Đề Xuất 5/2023 # Đặc Điểm Cấu Tạo Hệ Thần Kinh Thực Vật! # Top 14 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 5/2023 # Đặc Điểm Cấu Tạo Hệ Thần Kinh Thực Vật! # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đặc Điểm Cấu Tạo Hệ Thần Kinh Thực Vật! mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hệ giao cảm có 2 trung tâm: Trung tâm cao (phía sau vùng dưới đồi) và trung tâm thấp (nằm ở sừng bên chất xám tủy sống từ đốt ngực 1 đến đốt thắt lưng 2 (T1 – L2)).

Các nơ ron ở sừng bên tủy sống phát ra các sợi gọi là sợi trước hạch, chúng đi đến các hạch giao cảm. Tùy vào vị trí, hạch giao cảm được chia làm 2 loại:

Hạch giao cảm cạnh sống: Xếp thành chuỗi 2 bên cột sống, gồm có:Hạch cổ trên,hạch cổ giữa,hạch cổ dưới (hay hạch sao).

Các hạch lưng và bụng: Hạch giao cảm trước cột sống,hạch đám rối dương, hạch mạc treo tràng trên,hạch mạc treo tràng dưới.

Từ các hạch này, thân nơ ron phát ra các sợi đi đến các cơ quan gọi là sợi sau hạch. Riêng đường giao cảm đi đến tuyến thượng thận không có sợi sau hạch. Vì vậy, tuyến thượng thận được xem như một hạch giao cảm lớn.

Chất trung gian hóa học của hệ giao cảm:

Khác nhau giữa 2 sợi trước hạch và sau hạch:Sợi trước hạch: acetylcholin, sợi sau hạch: norepinephrin. Tuy nhiên, sợi sau hạch giao cảm đi đến tuyến mồ hôi và mạch máu cơ vân thì chất trung gian hóa học là acetylcholin.

Receptor tiếp nhận norepinephrin của hệ giao cảm được gọi là noradrenergic receptor. Bên cạnh norepinephrin, các receptor này cũng đáp ứng với epinephrin. Tuy nhiên, mức độ và hình thức đáp ứng của các receptor đối với 2 chất này rất khác nhau. Dựa vào mức độ và hình thức đáp ứng đó, người ta chia các receptor này ra làm 2 loại:

a noradrenergic receptor, b noradrenergic receptor. Ngoài ra, a còn chia ra a1 và a2, b chia ra b1 và b2.

Nằm phía trước vùng dưới đồi.

Phía trên: nằm ở thân não, theo các dây thần kinh sọ III, VII, IX, X đi đến các cơ quan ở vùng mặt và các tạng trong ổ bụng

Phía dưới: ở sừng bên chất xám tủy sống từ đốt cùng 2 đến cùng 4 (S2 – S4) rồi theo dây thần kinh chậu đi đến phần dưới ruột già, bàng quang và cơ quan sinh dục

Gồm có: Hạch mi, hạch tai, hạch dưới hàm và dưới lưỡi, hạch vòm khẩu cái.

Các hạch nằm ngay trong thành các cơ quan: sợi trước hạch đi tới các cơ quan này nằm trong thành phần của dây X và dây chậu, hạch và sợi sau hạch nằm ngay trong các cơ quan ở lồng ngực, ổ bụng và cơ quan sinh dục.

Chất trung gian hóa học của hệ phó giao cảm:

Cả sợi trước hạch và sau hạch đều là acetylcholin.

Receptor tiếp nhận acetylcholin của toàn bộ hệ phó giao cảm (cũng như của các sợi trước hạch giao cảm và một số sợi sau hạch giao cảm) được gọi là cholinergic receptor.

Dựa vào tính chất dược lý, người ta chia các receptor này ra làm 2 loại:

Muscarinic receptor: Chịu tác dụng kích thích của muscarin, một loại độc tố của nấm độc. Muscarinic receptor phân bố chủ yếu ở cơ trơn và mạch máu, chúng bị ức chế bởi atropin.

Nicotinic receptor: Chịu tác dụng kích thích của nicotin nhưng không chịu tác dụng của muscarin. Nicotinic receptor được phân bố ở hạch giao cảm, hạch phó giao cảm và không bị atropin ức chế.

