Đề Xuất 2/2023 # Cơ Chế Tác Dụng Của Enzyme # Top 5 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 2/2023 # Cơ Chế Tác Dụng Của Enzyme # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cơ Chế Tác Dụng Của Enzyme mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hầu như tất cả các biến đổi hóa sinh trong tế bào và cơ thể sống đều được xúc tác bởi enzyme ở pH trung tính, nhiệt độ và áp suất bình thường trong khi đa số các chất xúc tác hóa học khác lại chỉ xúc tác ở nhiệt độ và áp suất cao.

Chính nhờ việc tạo được môi trường đặc hiệu (bởi trung tâm hoạt động của enzyme liên kết với cơ chất) có lợi nhất về mật năng lượng để thực hiện phản ứng mà enzyme có được những khả năng đặc biệt đã nêu trên.

Trong phản ứng có sự xúc tác của enzyme, nhờ sự tạo thành phức hợp trung gian enzyme – cơ chất mà cơ chất được hoạt hóa. Khi cơ chất kết hợp vào enzyme, do kết quả của sự cực hóa, sự chuyển dịch của các electron và sự biến dạng của các liên kết tham gia trực tiếp vào phản ứng dẫn tới làm thay đổi động năng cũng như thế năng, kết quả là làm cho phân tử cơ chất trở nên hoạt động hơn, nhờ đó tham gia phản ứng dễ dàng.

Năng lượng hoạt hóa khi có xúc tác enzyme không những nhỏ hơn rất nhiều so với trường hợp không có xúc tác mà cũng nhỏ hơn so với cả trường hợp có chất xúc tác thông thường.

Trong phản ứng phân hủy H­2O2 thành H2O và O2 nếu không có chất xúc tác thì năng lượng hoạt hóa là 18 Kcal/mol, nếu có chất xúc tác là platin thì năng lượng hoạt hóa là 11,7 Kcal/mol, còn nếu có enzyme catalase xúc tác thì năng lượng hoạt hóa chỉ còn 5,5 Kcal/mol.

Nhiều dẫn liệu thực nghiệm đã cho thấy quá trình tạo thành phức hợp enzyme cơ chất và sự biến đổi phức hợp này thành sản phẩm, giải phóng enzyme tự do thường trải qua ba giai đoạn theo sơ đồ sau.

E + S → ES → P + E

[Trong đó E là enzyme, S là cơ chất (Substrate), ES là phức hợp enzyme – cơ chất, P là sản phẩm (Product)

– Giai đoạn thứ nhất: enzyme kết hợp với cơ chất bằng liên kết yếu tạo thành phức hợp enzyme – cơ chất (ES) không bền, phản ứng này xảy ra rất nhanh và đòi hỏi năng lượng hoạt hóa thấp;

– Giai đoạn thứ hai: xảy ra sự biến đổi cơ chất dẫn tới sự kéo căng và phá vỡ các liên kết đồng hóa trị tham gia phản ứng.

– Giai đoạn thứ ba: tạo thành sản phẩm, còn enzyme được giải phóng ra dưới dạng tự do.

Các loại liên kết chủ yếu được tạo thành giữa E và S trong phức hợp ES là: tương tác tĩnh điện, liên kết hydrogen, tương tác Van der Waals. Mỗi loại liên kết đòi hỏi những điều kiện khác nhau và chịu ảnh hưởng khác nhau khi có nước.

Carboxypeptidase A (EC 3.4.17.1) thuộc nhóm peptidhydrolase, xúc tác cho sự thủy phân liên kết peptid, phản ứng xảy ra với vận tốc lớn nếu amino acid đầu C là amino acid thơm. enzyme này cũng thủy phân liên kết este.

Carboxypeptidase A có khối lượng phân tử 34,3. KDa chứa 1 mol Zn/1 mol E. Zn tham gia trong hoạt động xúc tác của enzyme. Khi thay thế Zn bằng các kim loại hóa trị hai khác làm thay đổi hoạt độ và có thể cả tính đặc hiệu của enzyme. Trong phân tử enzyme, Zn ở gần bề mặt phân tử, tương tác với gốc His – 69, His – 196 và Glu – 72.

Các gốc amino acid có vai trò xúc tác trong trung tâm hoạt động của enzyme là: Arg – 145, Tyr – 248 và Glu – 270.

Cơ chế phản ứng xúc tác của Carboxypeptidase A được xác định trên cơ sở kết quả nghiên cứu phản ứng của nó với dipeptid glycyltyrosine. Quá trình phân giải liên kết peptid có thể được phân thành các bước sau:

– Tạo thành phức ES: Khi tiếp xúc với cơ chất, các nhóm trong trung tâm hoạt động của enzyme thay đổi vị trí trong không gian. Nhóm guanidin của Arg – 145 cũng như nhóm carboxyl của Glu – 270 dịch chuyển 2Å, nhóm hydroxyl của Tyr – 248 dịch chuyển 12Å từ chỗ gần trên bề mặt phân tử chuyền vào trong đến vùng gần với liên kết peptid của cơ chất.

Tương tác giữa các nhóm chức của trung tâm hoạt động với glycyltyrosine như sau: (Hình 1)

Sơ đồ biểu diễn tương tác giữa glycyltyrosine với các nhóm chức năng trong trung tâm hoạt động của carboxypeptidase A (cơ chất viết nét đậm)

– Nhóm carboxyl tự do của cơ chất kết hợp với nhóm tích điện dương của Arg – 145 của enzyme qua liên kết ion.

– Nhóm NH trong liên kết peptide của cơ chất tạo thành liên kết hydrogen với nhóm – OH của Tyr – 248.

– Oxy trong nhóm – CO – của liên kết peptide tương tác với Zn, còn carbon trong nhóm – CO – này tương tác với nhóm carboxyl của Glu – 270 qua phân tử nước.

– Cắt đứt liên kết giải phóng sản phẩm.

Nguyên tử Zn phân cực liên kết – CO, tăng tính ái điện tử của nguyên tử carbon, do đó làm tăng tương tác của nó với nước hoặc với nhóm ái nhân của phân tử protein enzyme.

