Đề Xuất 11/2022 # Chèn Ép Thần Kinh Trụ Khuỷu Tay / 2023 # Top 12 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 11/2022 # Chèn Ép Thần Kinh Trụ Khuỷu Tay / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chèn Ép Thần Kinh Trụ Khuỷu Tay / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hội chứng chèn ép dây thần kinh trụ ở khuỷu tay là một trong những chèn ép dây thần kinh ngoại biên thường gặp trong thực hành lâm sàng.

Nguyên nhân là do dây thần kinh trụ bị chèn ép bởi một nhóm mạc (cân) bắt từ mỏm lồi cầu trong của xương cánh tay đến đường giữa của mỏm khuỷu, chèn ép trực tiếp vào dây thần kinh trụ ở khuỷu tay, và các động tác khuỷu lặp đi lặp lại.

Thần kinh trụ chạy ở phía sau trong của khuỷu tay.

Hội chứng này ở khuỷu tay còn được gọi là liệt thần kinh trụ muộn, hội chứng đường hầm thần kinh trụ, và viêm dây thần kinh trụ. Hội chứng chèn ép dây thần kinh này được thể hiện như đau, cảm giác tê từ phía bờ trụ cẳng tay lan xuống đến cổ tay và ngón tay 4,5.

Một số bệnh nhân cũng nhận thấy đau quy chiếu phía trong xương bả vai cùng bên. Không được điều trị hội chứng chèn ép dây thần kinh ở khuỷu tay để lại hệ quả là giảm vận động và cuối cùng là sự co cứng gấp ngón 4,5. Triệu chứng thường bắt đầu sau vận động khuỷu lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc sức ép được lặp lại trên khuỷu tay, chẳng hạn như chống đẩy (Fig 45). Chèn ép trực tiếp đến dây thần kinh trụ trong đường hầm bên trụ có thể dẫn đến kết quả đã được trình bày như trên. Yếu tố thuận lợi của hội chứng này là bệnh tiểu đường và nghiện rượu, có nguy cơ cao cho sự phát triển của hội chứng chèn ép dây thần kinh ngoại biên ở khuỷu tay.

Hầu hết các trường hợp đều không tìm thấy nguyên nhân. Thần kinh trụ dễ bị chèn ép ở khuỷu tay là vì nó phải chạy qua một khu vực rất chật hẹp với rất ít mô bảo vệ.

Khi bạn gấp khuỷu tay, thần kinh trụ sẽ bị căng dãn quanh mỏm xương trên lồi cầu trong. Do điều này gây kích thích thần kinh, nên vận động gấp khuỷu trong thời gian dài hoặc lặp đi lặp lại liên tục có thể sẽ dẫn đến các triệu chứng của bệnh. Chẳng hạn, nhiều người có thói quen gấp khuỷu tay trong lúc ngủ. Điều này có thể làm cho các triệu chứng của chèn ép thần kinh trụ nặng thêm và làm cho bạn thức giấc vì tê tay.

Ở một số người, thần kinh trụ bị trượt từ sau ra trước khi khuỷu gấp. Theo thời gian, sự trượt thần kinh tới trước và ra sau liên tục có thể sẽ gây kích thích thần kinh.

Tựa trên khuỷu tay trong trong thời gian dài cũng có thể gây áp lực lên thần kinh trụ.

Tụ dịch ở vùng khuỷu tay cũng có thể gây chèn ép thần kinh trụ.

Một chấn thương trực tiếp ở phía trong khuỷ tay có thể gây ra đau, cảm giác điện giật và tê ở ngón út và ngón đeo nhẫn.

Ngủ với khuỷu gấp có thể làm cho các triệu chứng nặng thêm.

Khám lâm sàng giúp phát hiện những vị trí đau dọc theo đường đi của thần kinh trụ ở khủyu tay. Dấu hiệu Tinel dương tính khi thần kinh trụ đi nông. Hiện tượng yếu các cơ ở cẳng tay và bàn tay do thần kinh trụ chi phối có thể xác định bằng cách khám trương lực cơ (kiểm tra thủ công), tuy nhiên trong giai đoạn sớm của hội chứng đường hầm thường đau dọc theo đường đi của dây thần kinh và có thể tê bì bờ trụ ngón 5. Tổn thương gây teo cơ có thể thấy khi khám bàn tay.

Bệnh nhân mắc chứng bệnh này thường có dấu hiệu Froment dương tính. Do yếu các cơ gấp ngắn và khép các ngón. Nhiều bệnh nhân cũng dương tính với dấu hiệu Wartenberg, với những bệnh nhân này họ thường phàn nàn rằng ngón 5 hay bị rạn da nên khó đút tay vào túi quần.