3. So sánh giữa hệ giao cảm và phó giao cảm

Trung tâm nằm liên tục trong tuỷ sống

Trung tâm không nằm liên tục nhau trên não và trong tuỷ sống.

Hạch giao cảm nằm gần trung tâm, xa tạng

Hạch phó giao cảm nằm gần tạng, xa trung tâm

Sợi tiền hạch ngắn, sợi hậu hạch dài

Sợi tiền hạch dài, sợi hậu hạch ngắn

Một sợi tiền hạch thường tạo synap với khoảng 20 sợi hậu hạch nên khi kích thích ảnh hưởng giao cảm thường lan rộng

Một sợi tiền hạch nối với một sợi hậu hạch nên khi kích thích ảnh hưởng phó giao cảm thường khu trú.

Nói chung, tác dụng của 2 hệ giao cảm và phó giao cảm trên các cơ quan là đối ngược nhau. Sự đối ngược đó giúp cho hệ thần kinh thực vật điều hòa các hoạt động tinh vi và nhanh chóng hơn (bảng).

Ví dụ: dưới tác dụng điều hòa của thần kinh thực vật , nhịp có thể tăng lên 2 lần trong vòng 3-5 giây, huyết áp có thể hạ thấp đến mức gây ngất trong vòng 4-5 giây.

Bảng: Chức năng của hệ thần kinh thực vật .

Cấu Tạo Và Chức Năng Hệ Thần Kinh Tự Động (Thần Kinh Thực Vật)

Về mặt chức năng, hệ thần kinh có thể chia làm 2 phần:

– Hệ thần kinh động vật: thực hiện chức năng cảm giác và vận động.

– Hệ thần kinh thực vật: thực hiện chức năng điều hòa hoạt động của tất cả các cơ quan nội tạng, mạch máu, tuyến mồ hôi… cũng như sự dinh dưỡng của toàn bộ các cơ quan trong cơ thể kể cả hệ thần kinh, các chức năng này được thực hiện một cách tự động. Vì vậy, hệ thần kinh thực vật còn được gọi là hệ thần kinh tự động. Tuy nhiên, khái niệm tự động không hoàn toàn tuyệt đối vì hệ thần kinh thực vật còn chịu sự chi phối của vỏ não.

Trong thực tế, vỏ não có thể điều khiển một số chức năng của hệ thần kinh tự động.

1. Ðặc điểm cấu tạo của hệ thần kinh tự động

Hệ thần kinh tự động được chia làm 2 phần:

– Trung tâm của hệ giao cảm

Hệ giao cảm có 2 trung tâm: trung tâm cao nằm phía sau vùng dưới đồI; trung tâm thấp nằm ở sừng bên chất xám tủy sống từ đốt ngực 1 đến đốt thắt lưng 3 (T1 – L3).

Các nơron ở sừng bên tủy sống phát ra các sợi gọi là sợi trước hạch, chúng đi đến các hạch giao cảm. Tùy vào vị trí, hạch giao cảm được chia làm 2 loại: Hạch giao cảm cạnh sống: xếp thành chuỗi 2 bên cột sống, gồm có: Hạch cổ trên, hạch cổ giữa, hạch cổ dưới (hay hạch sao), các hạch lưng và bụng. Hạch giao cảm trước cột sống: hạch đám rối dương, hạch mạc treo tràng trên, hạch mạc treo tràng dưới. Từ các hạch này, thân nơron phát ra các sợi đi đến các cơ quan gọi là sợi sau hạch. Riêng đường giao cảm đi đến tuyến thượng thận không có sợi sau hạch. Vì vậy, tuyến thượng thận được xem như một hạch giao cảm lớn.

– Chất trung gian hóa học của hệ giao cảm

Khác nhau giữa 2 sợi trước hạch và sau hạch: (+) Sợi trước hạch: acetylcholin. (+) Sợi sau hạch: chúng tôi nhiên, sợi sau hạch giao cảm đi đến tuyến mồ hôi và mạch máu cơ vân thì chất trung gian hóa học là acetylcholin.

