Đề Xuất 12/2022 # Cấu Tạo Và Hoạt Động Tiêu Hóa Ở Dạ Dày Thú Nhai Lại / 2023 # Top 20 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Cấu Tạo Và Hoạt Động Tiêu Hóa Ở Dạ Dày Thú Nhai Lại / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cấu Tạo Và Hoạt Động Tiêu Hóa Ở Dạ Dày Thú Nhai Lại / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tiêu hoá ở dạ dày động vật nhai lại (dạ dày 4 túi)

I. Cấu tạo dạ dày động vật nhai lại

Ở động vật nhai lại (động vật ăn cỏ) dạ dày có cấu tạo gồm 4 ngăn (4 túi) là dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế. Ba túi trước được gọi là dạ dày trước tiêu hoá chủ yếu nhờ hệ vi sinh vật dạ cỏ, còn dạ múi khế có chức năng tiêu hoá hoá học tương tự như ở dạ dày đơn. Cấu tạo dạ dày 4 túi như hình 5.7.

II. Đặc điểm tiêu hoá ở dạ cỏ

1). Môi trường dạ cỏ và khu hệ vi sinh vật

Môi trường dạ cỏ với các đặc điểm thiết yếu cho sự lên men vi sinh vật đó là: Có độ ẩm cao (85-90%), độ pH cao (6,4-7,0), luôn luôn được đệm bởi bicarbonate và phosphates của nước bọt, nhiệt độ khoảng 39 – 40 C, luôn luôn được nhào trộn bởi sự co bóp của dạ cỏ, dòng dinh dưỡng lưu thông liên tục: Sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men ra khỏi dạ cỏ và các cơ chất được nạp vào thông qua thức ăn ăn vào hàng ngày, có sự chế tiết vào dạ cỏ những chất cần thiết cho VSV phát triển và khuyếch tán ra ngoài những sản phẩm tạo ra trong dạ cỏ. Ðiều này làm cho áp suất thẩm thấu của dạ cỏ luôn ổn định.

Thời gian thức ăn tồn lưu trong dạ cỏ kéo dài tạo điều kiện cho vi sinh vật công phá. Những điều kiện đó là lý tưởng cho sự phát triển của vi sinh vật dạ cỏ. Ðiều này được đánh giá bởi sự phong phú về chủng loại và mật độ VSV.

Môi trường dạ cỏ được kiểm soát và điều khiển bởi nhiều yếu tố như: Số lượng và chất lượng thức ăn ăn vào; Nhào trộn theo chu kỳ thông qua co bóp dạ cỏ; Nước bọt và nhai lạI; Khuyếch tán và chế tiết vào dạ cỏ; Hấp thu dinh dưỡng từ dạ cỏ; Chuyển dịch các chất xuống bộ máy tiêu hóa.

Hệ sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần. Nó gồm các loại: vi khuẩn, Protozoa, nấm. Tất cả đều là vi sinh vật yếm khí và sống chủ yếu bằng năng lượng sinh ra từ quá trình lên men các chất dinh dưỡng – Nấm (Phycomycetes) Nấm dạ cỏ đóng vai trò tiên phong trong việc công phá xơ. Cơ chế thâm nhập được Preston và Leng (1987) tóm tắt như sau:

Ðầu tiên các bào tử nấm dính vào chất xơ trong thức ăn mới ăn vào và thâm nhập vào bên trong mô thực vật. Sau đó chúng nẩy mầm và mọc xuyên qua cấu trúc thực vật ra ngoài. Bằng cách đó, chúng làm giảm độ dai của mẩu thức ăn và nhờ vậy tăng khả năng công phá vật lý khi thức ăn này được nhai lại. Một vai trò quan trọng của nấm trong quá trình tiêu hóa Cellulose là nó tạo ra những vùng tổn thương trên bề mặt các mẫu thức ăn thực vật, tạo ra các “cửa mở” cho vi khuẩn dễ dàng chui vào bên trong để tiếp tục quá trình công phá (Bauchop, 1988). Vì lẽ đó nếu không có đủ một quần thể nấm mạnh trong dạ cỏ, pha chậm của quá trình tiêu hóa xơ bị kéo dài do vi khuẩn mất nhiều thời gian để thâm nhập vào trong cấu trúc thực vật của thức ăn.

