Đề Xuất 12/2022 # Dạ Dày Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng, Bệnh Lý Dạ Dày / 2023 # Top 18 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Dạ Dày Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng, Bệnh Lý Dạ Dày / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Dạ Dày Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng, Bệnh Lý Dạ Dày / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

được nhiều người biết đến như một cơ quan tiếp nhận và hỗ trợ nghiền nát thức ăn, giúp cho chất dinh dưỡng dễ dàng được chuyển hóa và tạo ra năng lượng. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ được tất cả thông tin về dạ dày.

Vì vậy, Kho Thuốc Dân Gian sẽ chia sẻ đến bạn toàn bộ kiến thức cần nắm để hiểu rõ về dạ dày cũng như có cách bảo vệ dạ dày luôn khỏe mạnh.

Dạ dày là gì?

Dạ dày (hay còn gọi là bao tử) là một đoạn (túi) phình to ra của ống tiêu hóa, có hình giống chữ J trong cơ thể con người cũng như động vật.

Cấu tạo của dạ dày

Dạ dày có cấu tạo gồm: tâm vị, thượng vị, ba lớp cơ trơn (lớp cơ dọc ở ngoài, lớp cơ vòng ở giữa, lớp cơ chéo ở trong), bờ cong bé, bờ cong lớn, phần thân bao tử, nếp gấp bao tử, môn vị, cơ thắt môn vị, lỗ môn vị.

Dạ dày phía trên có ống tiêu hóa nối với thực quản, phía dưới nối với tá tràng qua môn vị. Bao tử được cấu tạo phù hợp nhằm đảm bảo nghiền nát thức ăn và hỗ trợ chuyển đổi thức ăn bằng dịch vị. Chi tiết cấu tạo của bao tử như sau:

Thượng vị: thượng vị là phần nằm trên cùng của dạ dày. Thông thường thượng vị sẽ tiếp nhận và xử lý thông tin no và đói. Vì vậy, khi đau thượng vị, có thể bạn đang đói bụng hoặc các vấn đề đau bao tử do ảnh hưởng của việc để bụng quá đói.

Tâm vị: có diện tích khoảng 4-6 cm2, là phần có lỗ thông với thực quản. Ở phần này không có van hay cơ thắt mà chỉ có một mô nếp phân chia dạ dày và thực quản riêng biệt.

Thân vị: là vùng chiếm nhiều diện tích nhất của bao tử. Phần này đảm nhận chức năng co bóp thức ăn. Phần thân vị (ngay dưới đáy vị) có chứa rất nhiều tuyến tiết axit dịch vị pepsingene và axit dịch vị acid clohydric.

Môn vị: phần môn vị có cơ phát triển, nằm ngay tại bên phải đốt sống thắt lưng 1 và môn vị có lỗ môn vị thông với tá tràng.

Ba lớp cơ trơn: các lớp cơ trơn này được cấu tạo đặc biệt với khả năng có thể nghiền nát và nhào trộn thức ăn tốt nhất. Chính vì vậy, chúng có cả lớp cơ chéo, cơ dọc và cơ vòng.

Vị trí dạ dày trong cơ thể

Nhìn chung bạn có thể dễ dàng biết được vị trí của dạ dày trong cơ thể nhờ hình ảnh giải phẫu ổ bụng con người. Vị trí bao tử có ảnh hưởng rất nhiều đến chức năng và cách chẩn đoán bệnh cũng như điều trị bệnh cho người mắc phải.

Vị trí dạ dày ở đâu?

Vị trí dạ dày nằm ngay trên rốn và dưới phần ức lồng ngực, dạ dày có vị trí nằm hơi chếch sang bên trái của cơ thể. Nắm được vị trí của bao tử trên ổ bụng giúp bạn dễ dàng phát hiện được các chứng bệnh về đường tiêu hóa nói chung cũng như bao tử nói riêng.

Chẩn đoán bệnh qua vị trí đau dạ dày

Đau vùng thượng vị: là biểu hiện cơ bản của đau bao tử thời kì đầu. Nguyên nhân chủ yếu do thời gian ăn uống chưa khoa học. Để quá đói mới ăn hoặc ăn quá no khi đói trong thời gian dài khiến bạn bị đau.

Đau ngay phần thân bao tử: là biểu hiện cơ bản của viêm loét dạ dày hoặc do khuẩn HP gây nên.

Đau dạ dày tá tràng: đau ở phần dưới của bao tử, sát rốn. Là biểu hiện đau khi bao tử viêm viêm loét tá tràng hoặc có thể do khuẩn HP gây nên.