– Receptor của hệ giao cảm

Receptor tiếp nhận norepinephrin của hệ giao cảm được gọi là noradrenergic receptor. Bên cạnh norepinephrin, các receptor này cũng đáp ứng với epinephrin. Tuy nhiên, mức độ và hình thức đáp ứng của các receptor đối với 2 chất này rất khác nhau. Dựa vào mức độ và hình thức đáp ứng đó, người ta chia các receptor này ra làm 2 loại:α noradrenergic receptor, β noradrenergic receptor. Ngoài ra, α còn chia ra α 1 và α 2, β còn chia ra β1 và β 2.

Hình 11.4. Cấu tạo hệ thần kinh tự động

Gồm có: hạch mi, hạch tai, hạch dưới hàm và dưới lưỡi, hạch vòm khẩu cái. Các hạch nằm ngay trong thành các cơ quan: sợi trước hạch đi tới các cơ quan này nằm trong thành phần của dây X và dây chậu, hạch và sợi sau hạch nằm ngay trong các cơ quan ở lồng ngực, ổ bụng và cơ quan sinh dục.

– Chất trung gian hóa học của hệ phó giao cảm: Cả sợi trước hạch và sau hạch đều là Acetylcholin

– Receptor của hệ phó giao cảm: Receptor tiếp nhận acetylcholin của toàn bộ hệ phó giao cảm (cũng như của các sợi trước hạch giao cảm và một số sợi sau hạch giao cảm) được gọi là Cholinergic receptor.

Dựa vào tính chất dược lý, người ta chia các receptor này ra làm 2 loại:

* Muscarinic receptor: chịu tác dụng kích thích của muscarin, một loại độc tố của nấm độc. Muscarinic receptor phân bố chủ yếu ở cơ trơn và mạch máu, chúng bị ức chế bởi atropin.

* Nicotinic receptor: chịu tác dụng kích thích của nicotin nhưng không chịu tác dụng của muscarin. Nicotinic receptor được phân bố ở hạch giao cảm cũng như hạch phó giao cảm và không bị atropin ức chế.

3. Chức năng của hệ thần kinh tự động

Nói chung, tác dụng của 2 hệ giao cảm và phó giao cảm trên các cơ quan là đối ngược nhau. Sự đối ngược đó giúp cho hệ thần kinh tự động điều hòa các hoạt động tinh vi và nhanh chóng hơn.

Ví dụ: dưới tác dụng điều hòa của thần kinh tự động, tần số tim có thể tăng lên 2 lần trong vòng 3-5 giây, huyết áp có thể hạ thấp đến mức gây ra ngất trong vòng 4 – 5 giây.

4. Các thuốc ảnh hưởng lên hệ thần kinh tự động

a. Thuốc ảnh hưởng lên hệ giao cảm

– Thuốc giống giao cảm:Là các chất thuộc nhóm catecholamin:

Adrenalin (epinephrin). Noradrenalin (norepinephrin). Dopamin.

-Thuốc cường giao cảm. Ephedrin: tăng giải phóng norepinephrin. Isoprenalin (Isuprel):

kích thích β. Salbutamol: kích thích β2 ở cơ trơn phế quản. Neosynephrin (phenylephrin):

kích thích α 1.

– Thuốc ức chế giao cảm. Reserpin: giảm dự trữ norepinephrin. Propranolol (Inderal): ức

chế β 1 và β 2. Atenolol (Tenormin): ức chế β1. Prazosin (Minipress): ức chế α 1 .

b. Thuốc ảnh hưởng lên hệ phó giao cảm

-Thuốc cường phó giao cảm: Physostigmin (Eserin). Neostigmin (Prostigmin)

– Thuốc ức chế phó giao cảm: Atropin

Hệ Thần Kinh Thực Vật Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng? – Trankinhan.com

Tình trạng mất cân bằng của Hệ thần kinh thực vật gây ra chứng rối loạn thần kinh thực vật (rối loạn thần kinh tim). Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem Hệ thần kinh thực vật là gì? Cấu tạo và chức năng Hệ thần kinh thực vật như thế nào? Làm gì để có hệ thần kinh thực vật khỏe mạnh?

Hệ thần kinh thực vật là gì?

