Đề Xuất 12/2022 # Cổng Du Lịch Tỉnh Lào Cai / 2023 # Top 13 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Cổng Thông Tin Du Lịch Tỉnh Lào Cai / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cổng Du Lịch Tỉnh Lào Cai / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(12/9/2018) Những lợi ích của việc đi du lịch theo Tour

Đối với những người yêu thích du lịch, yêu thích việc khám phá những vùng đất mới thì việc tìm kiếm một phương thức tiện lợi, hiệu quả và giảm thiểu chi phí là vô cùng quan trọng. Hình thức đi du lịch theo tour sẽ đáp ứng được những yêu cầu đó của bạn.

1. Bạn sẽ có chuyến đi được tổ chức một cách chuyên nghiệp Khi bạn đi du lịch một mình bạn sẽ phải tự mình tìm kiếm các dịch vụ cần thiết cho chuyến đi của mình như ăn, uống, giải trí… và bạn phải tự mình tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi, những thắc mắc của mình trong chuyến đi đó. Những chương trình du lịch theo tour sẽ mang lại cho bạn những trải nghiệm mới lạ, độc đáo và tiết kiệm mọi chi phí phát sinh vì hướng dẫn viên sẽ là người giúp bạn tổ chức mọi hoạt động với các dịch vụ hợp lý, hiệu quả và luôn sẵn sàng giải thích, trả lời những câu hỏi hay thắc mắc của bạn trong hành trình đó. Đây là một trong những lợi ích tuyệt vời nhất mà bạn sẽ có được, đặc biệt khi bạn chọn cho mình chuyến đi ở một đât nước khác với một ngôn ngữ mới.2. Bạn sẽ có ngay những người bạn mới Bạn có cơ hội được gặp gỡ với nhiều người ở mọi miền tổ quốc hoặc nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, cũng nhau tham gia trong môi trường du lịch có cùng ý tưởng khám phá và mong muốn được trải nghiệm nên việc kết bạn hay tiếp cận nhau trở nên dễ dàng hơn.

3. Được trải nghiệm những giá trị tốt nhất của điểm đến. Cho dù bạn sử dụng dịch vụ của bất kỳ công ty nào thì họ cũng mất nhiều thời gian nghiên cứu, xây dựng các chương trình du lịch hợp lý, hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng khách. Điều đặc biệt các công ty du lịch lữ hành luôn mong muốn được làm thỏa mãn nhu cầu của các bạn là được khám phá, được trải nghiệm, được hưởng các dịch vụ du lịch chất lượng tại điểm đến.4. Một chuyến đi an toàn Trong các chương trình tour của bạn thì người hướng dẫn viên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề hay các sự cố phát sinh trong chuyến đi và họ là những người được đào tạo và có những kinh nghiệm cần thiết trong việc xử lý các tình huống phát sinh nếu có.5. Một cách tuyệt vời để tổ chức các chương trình du lịch nhóm Nếu bạn muốn đi du lịch với gia đình hay với vài người bạn của mình mà gặp bất lợi cho việc tổ chức chuyến du lịch hoặc các chương trình tham quan thì đây là sự lựa chọn thông minh và giảm chi phí cho chuyến đi của mình, mà bạn vẫn được sử dụng dịch vụ tốt nhất, thời gian phù hợp nhất cho những trải nghiệm và tận hưởng tuyệt vời tại điểm đến.6. Mang lại sự yên tâm cho gia đình và người thân Với sự lo lắng của gia đình khi bạn đi ra ngoài thế giới rộng lớn một mình, thì việc tham gia các tour du lịch sẽ mang lại cảm giác an toàn với chất lượng và đảm bảo được liên lạc thường xuyên về sự an toàn của bạn cho dù bạn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.7. Tiết kiệm Việc tham gia các tour du lịch bạn luôn được hưởng dịch vụ ưu đãi giảm giá dành cho các công ty lữ hành như: Chi phí tham quan hay các dịch vụ ăn, nghỉ, vì các đơn vị tổ chức tour luôn được bên cung cấp dịch vụ du lịch ưu tiên giảm giá, khuyến mại theo chương trình.8. Được xem những thứ độc đáo và đặc biệt Trên thực tế bạn sẽ không có cơ hội tiếp cận những địa điểm nhạy cảm và độc đáo nếu như bạn đi du lịch một mình. Việc đi du lịch theo tour sẽ mang lại những cơ hội được trải nghiệm sự độc đáo, những chương trình đặc biệt nơi đến, giao lưu khám phá bản sắc văn hóa với người địa phương, những dân tộc thiểu số mà các đơn vị lữ hành đã lựa chọn tại điểm đến cho du khách.9. Có người giúp bạn để có những bức ảnh tuyệt vời Bạn sẽ có được những bức ảnh ưng ý khi có sự giúp đỡ cần thiết của những người trong nhóm. Hãy thử và tận hưởng những điều tuyệt vời của việc đi du lịch theo tour nhé!

Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Page Content

I. Tọa độ địa lý.

Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa

            Thanh Hoá là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ có toạ độ địa lý:

            – Điểm cực Bắc: 20040’B (tại xã Tam Chung – huyện Quan Hoá)

            – Điểm cực Nam: 19018’B (tại xã Hải Thượng – Tĩnh Gia)

            – Điểm cực Đông: 106004’Đ (tại xã Nga Điền – Nga Sơn)

            – Điểm cực Tây: 104022’Đ (tại chân núi Pu Lang – huyện Quan Hóa)

            Thanh Hoá có lãnh thổ rộng lớn: 11.129,48 km2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Về vị trí địa lý, Thanh Hóa tiếp giáp với các tỉnh và nước bạn như sau:

            – Phía Bắc: giáp 3 tỉnh, gồm: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình với đường ranh giới dài 175km.

            – Phía Nam : giáp Nghệ An với đường ranh giới dài 160 km

            – Phía Đông: giáp biển Đông với chiều dài đường bờ biển 102 km.

            – Phía Tây: giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào với đường biên giới dài 192km.

            Thanh hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta. Trong lịch sử nơi đây từng là căn cứ địa vững chắc chống ngoại xâm, là kho nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến.

            Tỉnh Thanh Hoá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với 102 km đường bờ biển ở đây có thể phát triển hoạt động du lịch, khai thác cảng biển; có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt xuyên Việt và sân bay Thọ Xuân. Thêm vào đó, Thanh Hóa có quy mô diện tích lớn với nhiều vùng sinh thái khác nhau.

Đặc điểm về vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Thanh Hóa.

II. Địa chất.

            Các chấn động uốn nếp làm nảy sinh hiện tượng tạo sơn mãnh liệt. Đoạn uốn nếp Tam Điệp là mốc kết thúc giai đoạn “biển tiến” tạo ra bán đảo Đông Dương. Do vận động địa chất lãnh thổ Thanh Hoá nâng lên thành núi, đồi uốn nếp, xếp nếp, chia khối phân tầng… phức tạp và đa dạng. Trải qua 120 triệu năm chịu ảnh hưởng của chấn động tạo sơn Himalaya, lục địa Thanh Hoá có hiện tượng nâng lên, lún xuống và tiếp tục bị phong hoá. Kết quả là một số núi biến thành đồi, một số vùng biển được lấp đi thành châu thổ phì nhiêu như hiện nay. Cũng do hiện tượng nâng lên lún xuống, mắc ma trào lên mặt đất và đáy biển hình thành nên những loại đá quý, những dãy núi granit.