Gốc Glu – 270 hoạt hóa phân tử nước, nhóm – OH được tạo thành tấn công trực tiếp vào nguyên tử cacbon của – CO – (trong liên kết peptide của cơ chất), liên kết peptid bị kéo căng ra và bị đứt. Gốc Tyr – 248 nhường hydrogen cho nhóm NH trong liên kết peptiê cho cơ chất, giải phóng sản phẩm đầu tiên là tyrosine của cơ chất và acyl – enzyme (hình 6.2).

Cơ chế phản ứng xúc tác của carpoxypeptidase A

Sau khi liên kết peptide bị cắt đứt, trạng thái ion hóa của các nhóm acid và base bị biến đổi tương ứng với pH môi trường, Tyr – 248 kết hợp với proton, trở về trạng thái ban đầu.

Enzyme Và Cơ Chế Hoạt Động Thần Kỳ Trong Cơ Thể

Bạn có biết rằng enzyme đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của chúng ta? Khi nguồn enzyme trong cơ thể cạn kiệt cũng là lúc sự sống kết thúc (chết). Vậy, enzyme là gì và tại sao lại quan trọng đến thế?

1. ENZYME LA GÌ?

Enzyme (còn được gọi thông thường là men) là tên gọi chung cho các chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein, được tạo thành từ các tế bào sinh vật. Trong cơ thể con người, động vật và cả thực vật, hay bất cứ nơi nào tồn tại sự sống thì đều tồn tại enzyme.

Enzyme tham gia vào tất cả các hoạt động thiết yếu để duy trì sự sống như tổng hợp, phân giải, vận chuyển chất, đào thải độc, cung cấp năng lượng….

Cơ thể người có thể tạo ra hai loại enzyme chính là loại enzyme tiêu hóa và enzyme chuyển hóa. Các loại enzyme tiêu hóa hóa được tiết ra trong tuyến nước bọt, dạ dày, tuyến tụy và ruột non giúp cơ thể tiêu hóa thực phẩm. Trong khi đó, các loại enzyme chuyển hóa lại được sản sinh trong các tế bào, giúp cơ thể tổng hợp năng lượng và sử dụng năng lượng. Những năng lượng này có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tố giúp con người có khả năng hít thở, suy nghĩ, di chuyển…

Đa số enzyme có dạng hình cầu (dạng hạt), khối lượng phân tử lớn có thể thay đổi rất rộng từ 12.000 dalton đến 1.000.000 dalton hoặc lớn hơn.

Enzyme tan trong nước và khi tan sẽ tạo ra thành dung dịch keo. Enzyme cũng tan trong dung dịch muối loãng, glycerin và các dung môi hữu cơ có cực khác. Enzyme không bền vầ rất dễ bị biến tính dưới tác dụng của nhiệt độ cao. Khi bị biến tính, enzyme sẽ mất khả năng xúc tác.

Enzyme được chia thành 2 phần: phần protein (còn được gọi là apoenzyme) và phần không phải protein (còn được gọi là coenzyme), trong đó coenzyme trực tiếp tham gia phản ứng xúc tác, giữ vai trò quyết định kiểu phản ứng và enzyme xúc tác và làm tăng độ bền của apoenzyme đối với các yếu tố gây biến tính.

Apoenzyme có tác dụng nâng cao hoạt tính xúc tác của coenzyme và quyết định tính đặc hiệu của enzyme.

– Enzyme có bản chất là protein nên có tất cả thuộc tính lý hóa của protein. Đa số enzyme có dạng hình cầu và không đi qua màng bán thấm do có kích thước lớn.

– Tan trong nước và các dung môi hữu cơ phân cực khác, không tan trong ete và các dung môi không phân cực.

– Không bền dưới tác dụng của nhiệt độ, nhiệt độ cao thì enzyme bị biến tính. Môi trường axít hay bazơ cũng làm enzyme mất khả năng hoạt động.

– Enzyme có tính lưỡng tính: tùy độ pH của môi trường mà tồn tại ở các dạng: cation, anion hay trung hòa điện.

– Enzyme chia làm hai nhóm: enzyme một cấu tử (chỉ chứa protein) và enzyme hai cấu tử (trong phân tử còn có nhóm không phải protein). Trong phân tử enzyme hai cấu tử có hai phần là apoenzym và coenzym.

Ngày nay, enzyme đang được biết tới như là chìa khóa quan trọng để bảo vệ sức khỏe. Các enzyme cần thiết cho việc duy trì sự sống hàng ngày được hình thành ngay trong tế bào của cơ thể sống. Các nhà khoa học đã và đang tiến hành rất nhiều nghiên cứu để tìm hiểu về Enzyme nhưng vẫn còn nhiều điều chưa thể giải đáp. Chỉ biết rằng, bản thân sinh vật luôn tự sản sinh ra rất nhiều enzyme để đáp ứng nhu cầu của cơ thể, nhưng đến nay người ta vẫn chưa giải thích được cơ chế hình thành enzyme trong các tế bào.

Cơ thể con người chúng ta có hơn 5.000 loại enzyme, chúng mang đến 25.000 tác dụng khác nhau. Mọi hoạt động trong cơ thể như tiêu hóa, hấp thụ, thậm chí ngay các cử động chân tay hay suy nghĩ cũng đều được điều khiển bởi enzyme.

Về cơ bản, cơ chế hoạt động của Enzyme trong cơ thể được thể hiện qua công thức sau:

Trong công thức này: E là Enzyme – Đóng vai trò là chất xúc tác; S là cơ chất (Substrate) – Các hoạt chất chịu tác động của Enzyme, ES là phức hợp Enzyme – Cơ chất, P là sản phẩm (Product).

Theo công thức trên, cơ chế hoạt động (xúc tác) của enzyme trải qua 3 giai đoạn:

Hệ tiêu hóa hoạt động được là nhờ sự phối hợp của nhiều cơ quan khác nhau. Các cơ quan này lấy thức ăn và nước uống rồi phân giải thành các chất đơn giản, ví dụ như protein, tinh bột, chất béo và các vitamin, sau đó được được chuyển qua ruột non và đi vào máu và đi nuôi cơ thể. Cả quá trình phân giải này đều cần sự góp mặt của enzyme.