>>>Nhận ngay gói ưu đãi Khám + Chữa bệnh giá chỉ 199K (không mất thêm phụ phí)

Những yếu tố làm tăng nguy cơ

Có một số yếu tố có thể làm cho bạn dễ bị “hội chứng chèn ép thần kinh trụ” hơn, bao gồm:

Gãy xương vùng khuỷu hoặc trật khớp khuỷu trước đây.

Thoái hoá khớp khuỷu.

Sưng nề vùng khuỷu.

Nang hoạt dịch vùng khuỷu.

Các hoạt động đòi hỏi phải gấp khuỷu trong thời gian dài hoặc lặp đi lặp lại.

Cách điều trị hiệu quả hội chứng chèn ép thần kinh trụ khuỷu tay

Bệnh lý chèn ép thần kinh trụ khuỷu tay có thể bị nhầm lẫn sang bệnh lý rễ thần kinh cổ. Tuy nhiên, ngoài các triệu dưới khuỷu tay, bệnh nhân mắc bệnh lý rễ thần kinh cổ thường có đau cổ và phần gốc chi trên. Viêm bao hoạt dịch, viêm khớp và bệnh gout cũng có thể có triệu chứng tương tự và gây nhiễu quá trình chuẩn đoán. Vì vậy để tránh bị chuẩn đoán sai dẫn tới điều trị sai cách bạn nên tìm đến các cơ sở y tế uy tín.

SCC từ lâu đã được biết đến với đội ngũ y bác sĩ giỏi được đào tạo trực tiếp từ Hoa Kỳ và các trường đại học hàng đầu Việt Nam. Ngoài ra với bệnh lý này tại SCC chúng tôi sẽ kết hợp các biện pháp điều trị cơ sâu, ATPT, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng để giúp bệnh nhân phục hồi hoàn toàn và lâu dài. Đặc biệt với các vận động viên điều trị bằng phương pháp tại SCC họ có thể chơi thể thao lại bình thường.

Liên hệ 096.369.1010/083.369.1010

Bài Tập Đau Khớp Khuỷu Tay Tràn Dịch / 2023

Đau khớp khuỷu tay là triệu chứng bệnh lý rất phổ biến và thường xảy ra ở nhiều người. Để hiểu hơn tình trạng đau khớp ở khủy tay và những nguyên nhân, cách điều trị hiệu quả. Mời mọi người cùng tìm hiểu bài viết sau đây để hiểu hơn về tình trạng này.

Khuỷu tay là vị trí nối giữa 3 xương đó là xương cánh tay trên, xương quay, xương trụ. Ở mỗi đầu nối giữa 2 xương là một lớp khớp (sụn) giúp chúng liên kết lại với nhau và giảm chấn động.

Nguyên nhân gây đau khớp khuỷu tay

Khớp khuỷu tay giúp cho các hoạt động cánh tay của bạn như ném, nâng, xoay và ôm dễ dàng hơn. Nếu khớp khuỷu tay bị chấn thương hoặc viêm dẫn đến đau khớp khuỷu tay.

Nguyên nhân cơ học

Những nguyên nhân do chấn thương, tác động cơ học dẫn đến đau khớp khủy cánh tay bao gồm:

Trật khớp khuỷu tay. Đây là tình trạng một trong những xương hình thành nên khuỷu tay bị trượt ra khỏi vị trí ban đầu. Điều này xảy ra do ngã bất ngờ chống tay xuống đỡ, tác động bên ngoài dẫn đến gây đau khớp khuỷu tay, giảm phạm vi hoạt động.

Gãy xương khuỷu tay. Đau khớp khuỷu tay có thể xuất hiện khi bạn bị gãy xương ở khuỷu tay. Điều này xảy ra thường là do một cứ ngã bất ngờ, chấn thương khi chơi thể thao, tai nạn giao thông.

Căng cơ và bong gân. Điều này có thể xảy ra khi cánh tay phải chịu một lực quá lớn như nâng vật nặng hoặc làm việc quá sức, chấn thương khi thể thao. Điều này có thể dẫn đến cơ bắp bị kéo căng hoặc rách, rách khớp gây đau khớp khuỷu tay.