III. Địa hình  

Đặc điểm chung:

Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, chia cắt nhiều và thấp dần theo hướng Tây – Đông. Từ phía Tây sang phía Đông có các dải địa hình núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Trong tổng diện tích 11.129,48 km2 thì địa hình núi, trung du chiếm 73,3% ; đồng bằng 16% và vùng ven biển 10,7%.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển của địa hình.

Địa hình núi trung du gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn ở phía Nam. Đó là dải địa hình nằm ở rìa ngoài của miền Tây Nam Bắc Bộ đang được nâng lên, tiếp giáp với miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ. Đây là những khu vực núi thấp uốn nếp được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau, từ các đá trầm tích (đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (riolit, bazan), đá xâm nhập (granit), đá biến chất (đá hoa). Chúng nằm xen kẽ với nhau, có khi lồng vào nhau và điều đó làm cho phong cảnh thay đổi không ngừng.

Địa hình đồng bằng được hình thành bởi sự bồi tụ của các hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên.

Còn dải địa hình ven biển như sau: với các đảo đá vôi rải rác ngoài vụng biển, dòng phù sa ven bờ được đưa ra từ các cửa sông đã tạo nên những trầm tích dưới dạng mũi tên cát cô lập dần những khoảng biển ở phía trong và biến chúng thành những đầm nước mặn. Những đầm này về sau bị phù sa sông lấp dần, còn những mũi tên cát thì ngày càng phát triển rộng thêm, nối những cồn cát duyên hải thành những chuỗi dài chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dạng xoè nan quạt.

Các khu vực địa hình.

Bao gồm  có 3 dạng địa hình: núi và trung du; đồng bằng ven biển.

 - Địa hình núi có độ cao trung bình 600 -700m, độ dốc trên 250; ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1560 m) ở hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1291m) ở tả ngạn sông Chu.

– Địa hình trung du có độ cao trung bình 150 – 200m, độ dốc 12 – 200, chủ yếu là các dạng đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải. Dạng địa hình này rất đặc biệt, chỉ nhấp nhô lượn sóng và rất thoải.

       Dạng địa hình núi và trung du phân bố ở 11 huyện miền núi của tỉnh; là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nông – lâm nghiệp với các loại cây lâm sản và các cây như đậu, chè, lạc, mía… các cây trồng nói trên là cơ sở để phát triển ngành chế biến nông – lâm  sản của Thanh Hoá.

– Đồng bằng châu thổ Thanh Hoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở mé Đông Nam. Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu, cao từ 2 – 15m. Trên đồng bằng nhô lên một số đồi núi có độ cao trung bình 200 – 300m được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau. Còn vùng ven biển phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã: Sầm Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Trên địa hình này có các vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Mã, sông Yên… Vùng đất cát ven biển nằm ở phía trong các bãi cát, có độ cao trung bình từ 3 – 6m, ở phía Nam Tĩnh Gia, chúng có dạng sống trâu do các dãy đồi kéo dài ra biển. Bờ biển của đồng bằng Thanh Hoá là bờ biển phẳng với thềm lục địa tương đối nông và rộng. Trên địa hình ven biển này có nhiều bãi tắm nổi tiếng, như: Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Về địa hình của Thanh Hoá rất phong phú, đa dạng; là điều kiện để Thanh Hoá phát triển các ngành nông – lâm – ngư nghiệp toàn diện và cho phép chuyển dịch cơ cấu dễ dàng trong nội bộ từng ngành. Nhiều cảnh quan đẹp kết hợp giữa rừng – biển – đồng bằng là điều kiện để phát triển du lịch, dịch vụ. Độ cao chênh lệch giữa các vùng miền núi, trung du, đồng bằng với nhiều hệ thống sông suối, tạo ra tiềm năng thuỷ điện khá phong phú…

IV. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN.

1. Tài nguyên đất.

            Thanh Hóa có 14 nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau, đặc điểm các nhóm đất chính được giới thiệu trong bảng sau:

CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH CỦA THANH HÓA

Ký hiệu

Nhóm đất

Diện tích (ha)

Phân bố

1

2

3

4

E

Đất Feralit xói mòn trơ sỏi đá, phát triển trên các đá sa thạch, gnai

Thích hợp với các cây trồng lâm nghiệp lá nhọn, nhu cầu dinh dưỡng không cao

19.998

Phân bố rải rác ở nhiều nơi có địa hình vùng đồi ở Ngọc Lặc, Thường Xuân, Thạch Thành, Bỉm Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Quảng Xương, Hoằng Hóa

Fh

Đất mùn vàng đỏ trên núi

Thích hợp với cây lâm nghiệp và rừng tự nhiên

86.720

Phân bố trên núi cao 800m, như ở Quan Hóa, Lang Chánh, Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước, Quan Sơn, Mường Lát

Fa

Đất vàng nhạt trên đá macma axit

Thích hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp

136.737

Phân bố ở Quan Hóa, Tây Bắc Lang Chánh, Thường Xuân

Fs

Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau: macma bazơ, trung tính, axit, trầm tích, biến chất…

Thích hợp với cây lâm nghiệp, cây công nghiệp

335.537

Phân bố ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Bá Thước, Như Xuân, Như Thanh

Fk

Đất nâu đỏ phát triển trên đá macma bazơ và trung tính

Thích hợp với cây công nghiệp

44.268

Phân bố rộng rãi ở nhiều vùng thuộc các huyện vùng núi

Fp

Đất vàng nhạt trên phù sa cổ

Thích hợp với cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày

16.696

Phân bố rộng rãi ở nhiều vùng thuộc Nông Cống, Tĩnh Gia, Như Thanh

Fq

Đất vàng nhạt trên đá cát Thích hợp với cây lâm nghiệp

89.893

Phân bố rộng rãi ở nhiều vùng cát kết cổ thuộc Nông Cống, Tĩnh Gia, Như Thanh

Fj

Đất đỏ vàng trên đá biến chất

Thích hợp với cây lâm nghiệp, cây công nghiệp đặc thù

1.525

Phân bố ở huyện Như Xuân

Rr

Đất đen

Thích hợp với cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày

3.830

Tập trung nhiều ở vùng núi Nưa

Li,Ly

Đất lầy, than bùn

Thích hợp cho việc phát triển đồng cỏ

10.959

Phân bố trên các địa hình trũng khó thoát nước ở các huyện trung du miền núi Như Xuân, Bá Thước, Quan Hóa, Thạch Thành, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy

Ba

Đất bạc màu phát triển trên đá sản phẩm dộc tụ và trên phù sa cổ

Thích hợp với cây họ đậu và lúa một vụ

26.538

Phân bố trên các địa hình bằng phẳng có nguồn gốc đồng bằng cổ có độ cao tuyệt đối cao hơn các đồng bằng phù sa

P

Đất phù sa: Bao gồm loại được bồi hàng năm và loại không được bồi hàng năm, đất phù sa glây và phù sa úng nước vào mùa hè

Thích hợp cho cây lúa

141.275

Tập trung chủ yếu ở đồng bằng, một phần ở ven biển và trung du miền núi thuộc các huyện: Triệu Sơn, Thọ Xuân, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nga Sơn, Cẩm Thủy