Hệ thần kinh thực vật còn có tên gọi khác là hệ thần kinh tự chủ (ANS – autonomic nervous system) được điều khiển bởi vùng dưới đồi trong não. Đây là 1 phần của hệ thần kinh ngoại vi ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan nội tạng.

Hệ thần kinh thực vật là hệ thống thần kinh kiểm soát các hoạt động của cơ quan trong cơ thể một cách tự động không phụ thuộc vào bộ não như nhịp tim, huyết áp, tiểu tiện, tiêu hóa…

Cấu tạo hệ thần kinh thực vật (TKTV)

Hệ TKTV gồm 2 nhánh là Hệ thần kinh giao cảm và Hệ thần kinh đối giao cảm (phó giao cảm).

Hệ giao cảm

Trung khu của hệ giao cảm phân bố ở sừng bên chất xám tuỷ sống từ ngực 1 đến thắt lựng 2 – 3

Hệ thần kinh giao cảm được coi là hệ thống “chạy và hoạt động”

Hệ đối giao cảm

Trung khu hệ phó giao cảm phân bố ở 3 nơi: não giữa, hành cầu não và các đốt cùng của tuỷ sống

Hệ thần kinh đối giao cảm được coi là hệ thống “nghỉ ngơi và tiêu hóa”

Trong nhiều trường hợp, 2 hệ thống này hoạt động theo hướng đối lập, trong khi một hệ thống kích hoạt phản ứng sinh lý thì hệ thống kia ức chế nó. Một cách ngắn gọn, cơ chế làm việc của 2 hệ thống này là Kích thích và Ức chế.

Trong một vài trường hợp khác, hệ thống thần kinh giao cảm là “hệ vận động đáp ứng nhanh” còn hệ thần kinh đối giao cảm là “hệ làm giảm chậm”.

Chức năng hệ thần kinh thực vật

Một cách chung nhất, chức năng của hệ thần kinh thực vật là điều hòa quá trình chuyển hóa vật chất, điều hòa hoạt động các cơ quan nội tạng và của chính hệ thần kinh trung ương.

Tùy thuộc vào trạng thái của các cơ quan mà hệ thần kinh thực vật có thể tác động theo hướng phát động hay điều chỉnh giảm nhẹ. Xung động truyền tới từ các dây thần kinh giao cảm làm tăng hoạt động, xung động truyền tới từ dây thần kinh phó giao cảm làm giảm hoạt động. Sự tác động này tạo ra ảnh hưởng điều chỉnh cho cơ quan đó.

Bảng chi tiết tác động của hệ thần kinh thực vật lên các bộ phận cơ thể

Nhận xét: Qua bảng trên ta nhận thấy như sau:

Hệ giao cảm kích thích một số cơ quan nhưng lại ức chế một số cơ quan khác. Hệ đối giao cảm cũng như vậy

Hệ giao cảm và đối giao cảm làm việc đối lập với nhau. Trong khi hệ này kích thích thì hệ kia ức chế

Phần lớn các cơ quan trong cơ thể có một hệ chi phối mạnh hơn so với hệ kia

Hệ Thần Kinh Thực Vật: Những Điều Mà Bạn Chưa Biết

Hệ thần kinh thực vật hay còn gọi là hệ thần kinh tự chủ là một thành phần của hệ thống thần kinh ngoại biên, giúp điều hòa quá trình sinh lý không tự ý bao gồm nhịp tim, huyết áp, hô hấp, tiêu hóa và hưng phấn tình dục.

1. Cấu trúc của hệ thần kinh thực vật

Hệ thần kinh thực vật gồm hai phần: giao cảm và đối giao cảm. Hệ đối giao cảm giúp thúc đẩy chức năng duy trì và bảo toàn năng lượng. Trong khi đó, hệ giao cảm giúp thúc đẩy cơ thể trong quá trình hoạt động.

Cả hai hệ giao cảm và đối giao cảm đều có thể tác động lên cùng một cơ quan nhưng chúng lại có tác dụng đối ngược nhau. Trong khi một hệ gây kích thích co thắt cơ trơn và tăng tiết một số tuyến, thì hệ kia lại gây dãn cơ trơn và giảm tiết một số tuyến. Thông qua hoạt động đối nghịch này, hai hệ hoạt động cân bằng để giúp cơ thể hoạt động hiệu quả.