Đau khớp khủy tay cũng có thể là triệu chứng của một số bệnh lý như:

Khi khớp khuỷu tay của bạn xảy ra tình trạng viêm, đặc biệt là rất dễ bị viêm khớp dạng thấp. Điều này xảy ra khi hệ thống tự miễn dịch của bạn tấn công nhầm các mô khỏe mạnh dẫn đến sưng và đau khớp khuỷu tay. Nếu không được điều trị kịp thời, các sụn khớp khuỷu tay sẽ nứt và vỡ ra dẫn đến 2 đầu xương cọ xát với nhau gây đau cứng khớp.

Loạn sản xương khớp. Tình trạng này thường xảy ra ở trẻ nhỏ, thanh thiếu niên là chủ yếu. Điều này xảy ra dẫn đến các mảnh xương và một số sụn sau đó vỡ ra gây đau khớp khủy tay trong khi hoạt động.

Bệnh gout. Đau khớp khủy tay là một triệu chứng phổ biến của bệnh gout. Khi chất Axit uric tích tụ nhiều ở phần khớp khuỷu tay dẫn đến hình thành bệnh gout ở khuỷu tay gây đau.

Bệnh lupus. Cũng giống như bệnh viêm khớp dạng thấp, hệ thống tự miễn dịch của cơ thể tấn công các mô khỏe mạnh dẫn đến các khớp khuỷu tay bị viêm gây đau khớp khuỷu tay.

Bệnh lyme. Bệnh xảy ra khi bạn bị ve cắn, và sẽ rất nguy hiểm nếu không được điều trị sớm. Bệnh có thể gây đau hệ thống dây thần kinh, đau ở các khớp như tay, chân…

Đau khuỷu tay không giảm khi nghỉ ngơi và băng

Đau dữ dội, sưng và bầm tím quanh khuỷu tay của bạn

Sưng, đau khớp khuỷu tay kèm sốt

Giảm phạm vi hoạt động của tay và khuỷu tay

Một dị tật rõ ràng ở khuỷu tay của bạn

Xương nhô ra

Đau khuỷu tay không cải thiện sau khi chăm sóc tại nhà

Đau xảy ra khi không hoạt động cánh tay

Không có khả năng mang đồ vật hoặc sử dụng cánh tay của bạn

Chấn thương gây biến dạng khớp khuỷu tay

Chẩn đoán đau khớp khuỷu tay

Để chản đoán chính xác hơn về tình trạng đau khớp ở khuỷu tay thì các bác sĩ sẽ áp ndụng những biện pháp sau:

Tiền sử bệnh

Kiểm tra thể chất

Xét nghiệm hình ảnh

Cách điều trị đau khớp khuỷu tay

Theo các chuyên gia, để xác định được cách chữa trị đau khớp ở khuỷu tay phù hợp thì cần xác định rõ nguyên nhân. Do đó, tùy thuộc vào những nguyên nhân gây đay sẽ có những biện pháp điều trị khác nhau như:

Phương pháp này có thể áp dụng cho những người bị đau khớp khuỷu tay do chấn thương, nguyên nhân cơ học:

Nghỉ ngơi

Chườm lạnh hoặc đá

Bài tập kéo giãn và xoa bóp khớp

Giữ cho khu vực không bị thương thêm

Giữ cánh tay của bạn nâng cao để giúp giảm sưng

Sử dụng nẹp hỗ trợ nâng tay

Điều trị bằng thuốc

Nếu người bệnh bị đau khớp khuỷu tay do viêm thì có thể áp dụng cách này:

Sử dụng thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID)

Tiêm cortisone vào gân bắp tay để giảm đau và sưng

Vật lý trị liệu là một khía cạnh quan trọng của điều trị hầu hết các tình trạng chỉnh hình và được bắt đầu khi cơn đau cấp tính giảm bớt. Các nhà trị liệu vật lý sử dụng các phương pháp khác nhau để tăng sức mạnh, lấy lại khả năng vận động và giúp đưa bệnh nhân trở lại mức độ hoạt động trước chấn thương. Ngoài việc tăng cường cơ bắp cẳng tay, vật lý trị liệu cho cơn đau khuỷu tay của bạn có thể giúp ngăn ngừa bất kỳ chấn thương hoặc viêm trong tương lai.

Nếu bạn bị đau khớp khuỷu tay do gãy khuỷu tay, trật khớp hoặc bệnh lý khác thì có thể cần điều trị bằng phẫu thuật để giảm triệu chứng đau.