M

Đất mặn

Thích hợp trồng cói, nuôi thủy sản và làm muối

12.004

Tập trung ở 6 huyện, thị xã ven biển và khoảng 650ha ở huyện Nông Cống

Cc

Đất cát bãi, cát biển (trồng rau quả, cây công nghiệp ngắn ngày)

Thích hợp với cây công nghiệp ngắn ngày, rau màu

15.961

Tập trung ở 6 huyện, thị xã ven biển

Tổng

1.112.033

Nguồn: Theo số liệu điều tra của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

              Địa chí Thanh Hóa, tập 1 và có điều chỉnh với số liệu chung

2. Tài nguyên khí hậu

            Do sự tác động của các nhân tố: vĩ độ địa lý, quy mô lãnh thổ, vị trí trong hệ thống hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung – Ấn, hướng sơn văn, độ cao và vịnh Bắc Bộ mà Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa hè nóng, mưa nhiều có gió Tây khô nóng; mùa đông lạnh ít mưa có sương giá, sương muối lại có gió mùa Đông Bắc theo xu hướng giảm dần từ biển vào đất liền, từ Bắc xuống Nam. Đôi khi có hiện tượng dông, sương mù, sương muối làm ảnh hưởng không nhỏ tới cây trồng nông nghiệp.

            Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 – 230C, song phân hóa rất khác nhau theo từng tháng và giữa các vùng. Chênh lệch về cực trị của nhiệt độ trong năm cũng rất lớn: mùa hè, nhiệt độ tối cao có thể đạt tới 410C, song về mùa đông, nhiệt độ có thể hạ thấp xuống dưới 20C ở vùng núi, kèm theo sương giá, sương muối.

            Lượng mưa trung bình phổ biến là 1.700mm, song có một số vùng đồi núi, lượng mưa lại rất cao. Ở vùng đồi núi, tốc độ gió tương đối đều trong năm, dao động trung bình từ 1 – 2m/s. Còn ở vùng đồng bằng ven biển, tốc độ gió có thể có sự chênh lệch ở các huyện ven biển vào mùa bão lụt từ tháng 6 đến tháng 11. Do sự chi phối của địa hình và những tương tác với các vùng lân cận mà Thanh Hoá có sự phân dị về khí hậu theo vùng, với 3 vùng khí hậu đặc trưng:

            – Vùng đồng bằng, ven biển: có nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, ít xảy ra sương muối, mùa hè nóng vừa phải. Mưa ở mức trung bình và có xu hướng tăng dần từ phía Bắc vào phía Nam. Lượng mưa lớn nhất vào tháng 9 và ít nhất vào các tháng 2, 3. Mưa phùn vào các tháng cuối mùa lạnh (1, 2 và 3), đôi khi kéo dài hàng tuần lễ. Có hai thời kỳ khô ngắn và không ổn định vào đầu hè (tháng 5 và 6) và vào các tháng 10, 11. Từ tháng 7 đến tháng 11, có nhiều cơn bão xuất hiện và có thể gây ảnh hưởng lớn đến các huyện ven biển của tỉnh. Thiên tai thường xảy ra là bão, nước dâng trong bão, mưa lớn gây úng, lụt, lũ tập trung vào tháng 9 hàng năm. Hạn và rét đậm kéo dài vào thời gian từ tháng 12 đến tháng 2. Ngoài ra, lốc, vòi rồng, mưa đá có thể xảy ra ở vùng này với tần suất thấp.

            – Vùng trung du: có nhiệt độ cao vừa phải, mùa đông tương đối lạnh, có sương muối nhưng ít. Mùa hè nóng vừa phải, khu vực phía Nam nóng hơn do ảnh hưởng của gió tây khô nóng. Mưa khá nhiều, đặc biệt ở khu vực Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Thường Xuân (trên 2.000 mm/năm), Hồi Xuân (1.870mm/năm). Độ ẩm lớn, gió không mạnh lắm. Thiên tai chủ yếu là mưa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm kéo dài, lũ đột ngột, kể cả lũ bùn đá, lũ ống và lũ quét. Lượng mưa cao, có khả năng gây lũ ống, lũ quét vào tháng 7 – tháng 8.

            – Vùng đồi núi cao: bao gồm các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, phần Tây Bá Thước, Yên Khương của Lang Chánh, Yên Nhân, Bát Mọt, Xuân Khao của Thường Xuân. Nền nhiệt độ nói chung thấp, mùa đông khá rét, nhiệt độ thấp nhất có thể dưới 00C, sương muối nhiều và một số nơi có sương giá với tần suất 1 ngày/1 năm. Khi có sương giá, sương muối làm cho một số cây ăn quả có thể bị chết hàng loạt. Vào mùa hè, lũ có thể xuất hiện vào thời gian tháng 7 – 8.

            Mùa hè dịu mát, ảnh hưởng của gió tây khô nóng không lớn, biên độ nhiệt năm nhỏ, lượng mưa, số ngày mưa, mùa mưa khác biệt khá nhiều theo các tiểu vùng. Mùa đông ít mưa. Độ ẩm không lớn lắm (trừ khu vực cao trên 800m mới có độ ẩm lớn và mây mù nhiều). Gió nói chung yếu, tốc độ trung bình từ 1,3 – 2m/s.

            Lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp. Với chế độ nhiệt ẩm như vậy, đồng thời do sự phân dị phức tạp về địa hình mà Thanh Hoá có nhiều vùng có chế độ vi khí hậu khác nhau, tạo điều kiện phát triển các cây trồng nhiệt đới và cả các cây trồng á nhiệt đới, tạo nên sự đa dạng của hệ thống cây trồng. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh vùng núi phía Bắc có mùa đông lạnh, khí hậu vùng núi Thanh Hoá cũng thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối, sương giá vào mùa đông, bão, lụt, áp thấp nhiệt đới về mùa mưa và hạn hán về mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Vì vậy, việc lựa chọn cây trồng thích hợp với từng tiểu vùng khí hậu là điều cần thiết.

3. Tài nguyên nước và mạng lưới sông ngòi

3.1. Tài nguyên nước

            Tài nguyên nước của Thanh Hoá khá phong phú. Tổng lượng nước mưa rơi xuống lãnh thổ hàng năm là 19 tỷ mét khối, lượng bốc hơi trung bình là 9 tỷ mét khối, còn lại 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra dòng chảy mặt và 0,3 tỷ mét khối sinh ra dòng chảy ngầm. Hàng năm hệ thống sông đổ ra biển 20 tỷ mét khối nước, trong đó có 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra trên lãnh thổ Thanh Hoá còn lại là nước sinh ra ở Tây Bắc và Lào.

            Modul dòng chảy mặt trung bình 20,4 – 38 lít/s/km2. Vùng đồng bằng biến thiên từ 20 – 30 lít/s/km2, ở miền đồi núi trên 30 lít/s/km2, lớn nhất là tại lưu vực sông Âm: 38 lít/s/km2. Chất lượng nước mặt khá tốt, trừ vùng hạ lưu vào mùa kiệt do chịu ảnh hưởng của thuỷ triều.

            Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2 lít/s/km2 đến 20 lít/s/km2. Khu vực trung lưu sông Mã có modul dòng ngầm trên 20 lít/s/km2. Nhìn chung, chất lượng nước ngầm tốt, trừ một số khu vực ngoại vi thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, nước ở tầng mặt đã bị ô nhiễm. Các khu vực cửa sông, ven biển nước ngầm bị nhiễm mặn.