Chức năng của dạ dày

Dạ dày có 2 chức năng chính cơ bản nhất là: co bóp nghiền trộn thức ăn và chuyển hóa thức ăn nhờ vào enzim dịch vị. Cũng 2 chức năng này là cơ bản để tạo ra nguồn năng lượng nuôi sống cơ thể. Vì vậy có thể nói chức năng của bao tử là không thể thay thế và quan trọng nhất đối với cơ thể.

Co bóp nghiền trộn

Dạ dày được cấu tạo phù hợp cho chức năng co bóp thức ăn. Thông thường khi thức ăn đã được nhai thì đó chỉ là bước hỗ trợ đầu tiên cho bao tử. Khi thức ăn xuống đến bao tử, chúng sẽ co bóp theo nhiều hướng khác nhau để nghiền và trộn thức ăn.

Cũng chính vì vậy, nếu bạn nhai kỹ cũng là một phần hỗ trợ cho dạ dày, tránh tình trạng dạ dày làm việc quá sức sẽ khiến gây ra một số bệnh về bao tử, phổ biến nhất là đau bao tử, viêm loét bao tử. Cũng là vấn đề này, nếu bị đau dạ dày thì bạn cũng nên ăn thức ăn mềm và nhai kĩ là do vậy.

Chuyển hóa thức ăn

Ngoài chức năng cơ bản là co bóp nghiền trộn thức ăn thì dạ dày còn đồng thời tiết ra enzim dịch vị để nhằm chuyển hóa thức ăn. Dạ dày cũng là nơi hấp thu chất dinh dưỡng đã được chuyển hóa nhưng không đáng kể. Phần việc này sẽ do ruột non xử lý sau khi bao tử đã thực hiện co bóp nghiền nát.

Độ PH trong bao tử là rất thấp (tính axit) nên cũng vì vậy mà có thể dễ dàng tiêu hóa được thức ăn. Để bảo vệ chính bao tử với độ PH này, dạ dày có cấu tạo một lớp mỏng trong phần nếp gấp có khả năng kháng axit, tránh chúng tự hủy chính mình. Cũng vì vậy, những người bị viêm loét dạ dày nếu không chữa trị kịp thời thì sẽ càng nặng, các cơn đau tăng lên khi đói (axit tăng cao khi đói).

Đối với một số người có nồng độ axit trong dạ dày thấp, không đạt được mức cần thiết cũng dễ gây ra các chứng nhiễm khuẩn ruột. Do bao tử không đủ tiết axit nhằm loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn trong thức ăn khi được đưa vào.

Bệnh lý dạ dày

Trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản được hiểu là dịch dạ dày (bao gồm cả thức ăn, hơi, men tiêu hóa,…) bị trào ngược lên thực quản. Dịch bao tử khi trào ngược lên dạ dày không chỉ gây khó chịu, buồn nôn mà có thể gây tổn thương cho thực quản, dây thanh, miệng,…

Trào ngược dạ dày có thể cảm nhận được hoặc không cảm nhận được. Trong đó có một số biểu hiện phổ biến như: ợ hơi, ợ chua, buồn nôn và nôn, đau tức ngực, khản tiếng, ho,…

Viêm loét dạ dày tá tràng

Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là tổn thương trên lớp niêm mạc bao tửy ở vị trí vùng thân dạ dày hoặc tá tràng. Các lớp niêm mạc bị bào mòn sau đó cộng thêm do tác động từ axit dịch vị trong bao tử nên gây ra tình trạng viêm loét nặng hơn.

Người bị viêm loét dạ dày thường có hiểu hiện như đau vùng bụng ở phía trên của rốn, luôn cảm giác đầy bụng, khó tiêu, có thể nôn hoặc buồn nôn. Đôi khi có thể khiến bạn mất ngủ kèm theo ợ hơi, ợ chua, nóng rát khó chịu vùng thượng vị.

Nhiễm khuẩn HP

Nhiễm khuẩn HP là dạ dày bị nhiễm loại vi khuẩn có tên Helicobacter Pylori, vi khuẩn này có khả năng tiết ra enzyme Urease có khả năng trung hòa axit trong bao tử. Chính vì vậy mà loại vi khuẩn này không thể bị dạ dày tiêu diệt.

