm áp lực nội đĩa đệm. Năm 1964, Nachemson đã đo áp lực nội đĩa đệm khoang gian đốt L3-L4 ở các tư thế như hình sau:

Như vậy ở tư thế đúng cúi và đặc biệt có xách thêm vật nặng thì áp lực nội đĩa đệm sẽ tăng lên rất nhiều lần, và là tư thế dễ gây đau lưng cấp do sự tăng lên đột ngột của áp lực này có thể gây lồi đĩa đệm.

5

1

vote

Article Rating

Cấu Trúc Giải Phẫu Xương Bình Thường

1. Mô xương

Là mô liên kết gồm có các tế bào xương (cốt bào), chất gian bào vôi hóa, những sợi keo và một số chất vô định hình giàu Mucopolysaccharis. Mô xương là một mô sống luôn luôn thay đổi dưới sự ảnh hưởng của các tế bào tạo xương (osteoblast) và các tế bào hủy xương (osteoclast).

Cấu trúc giải phẫu xương bình thường

2. Cấu trúc xương

Ta có mô xương xốp, mô xương đặc phân bố khác nhau tùy theo xương dài xương ngắn xương dẹp:

2.1. Xương dài

Gồm có 3 phần: 2 đầu xương phình to ra gọi là hành xương (metaphyses) chủ yếu là mô xương xốp.Thân xương (diaphyse) có hình ống dài, gồm mô xương đặc và ống tủy. Sụn liên hợp thấy ở tuổi thanh thiếu niên, cốt hóa hoàn toàn ở người trưởng thành.

Cấu trúc vi thể của sụn liên hợp

2.2. Xương ngắn và xương dẹp

Xương ngắn và xương dẹp tạo bởi xương xôp có vỏ xương đặc bao bọc bên ngoài.

2.3. Màng xương

Màng xương là màng liên kết bao quanh xương, thường không thấy được trên phim X quang, có thể thấy được trên Siêu âm và Cộng hưởng từ.

2.4. Hình ảnh X quang

Màng xương và sụn khớp không cản quang. Thân xương có hình ống thường chạy dọc theo trục của chi, mô xương đặc rất dày, rất cản quang. Đầu xương và điểm cốt hóa (epiphyse) được cấu tạo bởi mô xốp có độ cản quang thấp hơn mô xương đặc giới hạn ngoài là vỏ mỏng, chính vùng này ta có thể phân biệt các thớ xương được phân bố theo đường chịu lực (ligne de force) để đảm nhận chức năng cơ học tạo ra.

Hình ảnh X quang xương tóm lại được phân thành 2 nhóm cấu trúc có cản quang hay không cản quang, từ đó ta có thể giải thích dễ dàng các dấu hiệu cơ bản.

Hình ảnh X quang xương, khớp: xương cản quang; màng xường; sụn liên hợp; sụn khớp không cản quang

Bài viết đăng trong chuyên mục Chẩn đoán cận lâm sàng và từ khóa cấu trúc xương.

(Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người ! Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đặc Điểm Giải Phẫu Xương Đầu Mặt Cổ Chi Tiết trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!