            – Nước ngầm: Ở Thanh Hoá, nước ngầm khá phong phú cả về trữ lượng và chủng loại bởi chúng xuất hiện ở đầy đủ các loại đất đá: trầm tích, biến chất, macma và phun trào. Thanh Hoá có các loại hình nước dưới đất như sau:

            * Nước lỗ hổng: Tồn tại trong các thành vách núi, được tạo bởi nguồn gốc trầm tích biển, sông biển tuổi holoxen (tầng QIV), phân bố ở các địa hình đồng bằng bằng phẳng, độ cao tuyệt đối từ 7 đến 15 mét, nằm ở độ sâu từ 0 đến 35 mét. Ngoài ra, còn có nước lỗ hổng trong các thành tạo trầm tích có nguồn gốc sông lũ tuổi pleixtoxen (tầng QI-III), tầng này nằm ở dưới hoặc chỉ lộ ra ở một số vùng chân núi. Cả hai tầng chứa nước này đều có khả năng chứa nước kém, với tỷ lưu lượng từ 0,2 đến 11 lít/s.m, có quan hệ thuỷ lực với nước mặt. Độ tổng khoáng hoá dao động từ 0,1-5g/lít, nhiều nơi, tầng nước này bị nhiễm mặn. Vì vậy, khả năng khai thác chỉ đáp ứng các nhu cầu nhỏ trong sinh hoạt và sản xuất.

            * Nước khe nứt: Tồn tại trong các đá cứng nứt nẻ có thành phần khác nhau, phân bố ở các khu vực đồi núi. Nước có chất lượng tốt với độ tổng khoáng hoá < 1mg/lít, song phân bố rất phức tạp phụ thuộc vào cấu trúc địa chất của từng vùng. Hiện nay, việc khảo sát thăm dò các khu vực này còn rất hạn chế.

3.2. Mạng lưới sông suối

            – Các hệ thống sông chính: Thanh Hoá có 5 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Lạch Bạng và sông Chàng.

            + Sông Hoạt: Sông bắt nguồn từ núi Hang Cửa, vùng Yên Thịnh (Hà Trung) có diện tích lưu vực tính đến cầu Chính Đại (cách cửa sông 13km) là 250km2. Sông dài 55km, chảy qua huyện Hà Trung, thị xã Bỉm Sơn và men theo tạo địa giới giữa huyện Nga Sơn và huyện Kim Sơn (Ninh Bình). Do vị trí của sông nằm trong khu vực ít mưa (dưới 1.500mm), lại chảy qua nhiều vùng đá vôi nên dòng chảy mùa kiệt rất nghèo nàn và bị ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều. Vào mùa mưa, do địa hình lòng chảo nên sông tiêu nước chậm và thường xuyên gây úng lũ ở Hà Trung (Hà Bắc, Hà Yên, Hà Giang, Hà Vân) và Nga Sơn.

            + Sông Mã: Đây là hệ thống sông lớn nhất tỉnh. Dòng chính dài 528km, bắt nguồn từ độ cao 800 – 1.000m ở vùng Điện Biên Phủ, sau đó chảy qua Lào (118km) và vào Thanh Hoá ở phía Bắc bản Sóp Sim (Mường Lát). Chiều dài sông Mã ở địa phận Việt Nam là 410km, riêng tỉnh Thanh Hoá 242km. Toàn bộ diện tích lưu vực là 28.106km2, trong đó phần bên nước bạn Lào là 7.913km2, phần Việt Nam là 20.193km2, riêng Thanh Hoá gần 9.000km2. Sông Mã có 89 phụ lưu, các phụ lưu chính trên đất Thanh Hoá gồm suối Sim (40km), suối Quanh (41km), suối Xia (22,5km), sông Luồng (102km), sông Lò (74,5km), Hón Nủa (25km), sông Bưởi (130km), sông Cầu Chày (87,5km), sông Chu (325km). Hệ thống sông Mã có thể cho công suất lý thuyết là 1.890.020Kw, với sản lượng điện là 12,07 tỷ Kw/h. Bình quân trên 1km chiều dài, sông Mã cho 3.578Kw. Hiện đã xây dựng trên hệ thống sông Mã nhà máy thuỷ điện Cửa Đạt có công suất lắp máy 140Mw.

            + Sông Yên. Bắt nguồn từ xã Bình Lương (Như Xuân), ở độ cao 100 – 125m, chảy xuống đồng bằng Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển ở lạch Ghép. Sông dài 94,2km, trong đó gần 50km ở miền đồi núi. Diện tích lưu vực là 1.996km2. Sông Yên có 4 sông nhánh là sông Nhơm (66,9km), sông Hoàng (81km), sông Lý (27,5km) và sông Thị Long (50,4km).

            + Sông Lạch Bạng bắt nguồn từ vùng núi Huôn, xã Phú Lâm (Tĩnh Gia), ở độ cao 100m, chảy qua vùng núi Tĩnh Gia, tới Khoa Trường bắt đầu xuống đồng bằng và đổ ra biển ở cửa Bạng. Sông dài 34,5km, trong đó 18km ở vùng núi. Diện tích lưu vực là 236km2.

            + Sông Chàng. Đây là con sông duy nhất ở tỉnh đổ ra tỉnh khác (Nghệ An). Sông Chàng là một nhánh của sông Hiếu (Nghệ An). Diện tích lưu vực sông ở đoạn Thanh Hoá khoảng 250km2.

4. Tài nguyên sinh vật

4.1. Thực vật: Do nằm ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Himalaya, Hoa Nam, Ấn Độ – Myanmar, Malaysia – Indonesia và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ nhưỡng và địa hình khác nhau, Thanh Hoá có hệ thực vật rất phong phú. Rừng Thanh Hoá tập trung một số loại thảm thực vật tiêu biểu sau:

            – Rừng nhiệt đới ở đai thấp: Các loại rừng này phân bố ở độ cao thường dưới 500m và chiếm diện tích lớn nhất tỉnh. Thành phần loài trong thảm thực vật rất phong phú, các loại cây gỗ chiếm ưu thế là các cây thuộc họ đậu, họ dầu, họ xoan, họ bồ hòn, v.v.. Ở đai thấp, hầu như không có cây hạt trần.

            – Rừng cận nhiệt đới trên núi: Loại rừng phân bố ở độ cao từ 500m tới 1.600m (còn gọi là rừng nhiệt đới trên núi thấp).

            – Rừng trồng: Rừng trồng ở Thanh Hoá đã được chú trọng phát triển từ lâu.

            Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng, thường xanh, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài… Gỗ quý hiếm có lát, pơ mu, trầm hương. Gỗ nhóm II có sa mu, lim xanh, táu, sến. Gỗ nhóm III, IV có vàng tâm, dổi, de, chò chỉ… Các loại thuộc họ tre, nứa có luồng, nứa, vầu, giang, bương, tre. Ngoài ra, còn có mây, song, dược liệu, cánh kiến đỏ…

            – Hệ thống rừng đặc dụng: Theo tiêu chuẩn quốc gia, Thanh Hóa có một số rừng đặc dụng như: Vườn quốc gia Bến En (rộng 16.000ha ở các huyện Như Xuân, Như Thanh), vườn quốc gia Cúc Phương (phần thuộc tỉnh Thanh Hóa gồm các xã Thạch Lâm và Thành Mỹ, huyện Thạch Thành), Khu bảo tồn cây gỗ sến rộng 300ha ở xã Tam Quy, huyện Hà Trung. Khu bảo tồn Pù Luông, Xuân Nha. Ngoài ra, có các khu bảo tồn gen gắn với di tích lịch sử – văn hóa như: khu Lam Kinh (bảo tồn rừng Lim), khu đền Bà Triệu với rừng thông nhựa (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc), khu vườn rừng Hàm Rồng, khu vườn thực vật thị xã Sầm Sơn.