Người bị nhiễm khuẩn HP thường có môi trường pH trong dạ dày tăng cao, không đủ thấp (không đủ tính axit), từ đó cản trở chức năng của bao tử là tiêu hóa thức ăn. Cuối cùng thức ăn không thể được nghiền nát và trộn đều dịch vị. Lâu ngày sẽ khiến tình trạng khó tiêu, đầy bụng bên nặng. Từ đó gây ra các triệu chứng phổ biến của bệnh đau bao tử.

Ung thư dạ dày

Ung thư dạ dày là một căn bệnh với tình trạng nặng nhất. Có rất nhiều giai đoạn của ung thư dạ dày, mỗi giai đoạn có triệu chứng cũng như cách điều trị khác nhau. Ung thư dạ dày nguyên nhân là do các tế bào bao tử phát triển bất thường tạo thành khối u ác tính.

Giai đoạn 0: Ung thư biểu mô (các tế bào ung thư này thường nằm ở lớp niêm mạc)

Giai đoạn 1: Tế bào ung thư xâm lấn vào lớp tiếp theo của dạ dày

Giai đoạn 2: Tế bào ung thư xâm lấn qua lớp niêm mạc của dạ dày

Giai đoạn 3: Tế bào ung thư lan ra hạch bạch huyết và lan ra các cơ quan khác trong cơ thể

Giai đoạn 4: Ung thư di căn khắp cơ thể với tỉ lệ tử vong cao nhất

Phương pháp bảo vệ dạ dày khỏe mạnh

Thực phẩm lành mạnh

Thực phẩm lành mạnh là những thực phẩm tốt cho dạ dày. Tuy nhiên không phải bạn cần kiêng hết tất cả các loại thực phẩm mà cần biết cách ăn uống điều độ. Đặc biệt nếu trường hợp đang bị bệnh dạ dày thì nên kiêng toàn bộ các thực phẩm cay nóng, dầu mỡ, đồ ăn cứng khó tiêu.

Tuyệt đối không nên: hút thuốc và uống rượu bia.

Nên hạn chế ăn: đồ ăn dầu mỡ, cay nóng chua và khó tiêu.

Nên thường xuyên ăn các loại thực phẩm: thực phẩm mềm, trái cây ngọt, rau củ quả,…

Chế độ sinh hoạt khoa học

Chế độ sinh hoạt khoa học bao gồm cả giấc ngủ, thời gian ăn uống và chế độ luyện tập thể dục thể thao:

Giấc ngủ: nên ngủ đủ giấc, tránh ngủ ngay sau khi ăn no. Nhiều người thường có thói quen ngủ trưa ngay sau khi ăn no khiến khó tiêu, đầy bụng, lâu ngày gây ảnh hưởng đến dạ dày.

Thời gian ăn uống: nên ăn đúng giờ, tránh để bụng quá đói mới ăn, không nên ăn quá no.

Chế độ luyện tập thể dục thế thao: nên luyện tập thể dục thể thao phù hợp, không lao động quá sức, chế độ thể thao nhẹ nhàng với người đang bị đau dạ dày. Tuyệt đối không vận động mạnh ngay sau khi ăn no.

Tầm soát ung thư định kỳ

Tất cả 2 phương pháp trên giúp cho dạ dày của bạn luôn khỏe mạnh. Tuy nhiên ung thư thì có thể không, chúng xảy ra do rất nhiều nguyên nhân mà có thể bạn không thể phòng tránh được. Vì vậy, tầm soát ung thư là cách tốt nhất giúp bạn phát hiện và điều trị ung thư từ giai đoạn sớm nhất.

Bạn nên thực hiện tầm soát ung thư định kỳ khoảng 6 tháng/lần. Nên chọn các địa chỉ uy tín để thực hiện tầm soát ung thư, tránh kết quả tầm soát không đúng. Đặc biệt, nên tầm soát ung thư tại các bệnh viện lớn. Tầm soát ung thư không chỉ ở dạ dày, bạn nên thực hiện tầm soát toàn bộ cơ thể. Tuy chi phí cao hơn nhưng sẽ giúp bạn yên tâm hơn.

Cấu Tạo Dạ Dày Và Chức Năng Dạ Dày / 2023

Dạ dày (hay bao tử) là một bộ phận trong hệ tiêu hóa, có nhiệm vụ dự trữ và tiêu hóa thức ăn. Nếu cơ quan này bị tổn thương, gặp trục trặc đồng nghĩa với việc nguồn dinh dưỡng đi nuôi cơ thể bị ngưng trệ. Vì vậy việc tìm hiểu cấu tạo dạ dày, chức năng của nó sẽ có lợi trong việc điều trị bệnh.