Điều trị đau khớp khuỷu tay bằng thuốc đông y: Chậm mà chắc

Thuốc tây y khi chữa trị đau khớp khuỷu tay, viêm khớp cổ tay thường chỉ tập chung chữa ở “phần ngọn”. Tức là tập chung vào việc giảm đau, giảm sưng và chống viêm tức thì còn nguồn gốc và căn nguyên của bệnh thì không được giải quyết dứt điểm. Hơn nữa, nếu các cơn đau của đau khớp khuỷu tay kéo dài mà người bệnh lạm dụng thuốc giảm đau thì sẽ gây tình trạng “nhờn thuốc” hoặc gặp các biến chứng, phản ứng phụ của thuốc tây y khi sử dụng trong thời gian dài.

Hiểu rằng các bệnh lý về xương khớp mà đặc biệt là bệnh đau khớp khuỷu tay nếu muốn chữa dứt điểm thì bắt buộc phải chữa từ “gốc” mà ra tức là khắc phục từ căn nguyên khởi phát của bệnh nên các lương y, bác sĩ của Phòng chẩn trị YHCT Tâm Minh Đường và An Dược đã dày công nghiên cứu và xây dựng phác đồ điều trị đau khớp khuỷu tay An Cốt Nam với nguyên tắc chữa bệnh “Kiềng 3 chân”: Trong uống – Ngoài bôi – Bài tập và vật lý trị liệu chuyên biệt.

Trong uống: Bài thuốc uống An Cốt Nam là sự kết hợp của các vị thảo dược quý chuyên trị xương khớp như Sâm Ngọc Linh, Bí Kỳ Nam, Trư Lũng Thảo, Thiên Niên Kiện, Hương Nhu Tía,.. Bài thuốc uống có tác dụng điều trị kháng viêm, giảm đau, đào thải độc tố ra khỏi cơ thể đồng thời có tác dụng bồi bổ.

Ngoài bôi: Là bài thuốc cao dán với chiết xuất từ Đại Hồi, Địa Liền, Quế Chi có tác dụng giảm đau tại chỗ viêm sưng thông qua quá trình thẩm thấu thuốc qua da.

Bài tập và vật lý trị liệu chuyên biệt: Trong mỗi liệu trình điều trị An Cốt Nam, bệnh nhân sẽ được cung cấp 1 VCD bài tập chuyên biệt để có thể tự tập luyện hàng ngày. Bài tập này có tác dụng hỗ trợ vận động nhằm giải phóng sự chèn ép của các dây thần kinh gây đau. Việc tập luyện với các động tác phù hợp chính là “chìa khóa” giúp cho quá trình hồi phục bệnh diễn ra nhanh chóng hơn.

Ngoài ra, bệnh nhân còn được miễn phí các bài tập vật lý trị liệu như xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt,… tại phòng khám để đẩy nhanh quá trình điều trị bệnh.

Liệu trình và phác đồ điều trị hoàn chỉnh của bài thuốc An Cốt Nam đã được Ths. Bs Hoàng Khánh Toàn (Trưởng khoa Đông y bệnh viện Trung ương Quân đội 108) kiểm nghiệm và đánh giá cao dựa trên nhiều bệnh nhân mắc các bệnh về xương khớp khác nhau dùng và điều trị. Ths. Bs Hoàng Khánh Toàn đã có những chia sẻ rất chi tiết về An Cốt Nam trong chương trình “Sống khỏe mỗi ngày” của đài truyền hình VTV2 và khẳng định, An Cốt Nam chính là một xu hướng điều trị bảo tồn khoa học, tiên tiến và phù hợp với thể trạng người bệnh.

https://www.webmd.com/pain-management/guide/elbow-pain#1

https://www.mayoclinic.org/symptoms/elbow-pain/basics/definition/sym-20050874

Khuỷu Tay Và Các Bệnh Lý Liên Quan / 2023

1. Cấu trúc của khuỷu tay ở người

Khuỷu tay ở người là một khớp bản lề được tạo thành từ ba xương. Đó là: Xương cánh tay, xương trụ và xương quay. Các đầu xương được bao bọc bởi sụn. Sụn có tính đàn hồi cho phép các khớp dễ dàng trượt vào nhau và hấp thụ các chấn động.

Các xương được liên kết với nhau bằng các dây chằng tạo thành bao khớp. Bao khớp là một túi chứa đầy chất lỏng bao quanh có tác dụng bôi trơn khớp. Các dây chằng quan trọng của khuỷu tay là dây chằng chéo giữa (ở bên trong khuỷu tay) và dây chằng phụ bên (ở bên ngoài khuỷu tay).