4.2. Động vật: Những kết quả điều tra cho thấy ở Thanh Hoá hệ động vật rừng rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật dưới nước, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư đến, cả động vật tự nhiên lẫn động vật do con người tạo ra, v.v.. Thanh Hoá có một số dạng quần cư động vật chính như: quần cư động vật đồng ruộng đồng bằng và đồi thấp; quần cư động vật ở rừng tre, nứa, vầu, giang; quần cư động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ; quần cư động vật ở rừng gỗ và trảng cây; quần cư động vật nước ngọt…

            Thanh Hoá có nhiều loài động vật đã được ghi vào sách Đỏ, bao gồm:

            – Các loài đang bị tiêu diệt như: nhóm thú voọc mông trắng, voọc vá, voọc đen tuyền, vượn đen bạc má, gấu đen, gấu ngựa, báo mai hoa, hổ, voi, hươu sao, bò tót, sơn dương, trâu rừng; nhóm chim có trĩ, gà lôi; nhóm bò sát, lưỡng cư có rắn hổ mang chúa.

            – Các loài sắp bị tiêu diệt: nhóm thú cu li nhỏ, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc, khỉ đuôi lợn, voọc xám, báo lửa, báo gấm, cheo cheo nam dương, tê tê, sóc bay; về chim có cò chìa, hồng hoàng; về bò sát lưỡng cư có kỳ đà nước, thằn lằn, rắn hổ trâu, rùa híp, rùa núi vàng, giải. Nhóm động vật không xương sống có trai cóc hình tai, cà cuống; về thú có cầy mực, dơi thuỳ frit, sóc bay lông tai; về chim có bồ nông chân xám, choắt chân vàng lớn, mòng biển mỏ đen; về động vật không xương sống có cua Kim Bôi, cua Cúc Phương. Một số loài khác như tắc kè, rắn cạp nong, rắn hổ mang cũng có nhiều song cũng đang bị săn bắt quá mức nên số lượng suy giảm nhanh chóng…

5. Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên Khoáng sản Thanh Hóa

            Thanh Hoá là một trong số ít các tỉnh ở nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng, có những tiền đề địa chất khá thuận lợi cho các quá trình tạo khoáng. Kết quả điều tra đến nay cũng đã cho thấy lãnh thổ Thanh Hoá có nhiều loại hình khoáng sản khác nhau, bao gồm:

            – Kim loại màu và kim loại hiếm: Đã phát hiện thấy 7 mỏ và điểm quặng chì – kẽm, trong đó mỏ Quan Sơn (Tân Trường, huyện Tĩnh Gia) trữ lượng ước tính 121.000 tấn; antimoan có 6 mỏ và điểm quặng phân bố ở Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Quan Hoá với trữ lượng phát hiện được là không lớn, song cần điều tra thêm; niken – coban có lẫn trong quặng crômit Cổ Định, trữ lượng khoảng 137.840 tấn niken và 27.570 tấn coban; quặng đồng có ở Lương Sơn (Thường Xuân), nhưng trữ lượng nhỏ; đồng, thiếc và thiếc – vonfram có trữ lượng nhỏ và phân bố ở Thường Xuân (các mỏ Bù Me, làng Tôm và đồi Tròn). Ngoài ra, còn các quặng molipđen, thuỷ ngân ở rải rác nhiều nơi nhưng trữ lượng nhỏ. Riêng quặng vàng, đã phát hiện thấy nhiều mỏ và điểm khoáng sản vàng ở nhiều nơi thuộc Như Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Quan Hoá, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Bá Thước. Đó là các loại khoáng hoá vàng hoặc vàng gốc thuộc thành hệ thạch anh – vàng – sunfua, đa kim, tồn tại trong các đới dập vỡ, thành mạch riêng của các đá phun trào axit hoặc trong đá vôi. Nhiều điểm mỏ đã được điều tra kỹ như mỏ Ban Công ở Bá Thước trữ lượng cấp C1 đạt 321kg, mỏ Cẩm Quỳ (Cẩm Thủy) trữ lượng cấp C1 đạt 263kg, mỏ Làng Bẹt (Cẩm Thuỷ) trữ lượng cấp C1 đạt 150kg. Ngoài  ra, còn rất nhiều mỏ khác như vàng gốc Cẩm Tân (Cẩm Thủy), vàng gốc làng Nèo, Ban Công (Bá Thước), Eo Khanh, Thạch Cẩm (Thạch Thành), Xuân Chính, Xuân Thắng (Thường Xuân), Thanh Quân (Như Xuân), vàng sa khoáng còn có ở nhiều nơi thuộc huyện Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thủy.

            – Nguyên liệu hoá chất – phân bón: Có secpentin phân bố ở khu vực núi Nưa, là nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất phân lân, với trữ lượng 15 triệu tấn và hiện đang khai thác tại bãi Áng (Nông Cống); quặng photphorit có ở Cao Thịnh (Ngọc Lặc) có trữ lượng 74.698 tấn, Hàm Rồng (thành phố Thanh Hoá) có trữ lượng 24.500 tấn, Cao Thịnh – Yên Lâm có trữ lượng 125.000 tấn; quặng đôlômit ở núi Long (thành phố Thanh Hoá) có trữ lượng 4,7 triệu tấn và đồng Vựa (Nga An, huyện Nga Sơn), có trữ lượng 1 triệu tấn. Ngoài ra, photphorit còn có ở nhiều nơi khác trong tỉnh như ở huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ, Hà Trung. Đôlômit cũng rất phong phú ở Ngọc Long (thành phố Thanh Hoá), Nhân Sơn (huyện Nga Sơn), đây là nguyên liệu trợ dụng cho sản xuất thép, thuỷ tinh ở lò cao. Pyrit cũng có ở nhiều nơi trong tỉnh, là nguyên liệu tốt cho việc sản xuất một số loại hoá chất, hoặc barit là vật liệu cần thiết cho một số ngành sản xuất (như khoan dầu khí, chế tạo cao su…) song trữ lượng còn chưa được đánh giá cụ thể.

            – Nguyên liệu cho sản xuất sành, sứ, thuỷ tinh và vật liệu xây dựng: Có cao lanh với tổng trữ lượng ước tính 5 triệu tấn và phân bố ở bến Đìn, làng Cày (Thường Xuân), làng En (Lang Chánh), Kỳ Tân (Bá Thước), Quyền Cây (Bỉm Sơn); sét trắng có trữ lượng nhỏ và phân bố ở núi Bợm (Tĩnh Gia), Tập Cát (Minh Thọ, Nông Cống); quặng macsalit ở Đồng Khang (Triệu Sơn) khoảng 4,3 triệu tấn, Các Sơn (Tĩnh Gia), Mỹ Tân (Ngọc Lặc); quặng fenspat có ở núi Trường Lệ (Sầm Sơn) và núi Hoằng Trường (Hoằng Hoá); cát thuỷ tinh có trữ lượng hàng chục triệu tấn và phân bố ở Tĩnh Gia; đá, cát, sỏi, sét xây dựng có trữ lượng rất lớn và phân bố khá rộng rãi ở nhiều vùng; quặng puzơlan ở Thăng Long (Nông Cống), trữ lượng 4,7 triệu tấn; cát kết chịu lửa ở núi Bợm (Tĩnh Gia); đá hoa có ở nhiều nơi, đáng chú ý là đá hoa khe Cang, Na Mèo (huyện Quan Sơn), Trung Sơn (huyện Quan Hoá), Định Thành (Yên Định), Yên Duyên (Bỉm Sơn), núi Vức (Đông Sơn); đá vôi làm xi măng trữ lượng trên 370 triệu tấn, chất lượng tốt và phân bố khá rộng rãi.