Dạ dày là một tạng trong phúc mạng, phía trên nối với thực quản qua lỗ tâm vị, phía dưới nối với thực quản qua lỗ môn vị, có hình dạng giống với chữ J.

* Thành phần trong dạ dày

– Tâm vị: Lỗ tâm vị có một lớp niêm mạc ngăn cách với thực quản.

– Đáy vị: Chứa không khí

– Thân vị: Phần này chứa các tuyến tiết ra HCl và Pepsinogene.

– Môn vị: Lỗ môn vị có một cơ thắt gọi là cơ thắt môn vị.

* Cấu tạo dạ dày

Cấu tạo dạ dày người gồm 5 lớp từ ngoài vào trong, cụ thể:

– Thanh mạc: Lớp phúc mạc tạng bao bọc dạ dày.

– Lớp cơ: cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo

– Tấm dưới niêm mạc: Lớp niêm mạc chứa các tuyến dạ dày, tiết ra các chất khác nhau vừa có vai trò bảo vệ dạ dày như chất nhầy, vừa có khả năng tiêu hóa như HCl như men Pepsinogene… lại có vai trò nội tiết hay trung gian hóa học như gastrin, histamin… đồng thời là yếu tố nội giúp hấp thụ sinh tố B12.

– Lớp niêm mạc chứa các tuyến của dạ dày: Gồm nhiều loại tiết ra các chất khác nhau, có vai trò bảo vệ dạ dày như chất nhầy, đồng thời giúp tiêu hóa và điều hòa nội tiết hóa học trung gian,…

Chức năng của dạ dày là gì?

Dạ dày có 2 chức năng chính là:

– Nghiền cơ học thức ăn đồg thời thấm dịch vị.

– Phân hủy thức ăn nhờ hệ enzym tiêu hóa có trong dịch vị.

* Chu trình nạp thức ăn vào dạ dày

Sau khi thức ăn được nghiền nát một phần bằng động tác nhai và được phân hủy một phần nhỏ nhờ các men có trong nước bọt sẽ được đưa xuống dưới qua một ống cơ trơn gọi là thực quản (ống này nằm song song với khí quản) sau đó đến dạ dày.

Dạ dày là nơi chứa thức ăn, nghiền nát, nhào trộn thức ăn với dịch vị. Dạ dày cũng hấp thu chất dinh dưỡng tuy nhiên chức năng này không đáng kể.

Khi thức ăn được nghiền nát, nhào trộn và thấm dịch vị xong chúng sẽ được đưa xuống ruột non để thực hiện công đoạn tiêu hóa và hấp thu sau đó là ruột già và “tống” ra ngoài theo đường bài tiết.

* Dịch vị trong dạ dày

Dịch vị bao gồm hỗn hợp các thành phần acid clohidrit (HCl) và enzyme pepsin.

Axit dịch vị có tác dụng rất mạnh, đủ để có thể đục thủng lỗ trên tấm thảm trải sàn. Để đảm bảo dạ dày không bị axit ăn mòn, luôn tồn tại các chất nhầy làm nhiệm vụ trung hòa axit, chất nhầy từ các tế bào phụ tiết ra, chính chất nhầy này và một số chất khác tạo lên một màng nhày, dai bao phủ niêm mạc.

Tuy nhiên những tế bào của lớp màng này cũng bị hao mòn rất nhanh chóng nên toàn bộ niêm mạc dạ dày được thay thế mới 3 ngày/lần. Dịch nhầy cũng hỗ trợ cho tiêu hóa bằng cách giữ cho thức ăn luôn ẩm ướt.

Sự mất cân bằng khiến cho lượng chất nhầy thiết hụt, hay sự phát triển dư thừa của axit dịch vị là nguyên nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày.

Để phòng và điều tị các bệnh dạ dày, cần hiểu rõ cấu tạo dạ dày và chức năng của nó.

Một số triệu chứng bệnh dạ dày phổ biến

Người mắc bệnh dạ dày thường có những dấu hiệu sau:

Đây là biểu hiện phổ biến đầu tiên của chứng đau dạ dày. Người bệnh thường có cảm giác chướng bụng, đầy hơi khó chịu kể cả khi ăn đã lâu. Cảm giác bụng đầy hơi có thể giảm dần sau khi hoạt động thể chất hoặc làm việc.