2. Những chức năng của khuỷu tay

Khuỷu tay ở người có chức năng tương tự như những khớp khác trong cơ thể. Nó hỗ trợ cho hoạt động vận động của cẳng tay, giúp các xương trượt lên nhau dễ dàng. Đồng thời, khuỷu tay cũng là nơi đi qua của các dây thần kinh và mạch máu:

Mạch máu: Động mạch trụ, động mạch quay, động mạch cánh tay,…

Thần kinh: Thần kinh trụ, thần kinh bì cẳng tay trong, thần kinh giữa,…

Những động tác có sự hỗ trợ của khuỷu tay bao gồm:

Gấp cẳng tay.

Duỗi cẳng tay.

Sấp và ngửa cẳng tay, xoay cẳng tay quanh cánh tay.

Nhờ những động tác này nên khả năng cầm nắm của cánh tay và với lấy đồ vật trở nên linh hoạt hơn. Phạm vi chuyển động của khuỷu tay là từ 0 độ khi duỗi khuỷu tay đến 150 độ gập của khuỷu tay.

3. Các cơ ở khuỷu tay

Có 3 cơ gấp chính ở khuỷu tay:

Cơ cánh tay hoạt động độc lập như một cơ gấp khuỷu tay. Nó và là một trong số ít các cơ trên cơ thể con người chỉ có một chức năng duy nhất.

Cơ ngửa dài về cơ bản hoạt động như một cơ gấp của khuỷu tay. Tuy nhiên, nó cũng nằm ngửa khi gấp cực đại và ngửa khi duỗi cực đại.

Cơ nhị đầu cánh tay là cơ gấp chính của khuỷu tay. Tuy nhiên, nó cũng đóng vai trò thứ yếu quan trọng như một cơ hỗ trợ hoạt động ở vai (vì bản chất là cơ hai đầu).

Duỗi khuỷu tay có bản chất là đưa cẳng tay trở về vị trí giải phẫu. Động tác này được thực hiện bởi cơ tam đầu cánh tay, với sự hỗ trợ của khớp khuỷu. Sự duỗi cẳng tay bị giới hạn bởi mỏm khuỷu, sự căng dây chằng trước và lực cản ở cơ gấp.

Việc duỗi cẳng tay cưỡng bức quá mức sẽ dẫn đến đứt một trong các cấu trúc giới hạn. Chẳng hạn như gãy mỏm khuỷu, rách bao và dây chằng. Mặc dù các cơ sẽ thường không bị ảnh hưởng, nhưng cũng có thể bị tụ máu (bị bầm).

4. Sự cung cấp máu cho khuỷu tay ở người

Khuỷu tay ở người có 2 vòng mạch nối tiếp nhau:

Vòng nối quanh mỏm trên ròng rọc. Do các động mạch: động mạch bên trụ trên, động mạch bên trụ dưới của động mạch cánh tay nối với động mạch quặt ngược trụ trước và quặt ngược trụ sau của động mạch trụ.

Vòng nối quanh mỏm trên lồi cầu. Do các động mạch: nhánh trước (động mạch bên quay) và nhánh sau (động mạch bên giữa) của động mạch cánh tay sâu. Chúng nối với động mạch quặt ngược quay trước của động mạch quay và động mạch quặt ngược quay sau của thân động mạch gian cốt thuộc động mạch trụ.

5. Những bệnh lý có thể xảy ra ở khuỷu tay

5.1. Viêm gân

Hai trong số những tổn thương viêm gân thường gặp xảy ra do tình trạng vận động quá sức ở khuỷu tay. Đó chính là vận động viên quần vợt và vận động viên chơi golf.

5.2. Gãy xương

Gãy xương là một trong những bệnh lý rất thường gặp ở khuỷu tay. Có thể là gãy đầu trên xương quay, gãy đầu trên xương trụ. Cũng có thể là gãy mỏm khuỷu hoặc gãy đầu dưới xương cánh tay. Bất kỳ tổn thương gãy xương nào cũng có thể được xác định bằng:

Triệu chứng đau.

Lạo xạo tại vị trí gãy xương.

Những cử động bất thường.

X-Quang thấy hình ảnh gãy xương trên phim.

Chụpthấy hình ảnh gãy xương trên phim.

5.3. Trật khớp

Trật khớp khuỷu tay chiếm tỷ lệ lớn trong các bệnh lý về khớp. Đây là loại chấn thương có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất là ở trẻ em từ 5 đến 14 tuổi. Nguyên nhân là do:

Tai nạn giao thông.

Chấn thương khi chơi thể thao do té ngã.

Tai nạn lao động và sinh hoạt.