             - Nhiên liệu: Than bùn có ở tất cả các huyện với tổng trữ lượng 3 triệu tấn; than đá có trữ lượng nhỏ và phân bố ở Cẩm Yên, Cẩm Ngọc, Cẩm Phú, Phúc Mỹ (Cẩm Thuỷ), Tuy Hoá (Đông Sơn), Hà Long (Hà Trung), v.v..

            Ngoài ra, Thanh Hoá còn một số loại khoáng sản khác: thạch anh tinh thể ở Thường Xuân; đá quý như topa, canxedoan, berin ở Thường Xuân; graphit ở Quan Hoá; nước khoáng ở một số điểm thuộc các huyện Thường Xuân, Bá Thước, Lang Chánh và Quan Hoá.

6. Tài nguyên biển và ven biển

Bản đồ tài nguyên biển Thanh Hóa

            Vùng biển Thanh Hoá có diện tích 17.000 – 18.000km2, gấp 1,6 lần diện tích đất liền. Đường bờ biển có dạng cánh cung dài 102km. Bờ biển tương đối phẳng, nhưng bị chia cắt bởi 7 cửa lạch. Các cửa sông đều là những khu vực tự nhiên rất nhạy cảm và có năng suất sinh học cao. Từ Nam Sầm Sơn đến Quảng Xương có inmenhit, trữ lượng 73.500 tấn. Đây là loại nguyên liệu quan trọng để sản xuất que hàn, men sứ. Bờ biển Tĩnh Gia có trữ lượng lớn cát trắng để sản xuất thuỷ tinh. Các bãi triều rộng ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương… là nơi nuôi trồng thuỷ sản. Ven bờ cũng có nhiều đồng muối ở Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia.

            Ven biển Thanh Hoá có đảo hòn Nẹ cao, đảo hòn Mê, cụm đảo Nghi Sơn và hàng loạt đảo nhỏ như: hòn Đót, hòn Miệng, hòn Vạt, hòn Góc, v.v.. Diện tích đảo của tỉnh khoảng 800ha. Về mặt tài nguyên và môi trường, có thể xây dựng các khu bảo tồn biển xung quanh các đảo nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học biển đồng thời cũng là cơ sở cho hoạt động du lịch. Với vị trí của mình các đảo này có vai trò tiền tiêu trong việc bảo vệ đất liền song các đảo này cũng chính là điểm tựa để phát triển kinh tế hướng ra biển.

            Dải ven bờ biển Thanh Hoá có diện tích bãi triều trên 8.000ha (chưa tính bãi triều 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm bồi tăng thêm từ 10 – 50m) là nguồn tài nguyên lớn về nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm sú, tôm he, cua và rong câu… Diện tích nước mặn khoảng trên 5.000ha, phân bố chủ yếu ở vùng đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, cá cam, trai ngọc, tôm hùm dưới hình thức nuôi lồng bè. Ngoài ra với hàng ngàn hecta vùng nước mặn ven bờ, thuận lợi nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, sò, ngán… Đặc biệt là với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, khu kinh tế Nghi Sơn đã và đang được xây dựng (theo Quyết định 102/2006 của Thủ tướng Chính phủ) với nhiều hạng mục công trình lớn như: cảng nước sâu, nhà máy xi măng, sân bay… sẽ mở ra nhiều hướng phát triển mới cho dải ven biển nói riêng cũng như cho cả tỉnh nói chung./.

(Ban Biên tập - Sưu tầm và biên soạn)

Cổng Thông Tin Điện Tử Đảng Bộ Kccq / 2023

Tại Hội nghị Trung ương 11 khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương những người có một trong các khuyết điểm, như bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm…”(2).

Để đạt được “lợi ích nhóm”, người có chức quyền đã lợi dụng sơ hở của các quy định; tạo các mối quan hệ để móc nối kiếm lợi bất chính cho cá nhân, bất chấp nhân phẩm, đạo đức. Vì thế, cần tập trung làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và có những giải pháp đấu tranh ngăn chặn tình trạng này vì sự trong sạch, vững mạnh của bộ máy nhà nước và thanh danh, uy tín của Đảng cầm quyền. Nếu không có giải pháp đột phá thì việc đấu tranh chống các hành vi “chạy chức”, “chạy quyền”; “lợi ích nhóm” và tham nhũng, tiêu cực vẫn chỉ dừng lại ở việc hô hào, hình thức và niềm tin trong nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ càng suy giảm.

Nguyên nhân của “lợi ích nhóm” là do lòng tham, vụ lợi, suy thoái về đạo đức của người có chức quyền và những người “chạy chức”, “chạy quyền”; do những tiêu cực, tham nhũng trong công tác cán bộ ít được đề cập (phải chăng vì nó luôn được coi là khâu “tế nhị, nhạy cảm”?); do cấp ủy chưa chăm lo đến công tác giáo dục tư tưởng chính trị, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng chưa cao…; và đặc biệt là do các nguyên tắc, quy chế, quy định, quy trình về công tác cán bộ còn có nhiều “kẽ hở” dễ bị lợi dụng.

Một số quy định của Đảng, Nhà nước ban hành nhưng chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, nên bị một số cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc cán bộ làm công tác tham mưu về tổ chức, cán bộ lợi dụng để “lách luật”. Ví dụ, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất, kéo dài, chậm được khắc phục là do động cơ cá nhân của người đánh giá “yêu nên tốt, ghét nên xấu” và do thiếu những chuẩn mực pháp lý về đánh giá đối với từng chức danh cán bộ. Hay trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu không rõ ràng nên khi quyết định sai lầm về công tác cán bộ (do “lợi ích nhóm”) thì khó quy trách nhiệm thuộc về ai.

Về nguyên tắc, quyết định về cán bộ thuộc về tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, nhưng trong nhiều trường hợp quyết định này thực chất là của một người hoặc một nhóm người. Tập thể có thẩm quyền do không nắm được thông tin về từng cán bộ (ban thường vụ cấp ủy cấp huyện hoặc cấp tỉnh được phân cấp quản lý quá nhiều cán bộ, khoảng 350 – 400 người) hoặc do không dám bầy tỏ chính kiến trái chiều vì “dĩ hòa, vi quý” hoặc vì sợ bất lợi cho con đường tiến thân của mình nên thường biểu quyết theo người đề xuất (trưởng ban tổ chức và thường trực cấp ủy). Đây là nguyên nhân sâu xa của nạn chạy chức, chạy quyền hiện nay thường được hợp pháp hóa bằng cụm từ “đúng quy trình”, “đúng nguyên tắc”. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”(3).