Có 3 loại enzyme tham gia vào quá trình này.

Là những enzyme đóng vai trò chủ yếu trong việc sản sinh ra các tế bào mới và sửa chữa, bảo trì các tế bào, các mô và các cơ quan đã bị hư hại. Tuyến tuỵ là cơ quan chính sản xuất và tiết ra các enzyme chuyển hoá trong cơ thể.

Một trong những chức năng quan trọng nhất của các enzyme chuyển hoá diễn ra trong máu, đó là xử lý các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn, và phân phối đến mọi bộ phận của cơ thể.

Như vậy, enzyme chuyển hoá có 3 nhiệm vụ chính gồm:

– Loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể

– Hỗ trợ sản xuất năng lượng

– Giúp các tế bào, mô cơ quan thực hiện chức năng của chúng một cách chính xác.

Là loại enzyme được tiết ra trong tuyến nước bọt, dạ dày, tuyến tụy và ruột non, làm nhiệm vụ tiêu hoá những thực phẩm được đưa vào cơ thể, bởi vậy chúng giữ vai trò rất quan trọng đối với sức khoẻ của hệ tiêu hoá.

Có loại 3 enzyme được coi là các enzyme tiêu hoá chính và quan trọng nhất cho sức khỏe, đó là:

– Protease: enzyme tiêu hóa protein, đồng thời phá bỏ các mảnh vỡ từ các tế bào ký sinh trùng, nấm, vi khuẩn, virus và màng protein của tế bào ung thư.

– Amylase: enzyme tiêu hóa carbonhydrate. Amylase chủ yếu có trong dịch tụy và nước bọt.

– Lipase: enzyme tiêu hóa chất béo và các vitamin tan trong chất béo. Nó cũng được sử dụng để tiêu hóa omega-3 và omega-6.

Còn được gọi là enzyme hữu cơ, là những enzyme có trong thực phẩm tươi sống được đưa vào cơ thể qua thức ăn, giúp enzyme tiêu hóa phá vỡ thức ăn.

Enzyme thực phẩm thường cần sự kết hợp của các vitamin và khoáng chất và trở thành các coenzyme để đảm bảo cho hoạt động đúng chức năng của chúng.

Cơ thể người theo thời gian dần dần mất khả năng tự sản xuất enzyme, lượng enzyme có sẵn trong cơ thể sụt giảm theo chu kỳ 10 năm và việc hấp thu các enzyme thực phẩm cũng khó khăn hơn.

– Enzyme xúc tác phản ứng sinh hóa trong tế bào. Enzyme trong cơ thể càng nhiều thì các quá trình chuyển hóa diễn ra với tốc độ càng nhanh.

– Tế bào tự điều hòa quá trình chuyển hóa vật chất thông qua điều khiển hoạt tính của enzyme bằng các chất hoạt hóa hay ức chế.

– Ức chế ngược là kiểu điều hòa trong đó sản phẩm của con đường chuyển hóa quay lại tác động như một chất ức chế làm bất hoạt enzyme xúc tác cho phản ứng ở đầu con đường chuyển hóa.

– Mọi hoạt động trong cơ thể chúng ta đều có sự tham gia của enzyme. Do đó, sự thiếu hụt enzyme sẽ khiến chúng ta gặp nhiều vấn đề về sức khỏe.

– Sự thiếu hụt các loại enzyme tiêu hóa sẽ làm giảm hoặc vô hiệu hóa sự phân giải thực phẩm thành những loại đường đơn, các axít amino và các axít béo vốn có nhiệm vụ tạo năng lượng cho cơ thể, do đó nó gây ra sự mệt mỏi, thiếu sức sống.

– Các nhà khoa học Hà Lan đã công bố một bản nghiên cứu được đăng trên chuyên san Medical Hypotheses từ năm 2000, theo đó, sự thiếu hụt enzyme sẽ gây ra các triệu chứng mệt mỏi kinh niên và đề nghị những bệnh nhân bị mắc chứng mệt mỏi kinh niên cần được xét nghiệm, chẩn đoán xem họ có bị thiếu hụt enzyme hay không.

– Ngoài mệt mỏi kinh niên, sự thiếu hụt enzyme còn dẫn đến những hệ lụy khác cho sức khỏe, chẳng hạn như trào ngược dạ dày thực quản, khó tiêu, đầy hơi, táo bón, nhức đầu, các rối loạn về ruột, xơ vữa động mạch, cholesterol cao, yếu cơ và nguy hiểm nhất là sự suy giảm chức năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.

– Enzyme cần có một cơ chất thích hợp để phát huy tối đa hiệu quả của mình. Enzyme cần môi trường có độ axit hay kiềm thích hợp, trong trường hợp enzyme tiết ra trong dạ dày thì môi trường cần có điều kiện pH thấp, và ngược lại, enzyme tiết ra ở ruột non thì môi trường cần có điều kiện pH cao hơn.

– Enzyme được tiết ra ở động vật được gọi là enzyme nội sinh, nhưng khi được bổ sung vào thức ăn thì được gọi là enzyme ngoại sinh, giúp cải thiện quá trình tiêu hóa một cách tự nhiên. Một số enzyme khác thường được cung cấp cho quá trình tiêu hóa của cơ chất mà không được tiêu hóa bởi động vật.

– Các enzyme ngoại sinh cũng là các protein tự nhiên, được sản sinh bằng cách kiểm soát quá trình lên men vi sinh vật. Enzyme ngoại sinh cũng cần một loại cơ chất và môi trường có điều kiện pH thích hợp để phát huy hết tác dụng. Chúng có tác dụng ổn định khi được bảo quản, ổn định trong thức ăn, an toàn cho cả người và vật nuôi.