Tuy nhiên, tình trạng này liên tục xuất hiện và kéo dài sau mỗi bữa ăn khiến bạn cảm thấy chán ăn, mệt mỏi. Ngoài ra, bạn có cảm giác khó nuốt, đặc biệt các triệu chứng sẽ nặng thêm theo thời gian.

Đau tức vùng bụng trên hay còn gọi là đau vùng thượng vị là một trong những dấu hiệu điển hình của bệnh viêm loét dạ dày giai đoạn đầu. Lúc này người bệnh thường xuất hiện những cơn đau bất thường, ngày càng dày và nặng hơn. Thời gian đầu, cơn đau xuất hiện khi đói quá hoặc khi no quá.

Đau tức vùng bụng trên hay còn gọi là đau vùng thượng vị là một trong những dấu hiệu điển hình của bệnh viêm loét dạ dày giai đoạn đầu.

+ Thường xuyên có cảm giác buồn nôn, nôn

Nếu bạn thường xuyên buồn nôn không rõ nguyên nhân thì hãy đi khám ngay vì đây là một trong những biểu hiện của bệnh đau dạ dày của đại đa số bệnh nhân.

+ Thay đổi thói quen đại tiện, phân bất thường

Đầy hơi, thay đổi thói quen đại tiện hoặc giảm cân không rõ nguyên nhân có thể là một dấu hiệu cho thấy bị nhiễm một ký sinh trùng gọi là Giardia trong đường ruột, cũng có thể là dấu hiệu của các bệnh như trào ngược dạ dày, hội chứng ruột kích thích, bệnh loét dạ dày, sỏi mật, táo bón,…

Ở trường hợp nặng, khi khối u đã phát triển lớn thì bệnh nhân có thể sờ thấy khối u bất thường ở bụng. Một số người còn có thể sờ thấy có bọc u trong ổ dạ dày, ấn vào cảm giác đau.

Bệnh dạ dày là một trong những bệnh có tỉ lệ người mắc hàng đầu trong các bệnh đường tiêu hóa, những nguy hại mà bệnh gây ra từ nhẹ đến nặng, có thể đe dọa tính mạng người bệnh. Do đó, chúng ta cần hiểu rõ cấu tạo dạ dày, chức năng dạ dày và những nguy cơ bệnh có thể mắc phải.

Khi có các triệu chứng như trên, cần sớm thăm khám tại chuyên khoa y tế để sớm phát hiện bệnh. Bên cạnh việc điều trị theo phác đồ của bác sỹ, người bệnh cần điều chỉnh thói quen ăn uống và sinh hoạt để phòng tránh bệnh tái phát cũng như nâng cao hiệu quả điều trị.

Bạn cũng có thể tham khảo sử dụng thêm thuốc dạ dày chữ Y – Yumangel để làm giảm nhanh các triệu chứng đau thượng vị, buồn nôn, ợ nóng, ợ chua, trào ngược,… do đau dạ dày, viêm/loét dạ dày, viêm hang vị,… gây ra.

Cấu Tạo Dạ Dày Bò / 2023

Cấu tạo dạ dày bò

Khác với động vật dạ dày đơn như lợn, ngựa…, dạ dày bò có cấu tạo phức tạp bao gồm 4 túi : dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế.

Dạ cỏ to nhất, chiếm 2/3 dung tích của dạ dày, là túi đặc biệt nhất, tại đây hàng loạt phản ứng sinh hoá học được tiến hành liên tục để phân giải tiêu hoá và hấp thu thức ăn. Từ thượng vị dạ dày có rãnh thực quản hình lòng máng chạy qua dạ cỏ, dạ tổ ong và dạ lá sách. Dạ tổ ong là dạ tiếp theo dạ cỏ được nối với dạ cỏ bằng một miệng lớn, dạ tổ ong gồm nhiều ngăn nhỏ như tổ ong làm tăng bề mặt tiếp xúc với thức ăn và giữ vật lạ lại. Dạ lá sách gồm nhiều lá to nhỏ khác nhau như những trang sách để dễ ép thức ăn nửa lỏng xuống dạ múi khế. Dạ múi khế có nhiều nếp gấp ở mặt trong để tăng thêm diện tích hấp thụ và có tuyến tiêu hoá như dạ dày đơn của lợn.