Không ít các ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp thường đứng ngoài cuộc trong kiểm tra ban thường vụ cấp ủy về công tác cán bộ vì lý do “tế nhị” khi phải kiểm tra người lãnh đạo, quản lý đang có quyền chi phối, quyết định đến sinh mệnh chính trị của mình. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội trong nhiều trường hợp cũng không đủ thông tin và bản lĩnh để phản biện những quyết sách về công tác cán bộ của cấp ủy, thậm chí kể cả việc thực hiện thẩm quyền của mình chủ trì hiệp thương giới thiệu nhân sự cho bầu cử các cơ quan nhà nước. Do vậy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra hay của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội tuy đã được Điều lệ Đảng hay pháp luật của Nhà nước quy định nhưng cũng khó được thực hiện triệt để.

Các cơ quan báo chí trong không ít trường hợp không được thông tin đầy đủ, kịp thời từ các cơ quan có trách nhiệm hay người đứng đầu tổ chức có thẩm quyền mà thường chỉ nhận được những thông tin chung chung, như đã làm “đúng quy trình”, “đúng nguyên tắc”, hay “tại thời điểm khen thưởng, đề bạt thì vẫn chưa phát hiện được khuyết điểm của họ” hoặc “nếu phát hiện được sai phạm sẽ xử lý nghiêm theo pháp luật”,…

2- Để ngăn chặn, đẩy lùi “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ, thời gian tới cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức và ý thức cho toàn Đảng, toàn dân, trước hết là các tổ chức đảng, người đứng đầu, quyết tâm phòng, chống tham nhũng nói chung và phòng, chống tham nhũng trong công tác cán bộ hiện nay nói riêng, làm tròn trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, quy định, quyết định cũng như tổ chức thực hiện đúng công tác tổ chức, cán bộ. Nâng cao nhận thức, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm của cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội trong thực hiện đúng chức năng tham mưu xây dựng, ban hành, tổ chức triển khai các chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước về công tác tổ chức, cán bộ. Đồng thời, thường xuyên quán triệt và thực hiện tốt Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, ” Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp“; Chỉ thị số 33- CT/TW, ngày 3-1-2014, của Bộ Chính trị ” Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản“; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị ” Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh“. Đồng thời, thực hiện nghiêm Quy định số 47, ngày 01-11-2011, của Ban Chấp hành Trung ương, Về những điều đảng viên không được làm.

Các tổ chức đảng rà soát để bổ sung, sửa đổi quy chế làm việc, xác định rõ và phân công cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của tập thể, cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước và mối quan hệ giữa các chủ thể trong công tác cán bộ. Phát huy dân chủ, chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, khắc phục tình trạng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, quyền lực tập trung vào một số ít người, hoặc lợi dụng cơ chế tập thể để hợp pháp hóa chủ trương, quyết định biểu hiện “lợi ích nhóm” của một số ít người, thậm chí của một người.

Vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu là có nên xác định rõ chủ thể ban hành, chủ thể thực hiện và chủ thể kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm ?

“Lợi ích nhóm” có thể xuất hiện ngay từ việc hoạch định và ban hành quyết sách – tham nhũng chính trị. Không có chủ thể ban hành quyết sách nào muốn quyết sách đó gây khó cho mình, tự “trói chân, buộc tay mình”. Vì vậy, không nên có một chủ thể với nhiều “đặc quyền”: vừa ban hành luật chơi, vừa chơi, vừa thổi còi phạt chính mình. Nên chăng, nghiên cứu sâu hơn và có thể thực hiện thí điểm việc phân công trách nhiệm trong Đảng: Đại hội đảng, cấp ủy các cấp ban hành quy định; ban thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy thực hiện quy định đó; ủy ban kiểm tra đảng kiểm tra việc thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phản biện quyết sách, giám sát việc thực thi và cung cấp thông tin cho ủy ban kiểm tra đảng.

Trước mắt, cần quy chế hóa (pháp chế hóa) tất cả các khâu của công tác cán bộ. Tiếp tục hoàn thiện những quy chế đã có về quy hoạch, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ cán bộ, quy chế quy định về kê khai tài sản của cán bộ… Những quy chế đó đòi hỏi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm túc, trước sự giám sát của tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân. Ví dụ, khi tài sản của cán bộ (diện phải kê khai) cả trước, trong và sau khi giữ chức vụ, nếu được công khai ở nơi công tác, nơi cư trú, thậm chí trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị, tổ chức được phân cấp quản lý cán bộ thì chính quần chúng, đảng viên sẽ là những người giám sát tốt nhất, cung cấp thông tin cho Đảng nếu cán bộ kê khai thiếu trung thực. Cơ quan ủy ban kiểm tra có nhiệm vụ xác minh, chất vấn, kết luận nếu có dấu hiệu bất thường về tài sản trong việc đảng viên kê khai tài sản, thu nhập.

Quy chế về công tác cán bộ phải xác định rõ hơn trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu và những thành viên tham gia hay quyết định về cán bộ. Xét về mặt dân chủ, tức là cần có sự tham gia của nhiều chủ thể nhưng quyền quyết định thuộc về tập thể cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn. Nếu giao quyền quyết định thuộc về thủ trưởng cơ quan thì chỉ riêng thủ trưởng chịu trách nhiệm, không đổ lỗi cho tập thể cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng (cho dù cấp ủy cho ý kiến để tham khảo). Có làm như vậy, mới khắc phục được tệ quan liêu, vô trách nhiệm, đổ lỗi khi sai phạm.

Vì vậy, cần tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay ” về thí điểm bí thư cấp ủy lựa chọn, giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ cấp ủy; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo quản lý; thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự theo hướng những người được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định hay thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch trong cơ chế tuyển chọn người có đủ đức và tài.

Ba là, kiểm soát, giám sát chặt chẽ quá trình thực thi, không để người có quyền hạn lợi dụng, “lách luật” trục lợi. Các chế định trong quy định cần rõ ràng, thống nhất và không có ngoại lệ. Tránh những cụm từ “nói chung” hoặc “trừ những trường hợp đặc biệt” trong bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử. Đó cũng có thể là kẽ hở để vận dụng tùy tiện, như “vận dụng” cho trường hợp này nhưng không vận dụng cho trường hợp khác hay cho “nợ” với người này mà không cho “nợ” với người kia – đây chính là mảnh đất tốt để “nhóm lợi ích” khai thác.

Cũng đã xuất hiện tình trạng áp đặt khi vận dụng Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, “… Khi cần thiết, cấp ủy cấp trên có quyền điều động đảng viên từ đảng bộ khác chỉ định tham gia cấp ủy và giữ các chức vụ ủy viên thường vụ, phó bí thư, bí thư cấp ủy, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra”. Đây có thể là kẽ hở để một số cấp ủy dễ dàng sắp xếp người thân hoặc người cùng phe cánh vào vị trí chủ chốt cấp ủy cấp dưới, mặc cho nếu tiến hành bầu cử thì những người này chắc chắn không đủ tín nhiệm để trúng cử.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp trên cần chú trọng, tăng cường, đổi mới phương thức, biện pháp, nội dung kiểm tra, giám sát, kiểm soát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện các quy định về công tác cán bộ. Đặc biệt là phải hết sức coi trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, kể cả cán bộ tham mưu cấp chiến lược về công tác tổ chức, cán bộ.