Giáo sư, bác sĩ Hiromi Shinya (Giáo sư chuyên ngành phẫu thuật Đại học Y Albert Einstein, Trưởng khoa nội soi Bệnh viện Beth Israel) – Tác giả bộ sách nổi tiếng – Nhân tố Enzyme cũng có quan điểm gần giống như trên. Ông gọi các enzyme được hình thành trong cơ thể là các “Enzyme diệu kỳ”. Enzyme diệu kỳ nghĩa là các enzyme nguyên mẫu được sinh ra trong cơ thể, nó có khả năng trở thành bất cứ loại enzyme nào trước khi chuyển hóa thành một loại enzyme thực hiện chức năng chuyên biệt. Giáo sư Hiromi Shinya khẳng định rằng, nếu muốn sống lâu và sống khỏe mạnh thì cách tốt nhất là không tiêu tốn các “Enzyme diệu kỳ”.

Trong cuốn sách Nhân tố Enzyme – Phương thức sống lành mạnh, Giáo sư Hiromi Shinya đã hướng dẫn độc giả cách “tiết kiệm” các enzyme diệu kỳ.Phương pháp ông đưa ra chính là chế độ ăn uống lành mạnh. Ông chỉ ra rằng, ngoài hơn 5.000 enzyme có trong cơ thể, con người chúng ta có thể bổ sung enzyme cho cơ thể thông qua các thực phẩm.

Giáo sư khuyên chúng ta nên lựa chọn một khẩu phần ăn như sau: 85-90% là thực vật (50% là ngũ cốc như gạo, đậu nguyên hạt; 30% là rau xanh và củ; 5-10% là trái cây và hạt), 10-15% là protein động vật (cá, trứng, sữa đậu nành, một lượng giới hạn thịt gia súc và gia cầm). Nên bổ sung thêm các loại trà thảo mộc, tảo biển, men bia, phấn và sáp ong, vitamin và khoáng chất bổ sung. Ông nhấn mạnh, cần sử dụng các thực phẩm tươi sống và mới nhất bởi đó là trạng thái thực phẩm chứa nhiều enzyme nhất.

Theo luận điểm được Giáo sư Hiromi Shinya đưa ra trong cuốn Nhân Tố Enzyme – Thực hành, khi một bộ phận nhất định trong cơ thể tiêu hao một lượng lớn các enzyme chuyên biệt thì tại các bộ phận khác trong cơ thể lại xuất hiện tình trạng thiếu enzyme. Giáo sư Hiromi Shinya cũng chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, trong cơ thể, hoạt động tiêu tốn enzyme nhiều nhất chính là quá trình “giải độc”. Chính vì thế, người nào giải độc càng nhiều thì lại càng tiêu tốn nhiều enzyme. Kết quả là cơ thể sẽ thiếu hụt enzyme để duy trì sức khỏe và dễ mắc bệnh hơn.

Cơ quan thực hiện chức năng giải độc trong cơ thể chính là gan. Khi gan hoạt động hết công suất sẽ cần đến rất nhiều enzyme, khi đó, cơ thể tự động lấy enzyme từ các bộ phận khác để thực hiện chức năng giải độc. Lượng độc tố quá nhiều có thể khiến gan “mệt mỏi” và bị tổn thương. Đó cũng chính là một trong những lý do khiến chúng ta hiểu tại sao nếu gan bị tổn thương hoặc phải làm việc hết công suất thì khiến cơ thể chúng ta cảm thấy mệt mỏi, thiếu sức sống.

Chính thói quen ăn uống hiện đại như nấu quá kỹ, thường xuyên sử dụng các loại thực phẩm chiên rán, đồ ăn nhanh, các thực phẩm có chứa thuốc bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản hay thói quen uống rượu bia, thuốc lá, môi trường sống độc hại, căng thẳng…. chính là các yếu tố khiến gan phải làm việc liên tục và hết công suất để giải độc và đương nhiên sẽ tiêu tốn một lượng enzyme lớn của cơ thể.

Như vậy, có thể nói một cách dễ hiểu rằng, để sống lâu, sống khỏe mạnh chúng ta cần sử dụng “tiết kiệm” các “enzyme diệu kỳ” hay còn gọi là enzyme dự trữ của cơ thể. Để có thể “tiết kiệm” các enzyme dự trữ cần thường xuyên bổ sung các thực phẩm giàu enzyme, hạn chế các thực phẩm chứa các chất độc hại để hạn chế quá trình giải độc. Bên cạnh đó có thể sử dụng các sản phẩm có chứa các enzyme tiêu hóa để hỗ trợ quá trình phân giải và hấp thu, giải độc, giảm bớt gánh nặng cho gan.

Liver Detox là sản phẩm dành cho gan của Olympian Lab – một thương hiệu sở hữu các sản phẩm hàng đầu tại Mỹ và có quy mô hoạt động toàn cầu.

Liver Detox có chứa Tổ hợp enzyme Veg-Panzyme Plus gồm có các enzyme: Protease, Amylase, Cellulase, và Lipase. Các enzyme này thực hiện các phản ứng phân cắt các hợp chất đa phân tử thành các đơn phân tương ứng, giúp tăng cường khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, cải thiện thể trạng cho người dùng. Chính khả năng này cũng giúp hỗ trợ chức năng tiêu hóa, thúc đẩy quá trình chuyển hóa các chất, làm giảm gánh nặng cho gan, giảm thiểu các nguyên nhân gây nên các bệnh về gan.

Tổ hợp enzyme trong Liver Detox cũng giúp cơ thể phải sử dụng ít “enzyme diệu kỳ” nhất, đảm bảo sự hoạt động trơn tru của các bộ phận khác trong cơ thể.

Protease là enzyme tiêu hóa protein, đồng thời cũng là loại enzyme phá bỏ các mảnh vỡ từ các tế bào ký sinh trùng, nấm, vi khuẩn, virus và màng protein của tế bào ung thư.

Ngoài hệ enzyme độc quyền trên, sản phẩm Liver Detox còn có chứa các thành phần chuyên biệt dành cho gan như hoạt chất Silymarin (đạt tiêu chuẩn 80%) được chiết xuất từ cây Kế sữa, cùng các thành phần như rễ cây Bồ công anh, choline và vitamin B6 tạo thành một công thức hoàn hảo, giúp tăng cường chức năng giải độc gan, chống oxy hóa, ngăn ngừa sự phá hủy của các gốc tự do đối với tế bào gan, khôi phục chức năng gan, giúp cơ thể luôn khỏe mạnh.