Hệ vi sinh vật trong dạ cỏ

Hệ vi sinh vật trong dạ cỏ bò bao gồm bacteria, protozoa và nấm. Số lượng bacteria 109- 1010 trong 1 rnl chất chứa, có trên 60 loài đã được xác định số lượng bacteria. Số lượng bacteria của từng loài phụ thuộc rất lớn vào khẩu phần ăn của bò. Protozoa có số lượng ít hơn nhiều so với số lượng bacteria, chúng chỉ có 106 trong 1 ml chất chứa, nhưng vì có kích thước lớn hơn nên tổng sinh khối tương tự như bacteria. Nấm (Fungi) trong dạ cỏ bò mới chỉ được nghiên cứu trong vài chục năm gần đây, vị trí của chúng trong hệ sinh thái dạ cỏ cũng chưa có những khẳng định đầy đủ, có một số loài đã được xác định. Phần đóng góp của nấm trong tiêu hoá ở dạ cỏ chưa được xác định thật rõ rệt, nhưng ước tính có khoảng 10% tổng sinh khối của vi sinh vật được hình thành do hoạt động của nấm trong điều kiện khẩu phần có nhiều xơ.

Vai trò của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ bò rất quan trọng trong việc tiêu hoá thức ăn thô xơ để biến chúng thành những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ hấp thu cho gia súc. Có thể nói nôm na công lao chế biến rơm, cỏ và các loài phụ phầm thành sữa, thịt ở bò chính là nhờ hệ vi sinh vật phong phú này.

Tiêu hoá thức ăn nhờ hệ vi sinh vật ở bò

– Tiêu hoá chất xơ (xenluloz): Xenluloz là màng khó tiêu hoá của tế bào thực vật, hàm lượng của nó khá lớn, chiếm đến 40-50% khối lượng của rơm, cỏ, phụ phẩm ăn vào. Trước hết, thảo trùng phá vỡ màng xenluloz để tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men, và giải phóng các chất dinh dưỡng khác như tinh bột, đường đạm trong rơm, cỏ, phụ phẩm để dễ dàng được tiêu hoá. Thảo trùng cũng ăn một phần chất dinh dưỡng đã bị phá vỡ đó để cung cấp năng lượng từ xenluloz cho sự hoạt động của chúng. Chất xơ dưới tác dụng của vi khuẩn lên men rất mạnh, qua một số giai đoạn và cuối cùng tạo ra nhiều chất khí (CH4 C02 H20) và các axit béo bay hơi (axit acetic, axit propionic, axit butyric, axit valeric). Các sản phẩm này được hấp thụ vào máu qua thành dạ cỏ để tham gia vào quá trình trao đổi chất. Vi khuẩn còn làm lên men Hemixenluloza tạo thành pentoza và hetoza; lên men pectin tạo thành một số axit béo bay hơi khác.

Tiêu hoá tinh bột và chất đường: Trong các phụ phầm như cám, tấm, vỏ dứa, ngọn mía, rỉ mật… đều có nhiều tinh bột và chất đường. Nó cung cấp năng lượng cho hệ vi sinh vật hoạt động, do đó nó rất có tác dụng cho sự phát triến hệ vi sinh vật trong dạ cỏ. Vi khuẩn và thảo trùng sẽ phân giải tinh bột thành polysacarit, glycozen và amilopectin. Những đa đường này sẽ được lên men, tạo thành axit béo bay hơi. Riêng sự lên men từ từ của amilopectin sẽ ngăn cản sự lên men quá mức khi trâu bò ăn nhiều cỏ tươi non, do đó tránh được hiện tượng đầy hơi, chướng bụng.

Những đường dễ tan như monosaccarit, disaccarit có trong rỉ mật, vỏ dứa chín… khi lên men cũng biến thành axit béo bay hơi và một lượng axitlactic. Nếu axitlactic quá nhiều sẽ gây trúng độc. Vì vậy nên cho ăn thức ăn có nhiều đường dễ tan một lượng vừa phải, và cho ăn từ từ tạo thuận lợi cho vi sinh vật hoạt động.

Các axil béo bay hơi được hấp thụ hoàn toàn qua thành dạ cỏ vào máu, đến gan; một phần được giữ lại tại gan để được oxy hoá cung cấp năng lượng cho bò hoạt động; phần khác được chuyển đến mô bào, nhất là mô mỡ và mô tuyến sữa để góp phần tạo thành mỡ sữa và mỡ dự trữ lúc vỗ béo.