1.1. Vai trò của hệ đối giao cảm

Hệ đối giao cảm hay còn được gọi là hệ thống “nghỉ ngơi và tiêu hóa” giúp cơ thể sử dụng năng lượng thấp nhất có thể, ngay cả khi điều hòa các hoạt động sinh tồn như tiêu hóa thức ăn và đại tiện, tiểu tiện.

Hoạt động của hệ giao cảm được mô tả tốt nhất ở một người nghỉ ngơi sau bữa ăn và đọc sách thư giãn. Khi đó, huyết áp và nhịp tim được điều hòa ở mức thấp; dạ dày ruột sẽ hoạt động để tiêu hóa thức ăn, đồng tử co nhỏ và thấu kính của mắt sẽ điều tiết để giúp bạn hình rõ hình ảnh ở gần (ví dụ như hình ảnh tạp chí).

1.2. Vai trò của hệ giao cảm

Hoạt động của hệ giao cảm (hay còn được gọi là hệ thống “chiến đấu” hay “bỏ chạy” sẽ thấy rõ khi chúng ta hưng phấn, kích động hoặc trong những tình huống khẩn cấp, nguy hiểm. Để dễ hình dung, bạn hãy thử tưởng tượng mình đang đi trên một con đường tối, vắng vẻ giữa đêm khuya, khi ấy bạn cảm thấy sợ hãi, tim bạn đập nhanh, thình thịch, bạn thở sâu, da lạnh, đỗ mồ hôi, đồng tữ giãn. Thì đây chính là những dấu hiệu của hệ giao cảm.

Hệ giao cảm không những gây kích thích, gia tăng các hoạt động mà còn giảm bớt các hoạt động không cần thiết như tiêu hóa thức ăn. Ví dụ như nếu bạn đang ra sức chạy trốn khỏi tên bắt cóc, thì việc tiêu hóa thức ăn có thể chờ đợi sau. Điều quan trọng tại thời điểm đó là cung cấp cho cơ thể bạn mọi thứ để thoát khỏi nguy hiểm.

Description automatically generated” width=”600″ height=”252″>

2. Hoạt động chức năng của hệ thần kinh thực vật

Hệ thần kinh thực vật hoạt động bằng cách nhận thông tin từ môi trường và các bộ phận khác của cơ thể. Hệ thống giao cảm và đối giao cảm có xu hướng hoạt động đối lập nhau, trong đó một hệ thống sẽ kích thích và một hệ thống sẽ ức chế.

Phần lớn, kích thích sẽ xảy ra thông qua hệ thống giao cảm và ức chế, thông qua hệ đối giao cảm. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp ngoại lệ đã được tìm thấy.

Ví dụ, hệ thần kinh giao cảm hoạt động sẽ làm tăng huyết áp, trong khi đó hệ đối giao cảm sẽ làm hạ áp. Tuy nhiên, trong hệ thống tiêu hóa, thì hệ giao cảm làm giảm hoạt động tiêu hóa và đối giao cảm làm tăng hoạt động tiêu hóa. Hai hệ thống sẽ phối hợp hoạt động để điều hòa cơ thể tùy theo tình huống và nhu cầu cụ thể.

3. Chức năng của hệ thần kinh thực vật

Hệ thần kinh thực vật giúp điều hòa nhiều hoạt động trong cơ thể người bao gồm:

Tiêu hóa.

Huyết áp.

Nhịp tim.

Đại tiện, tiểu tiện.

Phản xạ đồng tử.

Nhịp thở.

Hoạt động tình dục.

Nhiệt độ cơ thể.

Chuyển hóa.

Cân bằng điện giải.

Sản xuất dịch tiết cơ thể như mồ hôi và nước bọt.

Đáp ứng cảm xúc.

Các con đường thần kinh thực vật kết nối với những cơ quan khác nhau của cơ thể đến thân não hoạc tủy sống. Ngoài ra, cũng có hai chất dẫn truyền thần kinh quan trọng làm nhiệm vụ kết nối trong hệ thống thần kinh thực vật:

Acetylcholine thường được sử dụng trong hệ phó giao cảm, có tác dụng ức chế.