5.4. Nhiễm trùng khớp

Nhiễm trùng khớp khuỷu tay (viêm khớp nhiễm trùng) là không phổ biến. Nó có thể xảy ra một cách tự phát. Tuy nhiên cũng có thể xảy ra thứ phát sau phẫu thuật. Hoặc do nhiễm trùng ở những nơi khác trong cơ thể, chẳng hạn như viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu,…

5.5. Viêm khớp vô trùng

5.6. Viêm bao hoạt dịch

Viêm bao hoạt dịch khớp gây cảm giác đau ở phần sau của khuỷu tay. Đau kèm theo nóng và sưng. Triệu chứng đau xuất hiện cả khi gập và duỗi. Trong trường hợp viêm mãn tính thì động tác gập sẽ gây cảm giác rất đau.

Bác sĩ Nguyễn Lâm Giang

Sổ Tay Thần Kinh Học: Đặc Điểm Giải Phẫu Chức Năng Não Tủy Ứng Dụng Vào Thực Hành Lâm Sàng Thần Kinh / 2023

Những Nội Dung Cần Lưu Ý

1. Hệ Thần kinh Trung ương ( Não và Tủy sống) và Hệ Thần kinh ngoại vi

(Các dây thần kinh sọ và các dây thần kinh tủy (còn gọi là Thần kinh gai) – đảm bảo chức năng Tiếp thu và chúc năng Giải đáp đối với môi trường bên trong và môi trường bên ngoài cơ thể.

2.Từ ngày thứ 18 của phôi, mầm ngoại bì phát triển từ ống thần kinh qua các giai đoạn ba túi não tới năm túi não ….tiến tới hình thành não, tủy sống và các dây thần kinh.

Trẻ mới sinh ra là sinh vật thể nhạt…, qua phát triển myelin trở thành não trưởng thành ở quãng tuổi 20-24 (xem hình 1 và bảng 1). Thần kinh trẻ em là biểu hiện của phát triển Myelin, Thần kinh lão khoa là dẫn chứng của Thoái hoá Myelin.

Bảng 1. Các thành phần của não và tủy sống.

Tủy sống ở trong ống sống, được bao bọc bảo vệ bởi các màng tủy dịch não tủy và được nuôi dưỡng bởi tưới máu tủy – đặc biệt lưới mạch tủy.

Định luật CHIPAULT giúp ta nhận ra mối tương quan giữa đốt tủy và đốt sống: ở đoạn tủy cổ và đốt sống cổ thì chênh nhau một đốt, ở lưng trên chênh nhau hai, ở lưng dưới chênh nhau ba, ở thắt lưng, cùng chênh nhau bốn… Chóp cùng – đuôi ngựa là phần có những bệnh lý đặc biệt – hội chứng chóp cùng đuôi ngựa, thường là do u, viêm nhiễm… với biểu hiện rối loạn cơ tròn, giảm mất cảm giác kiểu yên ngựa, mất phản xạ cơ nâng hậu môn, giảm mất phản xạ gân gót…

Chất xám có sừng trước bao gồm các noron vận động, sừng bên (ở đoạn tủy lưng) gồm các noron thực vật và sừng sau gồm các noron cảm giác. Chất trắng được tạo thành bởi các sợi thần kinh – các bó sợi, các đường dẫn truyền. Các đường dẫn truyền cảm giác hay đường lên thực hiện chức năng tiếp thu và các đường dẫn truyền vận động hay đường xuống thực hiện chức năng giải đáp. Chức năng của tủy sống là đảm bảo hoạt động các vòng cung phản xạ ở khoanh tủy ở liên khoanh (xem hình 3, một số phản xạ) và chức năng dẫn truyền lên xuống ở tủy và lên não.

Có các loại rối loạn phản xạ và rối loạn chức năng các đường dẫn truyền vận động và cảm giác. Biểu hiện chung là liệt hai chi dưới hoặc liệt tứ chi nếu tôn thương tủy ở trên tủy cổ 4 (C4).

Các hội chứng kinh điển: Hội chứng cắt ngang bán tủy Brown Sequard (do u, do viêm..), hội chứng rỗng tủy (do chảy máu tủy, do viêm..) hội chứng Tabes ….