Cường độ hình thành axit béo bay hơi khá mạnh, mỗi ngày ở dạ cỏ bò có thể sản ra 4 lít axit béo bay hơi. Trong đó bao gồm axit axetic 62,5% – axit propionic 23% và axit butyric l4,5%. Sự tạo thành đường lactoza trong sữa có quan hệ với axit butyric. Axit propionic tham gia vào quá trình tạo ra đạm sữa. Khi bò sữa được ăn khẩu phần có cỏ khô nhiều thì tỷ lệ axit axetic cao và tỷ lệ mỡ sữa cũng cao. Trái lại nếu cho bò sữa ăn nhiều thức ăn tinh trong khẩu phần thì axit axetic giảm và tỷ lệ mỡ sữa thấp.

Thảo trùng (protozoa) cũng phân giải tinh bột thành polysaccarit nhờ men amilaza trong cơ thể thảo trùng tiết ra. Mỗi ngày có khoảng 10% tổng số axit béo bay hơi trong dạ cỏ được hình thành nhờ tác dụng lên men của protozoa.

Tiêu hoá protein: Các loại rơm, cỏ và phụ phẩm có hàm lượng protein rất thấp: giá trị dinh dưỡng cũng không cao vì chứa ít axit amin không thay thế. Nhưng nhờ vi sinh vật dạ cỏ tiêu thụ lượng protein thực vật ít ỏi này, biến nó thành protein động vật có giá trị dinh dưỡng cao trong cơ thể chúng. Hệ vi sinh vật này theo dịch thức ăn đi xuống dạ múi khế và ruột non, do môi trường không thích hợp nên chúng bị chết đi, trở thành nguồn prolein động vật cho trâu bò. Nhờ đó, phần lớn 60-80%) prolein thực vật trong rơm, cỏ, phụ phẩm được chuyển biến thành protein vi sinh vật. Phần protein thực vật không được vi sinh vật lên men và chuyển hoá sẽ được đưa xuống dạ múi khế và ruột non để tiêu hoá. (Như vậy, nguồn protein ở ruột non sẽ có hai loại: protein của vi sinh vật và protein “nguyên xi” trong thức ăn).

Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng biến các chất chứa ni tơ không phải protein như urê, muối amon cabamit… thành protein động vật trong bản thân chúng. Do đó, người ta thường bổ sung urê vào khẩu phần cho trâu bò, hoặc xử lý rơm rạ, thân cây ngô sau thu hoạch với urê để tăng tỷ lệ đạm trong khẩu phần. Vi sinh vật phân giải urê nhờ tác dụng của men ureaza, và thải ra NH3-C02. Lượng NH3 này được vi sinh vật sử dụng để biến thành protein. Nếu NH3 dư thừa sẽ được hấp thu vào máu đến gan. ở gan NH3 được tổng hợp thành urê, urê này một phần được bài tiết qua nước tiểu, một phần đi vào tuyến nước bọt và lại được nuốt xuống dạ cỏ, trờ thành nguồn cung cấp ni tơ cho vi sinh vật chuyển hoá thành protein.

Cấu Tạo Dạ Dày Gồm Những Gì? Bài Giảng Về Các Bộ Phận Dạ Dày / 2023

Như chúng ta đã biết, việc giải phẫu cấu tạo dạ dày có thể giúp cho quá trình tìm hiểu bệnh cũng như điều trị bệnh dạ dày tốt hơn. Hiện nay bệnh đau dạ dày đang ngày một gia tăng, mỗi chúng ta cần phải nắm rõ được về những thông tin cần thiết về dạ dày.

I. Bài giảng về cấu tạo dạ dày, các lớp thành dạ dày

Dạ dày nằm ở giữa thực quản và tá tràng, đây được xem là bộ phận tiêu hóa lớn nhất. Dạ dày có vai trò chứa và tiêu hóa thực phẩm. Hình dạng và vị trí của nó biến đổi theo sự biến đổi của thể vị, và dung lượng thức ăn ít hay nhiều.

Dạ dày nhìn qua hình chụp X quang thường có hình dạng như sừng bò hoặc móc câu, chữ J. Ngoài ra, dạ dày còn chịu sự ảnh hưởng của tuổi tác, cá tính và thể chất của từng người.

Dạ dày gồm có 2 chức năng chính là:

– Nghiền cơ học thức ăn, thấm dịch vị

– Phân hủy thức ăn nhờ hệ enzym tiêu hóa trong dịch vị.

II. Những điều cần biết về giải phẫu cấu tạo dạ dày

Tâm vị là một vùng rộng khoảng từ 3 đến 4 cm2, nằm gần thực quản có lỗ tâm vị. Lỗ này thông giữa thực quản với dạ dày, không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêm mạc.