– Milk thistle extract: 200 mg

– Dandelion Root Extract: 100 mg

– Choline (as choline bitartrate): 50 mg

– Người suy giảm chức năng gan, viêm gan, xơ gan, men gan tăng cao, gan nhiễm mỡ.

– Người uống nhiều bia rượu.

Uống 1 viên/ ngày cùng bữa ăn

XEM THÊM thông tin chi tiết về sản phẩm TẠI ĐÂY LIÊN HỆ HOTLINE 1800 6284 ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN CHI TIẾT

Bác sĩ, Thầy thuốc ưu tú Nguyễn Đình Bách – Cố vấn chuyên môn của chúng tôi

Oxy Hóa Là Gì? Cơ Chế Và Tác Động Của Nó Đối Với Cơ Thể

Bạn đã nghe nhiều đến oxy hóa và chất chống oxy hóa nhưng lại không biết quá trình này diễn ra trong cơ thể như thế nào, có tác động xấu với cơ thể ra….

Bạn đã nghe nhiều đến oxy hóa và chất chống oxy hóa nhưng lại không biết quá trình này diễn ra trong cơ thể như thế nào, có tác động xấu với cơ thể ra sao. Cùng Thế Giới Điện Giải tìm hiểu ngay trong bài viết này. Quá trình chống oxy hóa diễn ra như thế nào?

Trong cơ thể con người luôn tồn tại theo hệ thống cân bằng giữa quá trình tạo ra các gốc tự do (quá trình oxy hóa) và quá trình sản sinh ra các chất chống oxy hóa. Tuy nhiên, trong quá trình trao đổi chất – các tác nhân bên trong (nội sinh) hoặc tác nhân từ bên ngoài (ngoại sinh) như môi trường bị ô nhiễm, chất phóng xạ, tia tử ngoại… làm cho hệ thống cân bằng bị thay đổi, làm gia tăng các gốc tự do và giảm các chất chống oxy hóa dẫn đến việc phá hủy các đại phân tử của tế bào gây ra các loại bệnh tật.

Oxy hóa là quá trình xảy ra phản ứng hóa học, trong đó các electron được chuyển sang chất oxy hóa hình thành nên gốc tự do. Sự gia tăng các gốc tự do trong cơ thể sinh ra các phản ứng dây chuyền phá hủy tế bào.

Theo định nghĩa, gốc tự do có tên tiếng Anh là Free Radical là phân tử với một điện tử độc lập, chưa tạo thành cặp hoặc một số lẻ điện tử. Nguyên tử được xem là phần nhỏ nhất, cơ bản nhất tạo nên vật chất và một nguyên tử gồm một hạt nhân cùng các electron (e-) bay xung quanh theo quỹ đạo giống như các hành tinh bay quanh Mặt trời.

Thông thường, các phân tử bao gồm các nhóm nguyên tử được gắn kết với nhau bởi hoạt động của các cặp electron. Tuy nhiên, trong quá trình phản ứng hóa học, một e- bị kéo ra khỏi chỗ cố hữu của nó khiến phân tử bị mất e- trở thành gốc tự do và có xu hướng đi cướp e- của phân tử khác. Điển hình như các mảnh phân tử (OH, CH 3), phân tử ( NO 2, *NO, CO ), nguyên tử tự do (Cl, Br…) hay ion (O 2).

Các nguyên tử mất điện tử tạo thành gốc tự do

Vào năm 1954, Denham Harman – bác sĩ của trường Đại học Berkeley, California là nhà khoa học gia đầu tiên nhận ra sự hiện hữu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương nguy hiểm cho tế bào, trong khi trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở ngoài cơ thể.

2.2. Cơ chế quá trình oxy hoá

Trong cơ thể con người, phản ứng oxy hoá sẽ tạo nên các gốc tự do. Các gốc tự do chỉ hình thành khi các mối liên kết yếu ớt bị tách rời mà thông thường, các mối liên kết e- không tách rời lẻ loi, không có cặp. Do bị mất điện tử e- nên gốc tự do rất không ổn định, có xu hướng chiếm đoạt điện tử từ các cấu trúc lân cận, tạo ra hàng loạt gốc tự do mới.

Quá trình này diễn ra theo phản ứng dây chuyền từ phân tử này đến phân tử khác gây tổn thương lớn đến màng tế bào, các phân tử protein và ngay cả ADN… làm biến đổi, rối loạn chức năng và làm tổn hại, thậm chí là gây chết tế bào. Gốc tự do thường hoạt động độc lập nên dễ dàng tấn công vào các phân tử tạo ra phân tử mới, gốc mới và gây ra phản ứng dây chuyền:

R* + R1H R*1 + RH R*1 + R2- R R*3 + R1- R2

Khi còn trẻ, cơ thể bạn còn khỏe mạnh, có thể trấn áp được các gốc tự do nhưng khi tuổi cao, bạn dễ bị gốc tự do lấn át, tấn công gây ra nhiều nguy hại gấp nhiều lần so với người trẻ. Ngoài ra, nếu khoogn được kiềm chế và kiểm soát, các gốc tự do còn gây ra nhiều bệnh lý khác nhau như xơ cứng động mạch, ung thư làm giảm trí tuệ, làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng hoặc teo cơ quan bộ phận người cao niên.

Gốc tự do sẽ phá rách màng tế bào khiến chất dinh dưỡng bị thất thoát làm tế bào không thể tăng trưởng dẫn đến chết dần. Gốc tự do tạo ra chất lipofuscin tích tụ dưới da dễ khiến da bị thâm sạm, bị nám hoặc tàn nhang. Nó còn ngăn cản, tiêu hủy sự tổng hợp các phân tử enzyme trong tế bào, chất đạm, đường bột hoặc mỡ. Chưa kể, gốc tự do còn gây đột biến gene ở ADN, ARN hay ở nhiễm sắc thể. Nó làm chất elastin và collagen mấy đi đàn tính dẻo dai khiến da nhăn nheo, nhiều viết nhăn nheo hơn và cơ khớp cứng nhắc.