Tăng thẩm quyền cho ủy ban kiểm tra để họ có đủ quyền trong kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật đối với cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, phòng, chống “lợi ích nhóm”. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, kiểm soát, phát hiện, xử lý, loại bỏ kịp thời những đảng viên tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống, vô trách nhiệm, mất uy tín và trở thành lực cản của sự phát triển. Những trường hợp có dấu hiệu vi phạm, bị tố cáo có vi phạm về “lợi ích nhóm” trong công tác tổ chức, cán bộ phải kịp thời chỉ đạo tổ chức kiểm tra, xem xét, kết luận, xử lý, nghiêm minh. Người có chức, có quyền trong công tác cán bộ sẽ không dám tham nhũng nếu “Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương”(5).

Bốn là, phát huy vai trò giám sát của nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng nhằm ngăn chặn sự hình thành “lợi ích nhóm”, để không còn những “ngoại lệ” trong công tác cán bộ. Sử dụng những công cụ, biện pháp giám sát của cộng đồng, của nhân dân và xã hội để phát hiện những dấu hiệu bất thường, bất minh nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ.

Dân chủ hóa gắn với công khai hóa công tác cán bộ tạo điều kiện cho mọi người dân có thể thực hiện chức năng giám sát vì thực tế quyền lực không được giám sát sẽ gây ra nhiều tiêu cực. Công khai hóa trong công tác cán bộ là việc thông tin rộng rãi các quy định về công tác cán bộ, từ nhu cầu tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đến khen thưởng, kỷ luật cán bộ để mọi người dễ biết, dễ kiểm tra, giám sát. Quy chế dân chủ trong công tác cán bộ cũng cần tạo ra sự cạnh tranh trong cán bộ, chọn đúng người có đức, có tài, tránh tình trạng chạy chức, chạy quyền, đề bạt người thân quen, cánh hẩu,… dẫn đến sử dụng cán bộ không đủ tiêu chuẩn, uy tín thấp, làm việc kém hiệu quả, dân mất niềm tin.

Thực hiện tốt những giải pháp nêu trên không chỉ nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ mà còn góp phần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ mà Đảng đã đề ra trong thời gian tới./.

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011 tr. 174

(2) Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương khóa XI

(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 22 – 23

(4) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 64

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 262

Cổng Thông Tin Điện Tử Sở Y Tế Hà Nội / 2023

Không có “ngưỡng an toàn” khi hút thuốc lá

Hút thuốc lá cho dù chỉ là hút vài điếu mỗi ngày hoặc lâu lâu mới hút một lần cũng đều có hại cho sức khỏe. Như vậy trong hút thuốc lá không có cái gọi là “ngưỡng an toàn” nghĩa là không có một mốc mà hút dưới mốc đó thì an toàn cho sức khỏe.

Tuy nhiên do cơ thể mỗi người mỗi khác nên tác hại của thuốc lá trên mỗi người cũng ở nhiều mức độ khác nhau. Một số người hút thuốc lá bị tác hại do thuốc lá như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính rất sớm, một số người khác xuất hiện bệnh chậm hơn, thậm chí có một số người hút thuốc lá đã 30 – 40 năm rồi mà cũng chưa xuất hiện các bệnh nặng do tác hại của thuốc lá.

Vấn đề là chúng ta không có cách nào để biết được ai là người nhạy cảm với thuốc lá: sẽ sớm bị tác hại do thuốc lá; ai là người ít nhạy cảm với thuốc lá: sẽ chậm bị tác hại do thuốc lá. Cho nên khuyến cáo đưa ra cho tất cả mọi người là cai thuốc lá càng sớm thì càng tốt.

Thuốc lá tẩu – thuốc lào – thuốc lá vấn có an toàn hơn thuốc lá điếu không?

Người hút tẩu hút “nông” hơn nhưng “nhặt” hơn sao cho phần thuốc ở đầu ống không bị tàn đi. Các chất sinh ung trong khói thuốc lá tiếp xúc nhiều, lâu niêm mạc vùng họng và miệng hơn là đi sâu vào trong phổi do vậy gây ung thư vòm hầu và miệng nhiều hơn.

Khói thuốc lào qua nước trước khi vào cơ thể. Hàm lượng hắc ín trong khói thuốc lào thấp hơn trong khói thuốc lá điếu, tuy nhiên do quá trình cháy ở hút thuốc lào xảy ra ở môi trường ít ôxy hơn vì thế lượng oxyde carbon (CO) lại cao hơn dễ gây ngộ độc CO hơn.

Thuốc lá vấn có hàm lượng nicotine và hắc ín nhiều gấp 3 – 6 lần so với thuốc lá điếu công nghiệp có cùng trọng lượng. Như vậy có thể nói thuốc lá vấn độc hại hơn thuốc lá điếu công nghiệp.

Hút xì gà còn nguy hại hơn thuốc lá điếu

Điếu xì gà khác với điếu thuốc lá ở chỗ kích thước lớn hơn và được bọc ở ngoài bằng chính lá của cây thuốc lá chứ không phải bằng giấy như trong điếu thuốc lá. Hút xì gà như vậy còn nguy hiểm hơn hút thuốc lá điếu vì lượng nicotine trong 1 điếu xì gà nhiều gấp 10 lần, amoniac nhiều gấp 20 lần, kim loại cadmium nhiều gấp 10 lần trong 1 điếu thuốc lá. Thuốc lá trong điếu xì gà cũng có nhiều hơn nitrate, là tiền chất của một chất sinh ung thư rất mạnh là N-nitrosamines.

Thuốc lá “nhẹ”, thuốc lá dành cho “nữ” có an toàn hơn thuốc lá điếu không?

Thuốc lá có đầu lọc có an toàn hơn thuốc lá không đầu lọc?

Đối với các chất ở dạng hạt trong khói thuốc lá, đầu lọc chỉ ngăn lại được những hạt có đường kính lớn mà thôi. 100% hạt có đường kính nhỏ và 50% hạt có đường kính trung bình (khỏang 100nm) vẫn đi vào cơ thể thông qua đầu lọc; đối với các chất ở dạng khí trong khói thuốc lá thì đương nhiên đầu lọc không ngăn được, trong khi đó trong số hơn 4.000 chất độc trong khói thuốc lá có đến 3.000 chất là ở trạng thái khí!

Hơn nữa, tương tự như trường hợp hút thuốc lá “nhẹ”, loại dành cho “nữ”, người hút thuốc lá có khuynh hướng tự điều chỉnh một cách vô thức cách thức hút để đạt được nồng độ nicotine như cách hút thông thường, và do đầu lọc tạo thành một kháng lực nên người hút càng dùng lực hút vào mạnh hơn nữa và hậu quả là lượng chất độc thực sự đi vào cơ thể không hề giảm, ngược lại còn tăng hơn.

Đầu lọc vàng đi sau khi hút thuốc lá không có nghĩa là chất độc đã được lọc lại. Thực vậy khi tiếp xúc với không khí, nicotine sẽ biến đổi thành oxyde nicotine có màu vàng. Người hút rít càng nhiều chừng nào thì đầu lọc sẽ càng vàng và lượng nicotine và hắc ín đi vào cơ thể càng nhiều. Màu vàng không chứng tỏ được là đầu lọc phát huy hiệu quả mà chỉ chứng minh được là lượng nicotine, hắc ín cùng các chất độc khác đã qua đầu lọc vào cơ thể càng nhiều mà thôi.

Hồng Vân (Theo báo Sức khỏe và đời sống)

ad syt ad

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cổng Du Lịch Tỉnh Lào Cai / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!