Đáy vị là phần phình to ra có hình chỏm cầu, ở bên trái lỗ tâm vị, ngăn cách với thực quản bụng bởi một khuyết gọi là khuyết tâm vị. Bộ phận này thường chứa không khí, nên dễ nhìn thấy khi chụp phim X quang.

Thân vị là phần nối tiếp phía dưới đáy, hình ống, có 2 thành và 2 bờ. Giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị và dưới là mặt phẳng xuyên qua khuyết góc của bờ cong vị nhỏ.

Hang môn vị: tiếp nối với thân vị chạy sang phải và hơi ra sau.

Ống môn vị: thu hẹp lại trông giống cái phễu và đổ vào môn vị.

Mặt ngoài của môn vị có tĩnh mạch trước môn vị. Sờ bằng tay bao giờ cũng sẽ nhận biết được môn vị hơn là nhìn bằng mắt.

Ở giữa môn vị là lỗ môn vị thông với hành tá tràng. Lỗ nằm ở bên phải đốt sống thắt lưng 1.

Dạ dày hay còn gọi là bao tử, đây là một bộ phận trong hệ tiêu hóa, có nhiệm vụ dự trữ và tiêu hóa thức ăn. Khi bị bệnh dạ dày đồng nghĩa với việc nguồn dinh dưỡng đi nuôi cơ thể cũng bị ngưng trệ.

Dạ dày là một tạng trong phúc mạng. Phía trên nối với thực quản qua lỗ tâm vị, phía dưới nối với thực quản qua lỗ môn vị.

Cấu tạo dạ dày người gồm 5 lớp từ ngoài vào trong:

Bắt nguồn từ động mạch thân tạng. Đây là nhánh của động mạch chủ bụng tách ra ngay dưới cơ hoành, ngang mức giữa đốt sống ngực 12 và đốt sống thắt lưng 1. Ngay sau khi xuất phát động mạch chia thành 3 ngành là: động mạch vị trái, động mạch lách và động mạch gan chung.

3.1 Vòng mạch bờ cong vị bé

– Bó mạch vị phải

– Theo cấu tạo động mạch vị phải thường xuất phát từ động mạch gan riêng. Trong cuống gan động mạch ở trước và bên trái, đến bờ cong nhỏ chia làm 2 nhánh đi lên để nối với 2 nhánh của động mạch vị trái.

– Tĩnh mạch vị phải kèm theo các động mạch và đổ vào tĩnh mạch cửa.

– Bó mạch vị trái

– Theo cấu tạo động mạch vị trái xuất phát từ động mạch thân tạng, đội lên một nếp phúc mạc thành nếp vị tụy trái đến bờ cong nhỏ, ở 1/3 trên chia thành 2 nhánh: trước và sau, bó sát thành bờ cong nhỏ để xuống nối với 2 nhánh của động mạch vị phải.

– Đường kính trung bình của động mạch vị trái là 2,5mm, trong một số trường hợp, động mạch vị trái còn cho nhánh đến thuỳ gan trái.

– Tĩnh mạch vị trái phát sinh tâm vị đi kèm theo động mạch và đổ vào các nhánh của tĩnh mạch cửa.

3.2 Vòng mạch bờ cong vị lớn

– Những động mạch vị ngắn

Bao gồm những động mạch vị ngắn phát sinh từ động mạch lách hay một nhánh của nó, chừng 5-6 nhánh qua mạc nối vị lách phân phối cho phần trên bờ cong vị lớn.

– Các động mạch vùng đáy vị và tâm vị Động mạch vùng đáy vị và tâm vị bao gồm:

– Các nhánh thực quản phát sinh từ động mạch vị trái, đi ngược lên phân phối cho mặt trước và sau vùng tâm vị và đáy vị.

– Động mạch sau lách là từ động mạch lách đi trong dây chằng vị hoành phân phối cho đáy vị và mặt sau thực quản.

-Động mạch hoành dưới trái cho nhánh đến mặt sau tâm vị.

Tất cả các động mạch tạo thành một mạng lưới thông nối ở 2 mặt dạ dày, đặc biệt là trong niêm mạc có sự thông nối động tĩnh mạch.

Dạ dày được chi phối bởi 2 thân thần kinh lang thang trước và sau thuộc hệ giao cảm và những sợi thần kinh từ đám rối tạng thuộc hệ giao cảm.

Theo Benhduongtieuhoa

Bạn đang đọc nội dung bài viết Dạ Dày Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng, Bệnh Lý Dạ Dày / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!