Norepinephrine thường hoạt động trong hệ thống giao cảm, có tác dụng kích thích cơ thể.

4. Rối loạn chức năng hệ thần kinh thực vật

Rối loạn này xảy ra khi các sợi thần kinh của hệ thần kinh thực vật bị tổn thương. Mức độ rối loạn có thể từ nhẹ đến nặng thậm chí đe dọa tính nặng và có thể ảnh hưởng một phần hoặc toàn bộ hệ thần kinh thực vật. Đôi khi những nguyên nhân gây ra rối loạn là tạm thời và có thể hồi phục. Tuy nhiên, có những nguyên nhân khác gây rối loạn mãn tính hoặc kéo dài, và có thể nặng dần theo thời gian.

Đái tháo đường và bệnh Parkinson là hai ví dụ về tình trạng mãn tính có thể dẫn đến rối loạn chức năng của hệ thần kinh thực vật.

4.1. Các triệu chứng

Rối loạn có thể ảnh hưởng đến một phần nhỏ hoặc toàn bộ hệ thần kinh thực vật. Một số triệu chứng có thể xuất hiện khi bị rối loạn chức năng hệ thần kinh thực vật gồm:

Chóng mặt và choáng váng khi thay đổi tư thế hoặc hạ huyết áp tư thế.

Không có khả năng thay đổi nhịp tim khi tập thể dục hoặc không có khả năng tập thể dục. Bởi vì, bình thường, khi cơ thể chúng ta hoạt động mạnh và nhiều như tập thể dục, tim chúng ta cần phải đập nhanh hơn để bơm đủ máu lên não, cơ và các vùng khác.

Mồ hôi tiết bất thường, có thể có lúc tiết rất nhiều mồ hôi, có lục lại không tiết đủ mồ hôi.

Khó tiêu hóa ví dụ như mất cảm giảm ngon miệng, đầy bụng, tiêu chảy, táo bón.

Các vấn đề về tiết niệu như tiểu khó, tiểu không tự chủ, không thể làm trống bàng quang hoàn toàn.

Những vấn đề về tình dục ở nam giới như khó xuất tinh hoặc duy trì cương. Còn ở phụ nữ thường gặp khó khăn như khô âm đạo, khó đạt cực khoái.

Vấn đề về thị lực như nhìn mờ, hoặc không có khả năng phản xạ nhanh với ánh sáng.

4.2. Các phương pháp điều trị

Điều trị rối loạn chức năng thần kinh sẽ bằng cách giải quyết các triệu chứng. Nếu có một căn bệnh gây ra rối loạn chức năng thần kinh, thì vấn đề quan trọng nhất là kiểm soát nguyên nhân càng sớm càng tốt.

Thông thường, hạ huyết áp tư thế thường có thể cải thiện bằng cách thay đổi lối sống và điều trị thuốc. Các triệu chứng của hạ huyết áp tư thế có thể đáp ứng với:

Kê cao đầu.

Uống đủ nước.

Thêm muối vào chế độ ăn.

Mang vớ để giảm tụ máu ở chân.

Thay đổi tư thế một cách chậm rãi.

Tổn thương dây thần kinh rất khó chữa. Vật lý trị liệu, dụng cụ hỗ trợ đi lại, ống cho ăn và các phương pháp khác có thể cần thiết để giúp điều trị các tổn thương thần kinh nghiêm trọng hơn.

Hệ thần kinh thực vật là một hệ thống rất quan trọng trong cơ thể chúng ta. Nó giúp điều hòa và cân bằng các hoạt động của cơ thể. Nếu như rối loạn chức năng của hệ thần kinh thực vật có thể khiến cho bạn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Do đó, hãy đến gặp bác sĩ nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào của rối loạn hệ thần kinh thực vật. Chẩn đoán và điều trị sớm bệnh nền có thể giúp làm chậm tiến triển của bệnh và giảm bớt các triệu chứng. Mọi thông tin trên đều mang tính chất tham khảo.

Bác sĩ Nguyễn Đào Uyên Trang

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đặc Điểm Cấu Tạo Hệ Thần Kinh Thực Vật! trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!