Theo các nhà nghiên cứu, các gốc tự do hủy hoại tế bào theo diễn tiến từ oxy hóa màng tế bào gây trở ngại trong việc thải chất bã và tiếp nhận thực phẩm, dưỡng khí rồi tấn công các ty lập thể, phá vỡ nguồn cung cấp năng lượng, sau cùng bằng cách oxy hóa, chúng làm suy yếu kích thích tố, enzym khiến cơ thể không thể tăng trưởng được.

Tuy nhiên, bạn có biết rằng không phải gốc tự do nào cũng phá hoại, nhiều loại cũng có ích trong việc cung cấp năng lượng, tạo ra chất màu melanine cần cho thị giác giúp sản xuất prostaglandins có công dụng tăng cường tính miễn dịch, ngừa nhiễm trùng, co bóp thịt, làm dễ dàng cho sự truyền đạt tín hiệu thần kinh, co bóp thịt.

2.3. Nguyên nhân của sự oxy hoá ở cơ thể người

Gốc tự do dễ dàng được tại ra bằng nhiều cách, từ những căng thẳng tinh thần, các bệnh lý trong cơ thể, mệt mỏi do ô nhiễm môi tường, tia phóng xạ, ánh nắng mặt trời, thuốc lá, dược phẩm, thực phẩm có màu tổng hợp, nước có nhiều chlorine và ngay cả oxygen…

Các gốc tự do là guyên nhân gây nên quá trình lão hóa trong cơ thể và nhiều bệnh tật khác

Trong cơ thể con người chứa nhiều loại gốc tự do, trong đó các gốc tự do nguy hiểm hơn cả là hydrogen peroxide, superoxide, ozonelipid peroxy nhất là hydroxyl radical – gốc tự do gây ra nhiều tổn thương. Gốc tự do được xem là “sát thủ giấu mặt” gây ra quá trình lão hóa và phần lớn bệnh tật ở người. Theo thống kê của Y học hiện đại, sự tấn công của gốc tự do gây ra hơn 60 loại bệnh khác nhau như tai biến mạch máo não, sa sút trí tuệ, suy giảm trí nhớ, Alzheimer…

Mỗi ngày mỗi tế bào có nguy cơ hứng chịu khoảng 10.000 gốc tự do tấn công mỗi ngày. Như vậy, trong suốt 70 năm cuộc đời, cơ thể sẽ phải liên tục chống chọi với 17 tấn gốc tự do.

– Gốc tự do có thể gây ra tổn thương cho tất cả các chất liệu và mô trong cơ thể như mô mỡ, đây là nơi bị tổn thương sớm nhất và thường gặp nhất vì đó là loại mô dễ bị oxy hóa. Các chuyên gia thường dùng thuật ngữ “sự peroxide hóa Lipid” để mô tả sự oxy hóa của mỡ trong cơ thể và sự oxy hóa này làm khởi phát chuỗi phản ứng liên tục trên mỡ.

– Gốc tự do gây tổn hại cho các acid nucleic cơ bản như cytosine, thymine, adenine và guanine – đều là những thành phần cơ bản cấu trúc DNA. Những tổn hại này làm cho DNA sao mã không chính xác theo các thông tin sinh học, đồng thời gây biến đổi DNA và hình thành tế bào ung thư.

– Gốc tự do làm tổn thương protein dẫn đến sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể như các protein collagen ở da gây tổn hại da, các enzyme (bản chất là protein) bị tổn thương. Enzyme tổn thương sẽ không hoạt động hiệu quả để xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Tuy nhiên, enzyme này không được sửa chữa phục hồi do nồng độ các gốc tự do cao dẫn đến sự hình thành các bệnh lý và làm cơ thể lão hóa nhanh hơn.

2.5. Một số cơ chế chính mà các gốc tự do có thể sinh ung thư

Gây tổn thương DNA, gây đột biến tế phân tử, tế bào

Kích hoạt gen sinh ung, còn gọi là oncogene

Ức chế hệ miễn dịch cơ thể – bất hoạt hàng rào phòng thủ bảo vệ cơ thể

Kích hoạt các chất sinh ung hoặc tiền sinh ung, khởi động những phản ứng hóa học có thể gây ung thư

Làm tổn thương màng tế bào và bất hoạt cơ chế nhận diện của cơ thể chống lại sự hình thành và phát triển của các tế bào bất thường

Sự oxy hoá gây nên nhiều bệnh cho cơ thể mà nguyên nhân sâu xa từ các gốc tự do. Một số bệnh thường gặp như:

Ở não như bệnh ung thư não, đau nửa đầu, thoái hoá thần kinh, đột quỵ

Ở mắt như bệnh thoái hoá võng mạc, đục thủy tinh thể, thoái hoá điểm vàng

Ở da như lão hoá da, viêm da, vẩy nến

Ở hệ miễn dịch như viêm nhiễm mãn tính, bệnh lupus, viêm đường ruột, các rối loạn tự miễn

Ở tim như xơ hoá cơ tim, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, suy tim, cao huyết áp

Ở các mạch máu như tái hẹp lòng mạch, xơ vữa mạch máu, rối loạn chức năng tế bào nội mô, cao huyết áp

Ở phổi như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, ung thư phổi, hen phế quản, dị ứng

Ở thận như bệnh viêm cầu thận, thải ghép thận, thận mãn tính

Ở khớp như thoái hoá khớp, thấp khớp, viêm khớp vẩy nến

Đa cơ quan như bệnh tiểu đường, lão hoá, các bệnh mạn tính khác…

3. Hợp chất chống oxy hóa mạnh mẽ – Hydro

Tiến sĩ Ohta – bậc thầy trong ngành nghiên cứu phân tử Hydro, đến từ trường Đại học Y – Nippon (Nhật Bản) nới rằng lợi ích của phân tử Hydro đối với cơ thể con người gây tiếng vang không nhỏ và đã được chứng minh trong ngành y. Trong một nghiên cứu mang tính đột phá được công bố vào năm 2007, Tiến sĩ Ohta cho thấy rằng phân tử Hydro trung hòa ngay cả những gốc tự do nguy hiểm nhất (tế bào nhiễm bệnh) mà không hề gây hại cho con người. Điều này mang tới sự ngạc nhiên cho thế giới cùng các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu về Hydro, về tính năng và tác dụng cụ thể mà phân tử mang lại.