Vi khuẩn có mặt trong dạ cỏ có số lượng lớn nhất so với các ví sinh vật khác. Hầu hết các tài liệu cho biết số lượng vi khuẩn trong dạ cỏ dao động từ 1010 – 1011 tế bào trong 1 ml dịch dạ cỏ. Fonty (1988) ghi nhận rằng ở cả cừu con và bê , trong dạ cỏ được xâm nhập bởi một số lượng lớn và đa dạng vi khuẩn ngay ngày đầu sau khi sinh. Mật độ vi khuẩn tăng dần trong những tuần đầu và sau đó tồn tại ở mức ổn định. Preston và Leng (1987) chia vi khuẩn thành 4 nhóm chính:

– Nhóm vi khuẩn tự do trong dịch dạ cỏ (chiếm khoảng 30% so với tổng số)

– Nhóm vi khuẩn kết dính vào các mẩu thức ăn (khoảng 70%)

– Nhóm vi khuẩn trú ngụ vào các nếp gấp biểu mô

– Nhóm vi khuẩn bám vào Protozoa (chủ yếu là loại sinh khí metan).

Thức ăn liên tục chuyển khỏi dạ cỏ cho nên phần lớn vi khuẩn bám vào thức ăn sẽ bị tiêu hóa đi. Vì vậy số lượng vi khuẩn tự do trong dịch dạ cỏ rất quan trọng để xác định tốc độ công phá và lên men thức ăn.

Vi khuẩn là nhóm vi sinh vật có vai trò chính trong quá trình tiêu hóa các vật liệu thành vách tế bào thực vật. Vi khuẩn sản xuất ra enzyme (kết lại thành mảng enzyme trong dạ cỏ) có khả năng công phá cellulose, hemicellulose, phức chất pectin … thành cellobiose, glucose và acid béo bay hơi. Ðể có thể thực hiện được chức năng này, vi khuẩn phải thâm nhập vào bên trong mẫu thức ăn, thông thường là ở các vị trí đã phá sẵn bởi sự xâm thực của nấm.

Protozoa là thành phần có kích thước lớn nhất trong khu hệ vi sinh vật dạ cỏ. Protozoa có mặt trong dạ cỏ biến động từ 105- 106 cá thể trong 1 ml dịch dạ cỏ. Số lượng Protozoa tùy thuộc vào khẩu phần thức ăn. Ở các khẩu phần giàu tinh bột thì lượng Protozoa có thể lên tới 4-5 triệu trong 1ml dịch dạ cỏ, nhưng ngược lại ở khẩu phần giàu xơ (rơm rạ…) thì số lượng Protozoa chỉ có 4-5 ngàn cá thể trong 1 ml dịch dạ cỏ.

Protozoa sử dụng vi khuẩn, các tiểu phần protein, tinh bột làm nguồn dinh dưỡng của chúng, một vài loại Protozoa có khả năng phân giải cellulose, nhưng cơ chất chính của chúng vẫn là tinh bột và đường. Các loại này sẽ được Protozoa nuốt nhanh chóng và dự trữ dưới dạng poly-dextrin (dextrin phân tử lớn), nhờ vậy mà Protozoa tham gia vào quá trình điều tiết pH dạ cỏ ở những khẩu phần có hàm lưọng tinh bột cao. Theo Mackie (1987) phần lớn thảo phúc trùng (Cilliate Protozoa) là bám chặt vào các vật liệu thực vật trong thức ăn và chúng có thể đóng góp đến 30-40% tổng quá trình tiêu hóa xơ bằng vi sinh vật. Willíam (1988) thông báo rằng Protozoa có thể phân hủy và tiến hành phân hóa các protein lớn, hydratecarbon, lipid trong thức ăn. Hầu hết Protozoa có khả năng phân hủy xơ (Mackie, 1987) và phân hủy Protein (Nolan,1988), bởi vậy chúng có vai trò tích cực trong quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ.