Các hội chứng thông thường : Hội chứng Viêm tủy (hội chứng viêm tủy cấp, bán cấp do virut, do lao), hội chứng ép tủy (do u, do lao, do u di căn…) xơ cứng tủy (xơ cứng rải rác, xơ cứng cột bên teo cơ…

Não là bộ phận phức hợp nhất của hệ thần kinh – là trung tâm của nhiều loại phản xạ phối hợp giữa hệ thần kinh động vật và hệ thần kinh thực vật, và là trung tâm của hoạt động phản xạ có điều kiện, của hoạt động tâm lý tâm thần (xem hình 4)

(hàng rào máu não dịch não tủy rất quan trọng về chẩn đoán và điều trị) , được nuôi dưỡng bởi hệ thống tưới máu não với 2 hệ thống mạch: hệ mạch cảnh và hệ sống nền (các tiếp nối nhất là tiếp nối ở nến não với vòng Willis, tiếp nối ổ mắt, tiếp nối ở màng mạch…)

Do có nhiều bắt chéo của các đường dẫn truyền (biến chuyển ở phần dưới và ở phần trên thân não), chất xám trở thành các nhân dây thần kinh sọ tập trung theo từng khu vực ở nền não thất IV cùng vời hệ cấu tạo lưới suốt dọc thân não. Khác với tủy sống, chức năng của thân não là đảm bảo hoạt động vùng đầu mặt đặc biệt chức năng trên-nhân của liếc ngang, liếc dọc và quy tụ, chức năng dẫn truyền vận động cảm giác, chức năng cảnh tỉnh, cảnh giới (cấu tạo lưới).

Có nhiều loại hội chứng thân não – trước hết cần chú ý tới các hội chứng giao bên với liệt dây thần kinh sọ ở một bên và liệt nửa người bên đối diện: hội chứng giao bên ở cuống não, hội chứng giao bên ở câu não, hội chứng giao bên ở hành tủy. Thường do u não, viêm nhiễm rối loạn mạch máu, đặc biệt hội chứng Wallenberg ( do tổn thương động mạch hố nhỏ bên hành với liệt dây IX ,X,XI, XII ở một bên và bên đối diện có bại nửa người).

Tiểu não “đính” ở phía sau thân não bởi 3 cặp cuống tiểu não, cuống tiểu não trên, cuống tiểu não giữa và cuống tiểu não dưới (hình 5 Thân não và tiểu não). Chất xám ở tiểu não là noron Purkinje làm thành Vỏ tiểu não. Chất trắng là các bó đi và tới – các cuống tiểu não.

Các bó gai-tiểu não Fleschig và Gowers dẫn truyền cảm giác sâu không ý thức, bó tiền đình tiểu não dẫn truyền cảm giác thăng bằng, bó vỏ – cầu tiểu não dẫn truyền trương lực. Bó tiểu não-nhân đỏ-đồi thị-vỏ não dẫn truyền xung động tù tiểu não lên vỏ não – cơ sở để nhận ra tổn thương ở hố sau hay vỏ não qua đánh giá lâm sàng và ghi điện não.

Chức năng của tiểu não là Giữ thăng bằng, điều chỉnh trương lực và phối hợp các cử động. Tổn thương tiểu não gây thất điều kiểu tiểu não. Có những “thử pháp” để nhận ra thất điều kiểu tiểu não, thất điều kiểu tiền đình, kiểu tabes va thất điều kiểu vỏ não

Thất điều kiểu tiểu não – Hội chứng tiểu não thường do u do viêm và teo tiểu não, do cứng rải rác

Đồi thị là nơi tập trung các xung động các loại cảm giác trước khi lên tới các vùng tương ứng ở vỏ não. Tổn thương đồi thị – tùy vị trí và mức độ có thể có rối loạn cảm giác chung, rối loạn cảm giác giác quan thị, thính giác… Đau kiểu đồi thị thường gặp ở viêm nhiễm, rối loạn mạch máu, u não.

Giữa hai đồi thị là Não thất III(xem lại hình 1 và bảng 1). Tổn thương não thất III – tổn thương đường giữa – thường là U não, viêm nhiễm với những biểu hiện “vay mượn” ở vùng lân cận là rối loạn giấc ngủ, rối loạn nội tiết, rối loạn tâm thần…

Vùng Hạ khâu não – tuyến yên – vùng bằng móng tay cái – là trung tâm của não dinh dưỡng với tuyến yên – tuyến chủ đạo của các tuyến nội tiết. Tổn thương tuyến yên thì tuỳ mức độ vị trí sẽ có ưu năng hay thiểu năng các tuyến nội tiết tương ứng. Tuyến yên chịu sự tác động trực tiếp của hạ khâu não mà nơi đây có tới 40 đám nhân hình thành mối liên hệ Hạ khâu não – Tuyến yên – Máu – Hạ khâu não.