Hydro trong nước ion kiềm có tác dụng loại bỏ các gốc tự do và chống oxy hóa hiệu quả

Kết hợp với các gốc oxy và trung hòa chúng ( khi H2 tiếp túc với O2 tạo thành nước)

Làm tăng các enzyme có lợi cho cơ thể và giảm triệt để các gốc oxy hóa

Trên thực tế, Hydro hòa tan trong cả dầu và nước, điều này phù hợp cho cấu tạo cơ thể người khi bên trong là nước và bên ngoài các tế bào là dầu. Vì vậy, với phân tử siêu nhỏ, Hydro đi vào cơ thể một cách dễ dàng. Ngay cả những tế bào bị suy yếu do gốc tự do, Hydro trung hòa triệt để và loại bỏ các gốc tự do gây bệnh hoặc gây lão hóa cho tế bào trong cơ thể người. Đặc biệt, Hydro không chỉ tiêu diệt các gốc tự do hiệu quả mà còn có thể phân biệt gốc tự do có lợi và có hại để loại bỏ chúng.

Như vậy, qua bài viết bạn đã biết oxy hóa là gì, các cơ chế hoạt động và tác động của nó đối với cơ thể rồi phải không. Nếu bạn cần tìm một nguồn nước tốt cho sức khỏe và chứa nhiều chất chống oxy hóa nhưng không biết chọn loại nước nào thì có thể liên hệ hotline 028 777 33 999 hoặc 0909 192 102 để được tư vấn tận tâm. Nguồn: Theo Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. HCM Nước ion kiềm giàu Hydro được tạo ra từ máy điện giải ion kiềm là loại nước tốt cho sức khỏe giúp cơ thể chống lại các gốc tự do

Hydro phân tử có 2 chức năng chính:

Hydro là vật chất có kích thước nhỏ nhất có thể dễ dàng thẩm thấu sâu vào từng tế bào để trung hòa, sửa chữa và làm sạch tế bào giúp tế bào khỏe mạnh hơn, trong khi các chất oxy hóa khác có kích thước quá lớn để có thể làm điều này. Ngoài ra, Hydro có khả năng hòa tan trong cả môi trường nước và dầu giúp nó trở thành phân tử duy nhất có thể xâm nhập được vào các tế bào, chống lại các gốc tự do và thậm chí là hoàn nguyên những tế bào hư hỏng.

Đây còn là chất chống oxy hóa an toàn và bền vững vì một số chất chống oxy hóa khác sau khi trung hòa gốc tự do lại có thể trở thành các gốc tự do vì thiếu điện tích. Tuy nhiên, Hydro khi kết hợp với Oxy trong cơ thể (H 2+O) sẽ tạo thành nước và được đào thải an toàn ra ngoài. Đặc biệt, Hydro chỉ loại bỏ các gốc tự do có hại và thường giữ lại những gốc tự do cần thiết cho cơ thể.

TƯ VẤN NGAY Để nhận giá & ưu đãi tốt nhất, không mua không sao.

Thế Giới Điện Giải có hệ thống showroom hàng đầu Việt Nam, trải rộng khắp cả nước và hơn 30 đại lý nhượng quyền tại Hà Nội, chúng tôi Đà Nẵng và Cần Thơ. Tất cả showroom đều có chỗ đậu xe hơi dành cho Quý Khách hàng và Đối tác:​ 200Bis Lý Chính Thắng, Phường 9, Quận 3, chúng tôi

Mở cửa: 8h – 20h (Thứ 2 – Thứ 7), 8h – 17h30 Chủ Nhật

78 Đường số 20, Khu Him Lam, Phường Tân Hưng, Quận 7, chúng tôi

Mở cửa: 8h – 17h30 (Thứ 2 – Thứ 7)

104 Phổ Quang, Phường 2, Quận Tân Bình, chúng tôi

Mở cửa: 8h – 20h (Thứ 2 – Thứ 7), 8h – 17h30 Chủ Nhật

123 Chu Văn An, Phường 26, Quận Bình Thạnh, chúng tôi

Mở cửa: 8h – 17h30 (Thứ 2 – Thứ 7)

* Miền Bắc – Chi Nhánh Ba Đình:

43 Ngõ 130 Đốc Ngữ, Quận Ba Đình, Hà Nội

Mở cửa: 8h – 17h30 (Thứ 2 – Chủ Nhật)

115 Đường B5, Phường Hưng Phú, Quận Cái Răng, TP. Cần Thơ

Mở cửa: 8h – 17h30 (Thứ 2 – Thứ 7)

Tầng Trệt – Thế Giới Điện Giải Building, 229 Huỳnh Tấn Phát, Quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng

Mở cửa: 8h – 17h30 (Thứ 2 – Chủ Nhật)

[ TRUNG TÂM BẢO HÀNH & DỊCH VỤ SAU BÁN HÀNG ]

* Địa chỉ: Lầu 1,2,3,4 – 123 Chu Văn An, P26, Q. Bình Thạnh, TP HCM

* 30 Đại lý nhượng quyền tại chúng tôi Hà Nội, Cần Thơ và Đà Nẵng: liên hệ tổng đài để biết thêm chi tiết.