Tuy vậy, vai trò của Protozoa trong quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ được các nhà khoa học gần đây cho rằng nó có vai trò âm tính (Nolan, Leng, Demeyer, 1988). Protozoa được xem là con vật săn mồi trong hệ sinh thái dạ cỏ. Chúng có thể ăn những mảnh thức ăn nhỏ, các bào tử nấm hay là vi khuẩn, điều đó dẫn đến số lượng Protozoa càng nhiều nhưng số lượng nấm và vi khuẩn càng giảm. Protozoa không thích ứng với NH3 mà nguồn nitơ chủ yếu của chúng là vi khuẩn và các tiểu phần protein. Ðiều đáng tiếc là Protozoa không dễ dàng di chuyển xuống phần dưới của ống tiêu hóa để biến thành nguồn cung cấp dinh dưỡng cho vật chủ mà nó có khuynh hướng bám chặt, trú ngụ lâu dài và tiêu biến trong dạ cỏ. Như vậy, kết quả là Protozoa “ăn” quá nhiều nhưng không trở thành nguồn dinh dưỡng cho động vật nhai lại, mặt khác sự phát triển của Protozoa đã ảnh hưởng đến số lượng nấm và vi khuẩn nên đã ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình tiêu hóa vi sinh vật trong dạ cỏ.

2. Quá trình tiêu hóa và trao đổi chất trong dạ cỏ

Quá trình lên men Carbohydrate trong dạ cỏ bao gồm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Carbohydrate được phân giải đến đường đơn giản, giai đoạn này xẩy ra bên ngoài màng tế bào vi sinh vật.

Giai đoạn 2: là giai đoạn sử dụng những đường đơn giản này cho quá trình trao đổi chất xẩy ra bên trong tế bào vi sinh vật, để tạo thành các sản phẩm lên men cuối cùng. Enzyme được tiết ra bởi vi sinh vật tiêu hóa xơ sẽ tấn công phá vỡ cấu trúc phức tạp của cellulose thành cellobiose, sau đó cellobiose được phân hủy tiếp tục để hoặc tạo thành glucose hoặc glucose – 1 phosphate.

Quá trình lên men Carbohydrate có cấu trúc bắt đầu sau pha chậm. Trong pha chậm này vi khuẩn bám chặt vào các thành phần không hòa tan của thức ăn và các enzyme được tổng hợp. Một lượng nhỏ carbohydrate hòa tan trong khẩu phần có vai trò thúc đẩy quá trình phân giải carbohydrate không hòa tan bằng cách thúc đẩy sự tăng sinh khối vi khuẩn.

Carbohydrate không có cấu trúc không đòi hỏi pha chậm và quá trình lên men với tốc độ nhanh, diễn ra ngay sau khi ăn vào. Ðường tự do đưọc xem như bị phân hủy ngay lập tức.

Mặc dù tỷ lệ phân giải tiềm tàng cao, nhưng một số carbohydrate như là tinh bột, fructose được thoát qua dạ cỏ. Nhìn chung khoảng 90% của tổng số cellulose, hemicellulose, pectin và đường tự do được phân hủy ở dạ cỏ. Phần còn lại được xem như được tiêu hóa ở ruột già. Sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men là:

Các acid béo bay hơi (VFA), chủ yếu là acid acetic, propionic, và butyric. Tỷ lệ giữa các acid này tùy thuộc rất lớn vào cấu trúc của khẩu phần ăn. Ngoài ra quá trình lên men còn tạo ra các loại khí: carbonic, metan.

Các acid béo bay hơi được sản xuất trong quá trình lên men trong dạ cỏ được hấp thu vào dòng máu lưu thông qua vách dạ cỏ. Ðó chính là nguồn năng lượng cho động vật nhai lại, nó cung cấp khoảng 70 – 80% tổng số năng lượng được hấp thu bởi gia súc nhai lại (Vermorel, 1978).

b- Quá trình tiêu hóa các hợp chất chứa nitơ trong dạ cỏ

Protein thô có thể được phân thành loại hòa tan và loại không hòa tan. Cả hai loại đều chứa protein thực và ni tơ phi prôtêin (NPN). Cũng giống như carbonhydrate loại hòa tan được phân giải hầu như hoàn toàn và ngay lập tức sau khi ăn vào. Loại prôtêin không hòa tan chứa cả phần được phân giải và phần không được phân giải tại dạ cỏ. Tốc độ phân giải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại thức ăn, khẩu phần và thời gian lưu lại trong dạ cỏ, các yếu tố này tùy thuộc vào mức độ nuôi dưỡng và kích thước của thức ăn.