Tổn thương một phần hạ khâu não gây hội chứng ở nửa người bên đối, không cân xứng về cảm giác da bì, huyết áp giảm, rối loạn sinh dục, teo hay phì đại nửa người. Tổn thương có thể do u não, do viêm nhiễm – viêm não, viêm màng não do lao, do mạch máu.

Tổn thương vùng Gian não gây Động kinh Gian não với những cơn sợ hãi, xanh tái sởn gai ốc) sởn da gà (phản xạ dựng lông).

Thể vân bao gồm nhân đuôi, nhân đậu, nhân nhạt…. là những thành phần chính của hệ ngoại tháp với vai trò điều chỉnh trương và điều hoà các cử động. Tổn thương thể vân cũ gây tăng trương lực, giảm vận động gây chủ yêu là hội chứng Parkinson. Tổn thương thể vân mới gây giảm trương lực, tăng động gây chủ yếu các hội chứng Tăng động Múa giật, Múa vờn.

Vỏ não có 3 mặt: mặt ngoài, mặt trong và mặt dưới, đặc biệt thùy thái dương có cả ở 3 mặt (hình 6: mặt ngoài và mặt trong vỏ não).

Vỏ não được các rãnh nguyên phát, các rãnh thứ phát, các rãnh nhỏ chia các mặt ngoài, mặt trong, mặt dưới thành các Thùy, các Hội: thùy trán, thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy thái dương, các hồi nhự hồi giữa, hồi ổ mát…Kết hợp với các lớp tế bào ở vỏ não hình thành các diện chức năng, 52 diện với 11 quảng trường, các diện phóng chiếu (có liên hệ trực tiếp với cac phần ở cơ thể bằng các đường dẫn truyền (chú ý trước tiên là diện vận động hữu ý – diện 4) các diện liên hợp liên hệ gián tiếp với cơ thể qua các diện phòng chiếu tương ứng: diện 6, diện 8 liên hệ với diện 4 vận động, diện 18, diện 19 liên hệ với diện 17 thị giác. Các diện liên hợp đảm bảo chức năng cao cấp của vỏ não, là cơ sở của hoạt động tâm lý tâm thần.

Ưu thế bán cầu: Gần 75% con người thuần tay phải và ưu thế bán cầu ở bên trái, và 25% thuận tay trái tức ưu thể bán cầu ở bên phải… Có các nghiệm pháp để đánh giá (hỏi, khám) ưu thế bán cầu của từng cá nhân. Đó là cơ sở của Thần kinh tâm lý lâm sàng.

Hội chứng vỏ não thì khá phức tạp. Tổn thương kích thích thường gây các cơn kích thích xung động, điển hình là các loại động kinh – động kinh cục bộ vận động….và thường là do tổn thương chèn ép u não, áp xe não… Tổn thương hủy hoại, gián đoạn thường gây các biểu hiện giảm các loại cảm giác, giảm vận động (bại, liệt nhẹ, liệt…) và thường là do tổn thương chèn ép kéo dài ở giai đoạn muộn, do rối loạn mạch máu, do viêm nhiễm, do thoái hoá các loại (ví dụ teo vỏ não trán thái dương…) Tổn thương các diện liên hợp thì tùy vị trí, mức độ tổn thương có thể có các loại rối loạn trí nhớ, rối loạn có thể có Mất Thực vận, Mất nhận thức, Mất ngôn ngữ.

Dựa trên những đặc điểm giải phẫu chức năng não tủy, có nhiều ứng dụng trong thực hành lâm sàng thần kinh về lý thuyết cũng như về thực hành, về chẩn đoán về điều trị.

+ Nhận ra đặc điểm của Thần kinh trẻ em (sự phát triển myelin) và Thần kinh lão khoa (sự thoái triển myelin).

+ Nghiên cứu kết hợp với khoa học xã hội tâm lý – Thần kinh tâm lý lâm sàng.

+ Các bước chẩn đoán ở Thần kinh học: chẩn đoán triệu chứng, hội chứng đặc biệt là chẩn đoán vị trí tổn thương (chẩn đoán khu trú), chẩn đoán phân định (từ triệu chứng, hội chứng), chẩn đoán nguyên nhân.

+ Điều trị ở thần kinh, ví dụ dựa vào hàng rào máu – não để cho thuốc vào dịch não tủy… Phục hồi chức năng thần kinh qua các bước xoa bóp, tập vận động… Phục hồi chức năng tâm lý qua các bảng thử pháp ví dụ bảng Foldstein.

(Visited 660 times, 1 visits today)

Tags:

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chèn Ép Thần Kinh Trụ Khuỷu Tay / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!