Công Nghệ Enzyme Và Ứng Dụng

Việc sử dụng enzyme trong công nghiệp là đa dạng, phong phú và đã đạt được nhiều kết quả to lớn. Thử nhìn thống kê sơ bộ sau đây về các lãnh vực đã dùng protease ta có thể thấy được sự đa dạng: công nghiệp thịt, công nghiệp chế biến cá,công nghiệp chế biến sữa, công nghiệp bánh mì, bánh kẹo, công nghiệp bia, công nghiệp sản xuất sữa khô và bột trứng, công nghiệp hương phẩm và mỹ phẩm, công nghiệp dệt, công nghiệp da, công nghiệp phim ảnh, công nghiệp y học…Với amylase, đã được dùng trong sản xuất bánh mì, công nghiệp bánh kẹo, công nghiệp rượu, sản xuất bia, sản xuất mật,glucose, sản xuất các sản phẩm rau, chế biến thức ăn cho trẻ con, sản xuất các mặt hàng từ quả, sản xuất nước ngọt, công nghiệp dệt, công nghiệp giấy…Trong phạm vi giáo trình này chúng ta chỉ đề cập đến việc ứng dụng chế phẩm enzyme trong một số lãnh vực.

Ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm

Protease với công nghiệp thực phẩm: Việc sử dụng trong chế biến làm mềm thịt là ứng dụng có tính truyền thống. Nhân dân ta từ rất lâu đã dùng thơm để nấu canh thịt bò; dùng rau sống là chuối chát, vả kết hợp thức ăn nhiều thịt; đu đủ trong chống táo bón…mà thực chất là sử dụng papain, bromelain, fixin. Người Nga còn dùng protease từ hạt đậu tương nẫy mầm để làm mềm thịt.

Ngoài khả năng phân giải để làm mềm thịt, tạo thức ăn dễ tiêu hóa, công nghệ sản xuất các loại dịch thủy phân giàu protein đã được áp dụng một cách có hiệu quả tính năng của protease.

Enzyme là một công cụ để chế biến các phế liệu của công nghiệp thực phẩm thành thức ăn cho người và vật nuôi.

Người ta còn khai thác tính đông tụ như của renin, pepsin vào công nghiệp thực phẩm như trong sản xuất phomat.

Pectinase với công nghiệp thực phẩm: Pectinase đã được dùng trong một số ngành công nghiệp thực phẩm sau:

– Sản xuất rượu vang.

– Sản xuất nước quả và nước uống không có rượu.

– Sản xuất các mặt hàng từ quả: quả cô đặc, mứt.

– Sản xuất nước giải khát.

– Sản xuất cà phê.

Chế phẩm pectinase được sử dụng trong sản xuất nước quả từ các nguyên liệu quả nghiền hay để làm trong nước quả ép. Bởi vì khi có pectin thì khối quả nghiền sẽ có trạng thái keo, do đó khi ép dịch quả không thóat ra được. Nhờ pectinase mà nước quả trong suốt, dễ lọc, hiệu suất tăng.

Pectinase còn góp phần chiết rút các chất màu, tanin và các chất hòa tan khác, do đó làm tăng chất lượng của thành phẩm.

Những nghiên cứu khi ép nho có xử lý bằng pectinase không những làm tăng hiệu suất mà còn làm tăng màu sắc.

Trong sản xuất mứt nhừ, mứt đông… nhờ pectinase mà dịch quả có nồng độ đậm đặc hơn.

Cellulase với công nghiệp thực phẩm: Cellulose là thành phần cơ bản của tế bào thực vật, vì vậy nó có mặt trong mọi loại rau quả cũng như trong các nguyên liệu,phế liệu của các ngành trồng trọt và lâm nghiệp. Nhưng người và động vật không có khả năng phân giải cellulose. Nó chỉ có giá trị làm tăng tiêu hóa, nhưng với lượng lớn nó trở nên vô ích hay cản trở tiêu hóa.

Chế phẩm cellulase thường dùng để:

– Tăng chất lượng thực phẩm và thức ăn gia súc.

– Tăng hiệu suất trích ly các chất từ nguyên liệu thực vật.

Ứng dụng trước tiên của cellulase đối với chế biến thực phẩm là dùng nó để tăng độ hấp thu, nâng cao phẩm chất về vị và làm mềm nhiều loại thực phẩm thực vật. Đặc biệt là đối với thức ăn cho trẻ con và nói chung chất lượng thực phẩm được tăng lên.

Một số nước đã dùng cellulase để xử lý các loại rau quả như bắp cải, hành, cà rốt, khoai tây, táo và lương thực như gạo. Người ta còn xử lý cả chè, các loại tảo biển…

Trong sản xuất bia, dưới tác dụng của cellulase hay phức hệ citase trong đó có cellulase, thành tế bào của hạt đại mạch bị phá hủy tạo điều kiện tốt cho tác động của protease và đường hóa.

Trong sản xuất agar-agar, tác dụng của chế phẩm cellulase sẽ làm tăng chất lượng agar-agar hơn so với phương pháp dùng acid để phá vở thành tế bào. Đặt biệt là việc sử dụng chế phẩm cellulase để tận thu các phế liệu thực vật đem thủy phân, dùng làm thức ăn gia súc và công nghệ lên men.

Những ứng dụng của cellulase trong công nghiệp thực phẩm đã có kết quả rất tốt. Tuy nhiên hạn chế lớn nhất là rất khó thu được chế phẩm có cellulase hoạt độ cao.

Amylase với công nghiệp thực phẩm: Chế phẩm amylase đã được dùng phổ biến trong một số lãnh vực của công nghiệp thực phẩm như sản xuất bánh mì, glucose, rượu , bia…

Trong sản xuất bánh mì, chế phẩm amylase đã làm thay đổi hoàn tòan chất lượng của bánh mì cả hương vị, màu sắc, độ xốp…Chế phẩm amylase sạch cho chất lượng bánh mì tốt hơn ở dạng phức hợp với protease.

Trong sản xuất bánh kẹo người ta thường dùng maltose là sản phẩm thủy phân tinh bột bằng amylase và glucose bằng glucoamylase. Chính glucoamylase, là yếu tố làm tăng hiệu suất trong sản xuất rượu.

Trong sản xuất bia, viêc sử dụng amylase có trong các hạt nẩy mầm thay thế malt đã góp phần đáng kể trong việc giảm giá thành.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cơ Chế Tác Dụng Của Enzyme trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!