Cả vi khuẩn và Protozoa đều có khả năng thủy phân mạch peptid trong phân tử prôtêin cho sản phẩm là các acid amin, đây chính là nguồn nguyên liệu cho quá trình tổng hợp nên đại phân tử prôtêin của sinh khối vi sinh vật. Mặt khác vi sinh vật còn khử nhóm amin của các acid amin và mạch carbon còn lại sẽ được chuyển thành VFA, CO 2, CH 4 và H 2 O, Một số ATP, một số acid béo mạch ngắn cũng được hình thành từ con đường này.

c – Quá trình phân giải lipid trong dạ cỏ

Một khía cạnh khác của quá trình trao đổi lipid trong dạ cỏ của động vật nhai lại là quá trình hóa hợp hydro vào acid béo không no. Như chúng ta đều biết, mỡ mô của loài nhai lại có độ no cao hơn nhiều so với động vật dạ dày đơn. Nguyên nhân, mà đến nay được chấp nhận một cách rộng rãi là quá trình sinh hydro diễn ra ngay tại dạ cỏ chứ không phải tại mô bào như ở động vật dạ dày đơn. Trước khi quá trình tạo hydro xẩy ra có quá trình thủy phân acid béo khỏi mạch liên kết este của chúng. Hiệu suất thực của quá trình sinh và hợp hóa hydro là các chuổi acid béo mạch dài, là nguồn lipid chủ yếu được hấp thu ở ruột, trong đó phần lớn là acid stearic tự do.

Một vấn đề quan trọng nữa là nếu hàm lượng lipid cao trong khẩu phần của gia súc nhai lại có thể tạo ra ảnh hưởng âm tính đến khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, vì thế có thể ảnh hưởng đến quá trình thủy phân lipid và quá trình no hóa các acid béo trong dạ cỏ. Nhiều ý kiến cho rằng mức độ cao của lipid trong khẩu phần có thể gây độc cho Protozoa trong dạ cỏ.

d – Quá trình tổng hợp trong dạ cỏ

Quá trình tăng sinh khối vi sinh vật dạ cỏ đòi hỏi nguồn năng lượng và nguyên liệu ban đầu cho các phản ứng hóa sinh tổng hợp nên các đại phân tử. Trong đó quan trọng nhất là prôtêin, acid nucleic, polysaccaride và lipid. Các vật chất ban đầu và năng lượng cho quá trình phát triển của vi sinh vật từ quá trình phân giải vật chất trong dạ cỏ. Nhiều tác giả đã chứng minh rằng sự phát triển của khu hệ sinh vật dạ cỏ tùy thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng sẵn có như ATP cho các phản ứng hóa sinh. Vì lý do vậy nên hiệu suất sinh trưởng vi sinh vật được diễn đạt bằng gam vật chất khô (VCK) vi sinh vật hoặc là prôtêin vi sinh vật / đơn vị năng lượng sẵn có.

Vi khuẩn có khả năng tổng hợp tất cả các acid amin từ sản phẩm cuối cùng và sản phẩm trao đổi trung gian của quá trình phân giải carbonhydrate, và prôtêin hoặc là NPN. Nhiều tài liệu cho rằng 80 – 82 % các loại vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp prôtêin từ amoniac (Maeng và cộng sự, 1976). Nồng độ NH3 trong dạ cỏ có ảnh hưởng sâu sắc đến cả quá trình phân giải và tổng hợp sinh khối vi sinh vật. Theo Harrison và McAllan (1980), Leng (1990) nồng độ NH3 tối thiểu trong dịch dạ cỏ là 50 – 100 mg/lit dịch dạ cỏ.

Theo Preston và Leng (1987) cho rằng nồng độ thích hợp trong dạ cỏ là 50 – 250 mg/lit dịch dạ cỏ. Protozoa dựa vào acid amin từ quá trình tiêu hóa prôtêin thức ăn hoặc là từ vi khuẩn làm nguyên liệu cho quá trình tổng hợp. Quá trình tổng hợp prôtêin đòi hỏi một lượng năng lượng lớn, gấp 3-4 lần năng lượng so với sự tổng hợp polysaccharide. Quá trình tổng hợp acid nucleic (AND, ARN) đòi hỏi ít năng lượng hơn là prôtêin nhưng đòi hỏi nhiều carbonhydrate.

Quá trình phân giải và tổng hợp prôtêin trong dạ cỏ của gia súc nhai lại được xem như có hai mặt:

– Nâng cao giá trị sinh vật học của prôtêin từ những prôtêin có giá trị sinh vật học thấp trong thức ăn và từ NPN,

– Làm mất mát các acid amin thiết yếu, mất mát năng lượng cho vật chủ, hay nói cách khác là làm giảm giá trị sinh vật học của các loại prôtêin thức ăn có giá trị sinh vật học cao.

Từ những vấn đề trên trong thực hành chăn nuôi gia súc nhai lại có hai vấn đề cần quan tâm là:

– Vấn đề sử dụng ni tơ phi prôtêin (NPN) như thế nào?

– Vấn đề bảo vệ prôtêin thức ăn ở động vật nhai lại?

Cấu Tạo Dạ Dày Và Chức Năng Dạ Dày / 2023

Dạ dày (hay bao tử) là một bộ phận trong hệ tiêu hóa, có nhiệm vụ dự trữ và tiêu hóa thức ăn. Nếu cơ quan này bị tổn thương, gặp trục trặc đồng nghĩa với việc nguồn dinh dưỡng đi nuôi cơ thể bị ngưng trệ. Vì vậy việc tìm hiểu cấu tạo dạ dày, chức năng của nó sẽ có lợi trong việc điều trị bệnh.

Dạ dày là một tạng trong phúc mạng, phía trên nối với thực quản qua lỗ tâm vị, phía dưới nối với thực quản qua lỗ môn vị, có hình dạng giống với chữ J.

* Thành phần trong dạ dày

– Tâm vị: Lỗ tâm vị có một lớp niêm mạc ngăn cách với thực quản.

– Đáy vị: Chứa không khí

– Thân vị: Phần này chứa các tuyến tiết ra HCl và Pepsinogene.

– Môn vị: Lỗ môn vị có một cơ thắt gọi là cơ thắt môn vị.

* Cấu tạo dạ dày

Cấu tạo dạ dày người gồm 5 lớp từ ngoài vào trong, cụ thể:

– Thanh mạc: Lớp phúc mạc tạng bao bọc dạ dày.

– Lớp cơ: cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo

– Tấm dưới niêm mạc: Lớp niêm mạc chứa các tuyến dạ dày, tiết ra các chất khác nhau vừa có vai trò bảo vệ dạ dày như chất nhầy, vừa có khả năng tiêu hóa như HCl như men Pepsinogene… lại có vai trò nội tiết hay trung gian hóa học như gastrin, histamin… đồng thời là yếu tố nội giúp hấp thụ sinh tố B12.

– Lớp niêm mạc chứa các tuyến của dạ dày: Gồm nhiều loại tiết ra các chất khác nhau, có vai trò bảo vệ dạ dày như chất nhầy, đồng thời giúp tiêu hóa và điều hòa nội tiết hóa học trung gian,…

Chức năng của dạ dày là gì?

Dạ dày có 2 chức năng chính là:

– Nghiền cơ học thức ăn đồg thời thấm dịch vị.

– Phân hủy thức ăn nhờ hệ enzym tiêu hóa có trong dịch vị.

* Chu trình nạp thức ăn vào dạ dày

Sau khi thức ăn được nghiền nát một phần bằng động tác nhai và được phân hủy một phần nhỏ nhờ các men có trong nước bọt sẽ được đưa xuống dưới qua một ống cơ trơn gọi là thực quản (ống này nằm song song với khí quản) sau đó đến dạ dày.

Dạ dày là nơi chứa thức ăn, nghiền nát, nhào trộn thức ăn với dịch vị. Dạ dày cũng hấp thu chất dinh dưỡng tuy nhiên chức năng này không đáng kể.

Khi thức ăn được nghiền nát, nhào trộn và thấm dịch vị xong chúng sẽ được đưa xuống ruột non để thực hiện công đoạn tiêu hóa và hấp thu sau đó là ruột già và “tống” ra ngoài theo đường bài tiết.

* Dịch vị trong dạ dày

Dịch vị bao gồm hỗn hợp các thành phần acid clohidrit (HCl) và enzyme pepsin.

Axit dịch vị có tác dụng rất mạnh, đủ để có thể đục thủng lỗ trên tấm thảm trải sàn. Để đảm bảo dạ dày không bị axit ăn mòn, luôn tồn tại các chất nhầy làm nhiệm vụ trung hòa axit, chất nhầy từ các tế bào phụ tiết ra, chính chất nhầy này và một số chất khác tạo lên một màng nhày, dai bao phủ niêm mạc.

Tuy nhiên những tế bào của lớp màng này cũng bị hao mòn rất nhanh chóng nên toàn bộ niêm mạc dạ dày được thay thế mới 3 ngày/lần. Dịch nhầy cũng hỗ trợ cho tiêu hóa bằng cách giữ cho thức ăn luôn ẩm ướt.

Sự mất cân bằng khiến cho lượng chất nhầy thiết hụt, hay sự phát triển dư thừa của axit dịch vị là nguyên nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày.

Để phòng và điều tị các bệnh dạ dày, cần hiểu rõ cấu tạo dạ dày và chức năng của nó.

Một số triệu chứng bệnh dạ dày phổ biến

Người mắc bệnh dạ dày thường có những dấu hiệu sau:

Đây là biểu hiện phổ biến đầu tiên của chứng đau dạ dày. Người bệnh thường có cảm giác chướng bụng, đầy hơi khó chịu kể cả khi ăn đã lâu. Cảm giác bụng đầy hơi có thể giảm dần sau khi hoạt động thể chất hoặc làm việc.

Tuy nhiên, tình trạng này liên tục xuất hiện và kéo dài sau mỗi bữa ăn khiến bạn cảm thấy chán ăn, mệt mỏi. Ngoài ra, bạn có cảm giác khó nuốt, đặc biệt các triệu chứng sẽ nặng thêm theo thời gian.

Đau tức vùng bụng trên hay còn gọi là đau vùng thượng vị là một trong những dấu hiệu điển hình của bệnh viêm loét dạ dày giai đoạn đầu. Lúc này người bệnh thường xuất hiện những cơn đau bất thường, ngày càng dày và nặng hơn. Thời gian đầu, cơn đau xuất hiện khi đói quá hoặc khi no quá.

Đau tức vùng bụng trên hay còn gọi là đau vùng thượng vị là một trong những dấu hiệu điển hình của bệnh viêm loét dạ dày giai đoạn đầu.

+ Thường xuyên có cảm giác buồn nôn, nôn

Nếu bạn thường xuyên buồn nôn không rõ nguyên nhân thì hãy đi khám ngay vì đây là một trong những biểu hiện của bệnh đau dạ dày của đại đa số bệnh nhân.

+ Thay đổi thói quen đại tiện, phân bất thường

Đầy hơi, thay đổi thói quen đại tiện hoặc giảm cân không rõ nguyên nhân có thể là một dấu hiệu cho thấy bị nhiễm một ký sinh trùng gọi là Giardia trong đường ruột, cũng có thể là dấu hiệu của các bệnh như trào ngược dạ dày, hội chứng ruột kích thích, bệnh loét dạ dày, sỏi mật, táo bón,…

Ở trường hợp nặng, khi khối u đã phát triển lớn thì bệnh nhân có thể sờ thấy khối u bất thường ở bụng. Một số người còn có thể sờ thấy có bọc u trong ổ dạ dày, ấn vào cảm giác đau.

Bệnh dạ dày là một trong những bệnh có tỉ lệ người mắc hàng đầu trong các bệnh đường tiêu hóa, những nguy hại mà bệnh gây ra từ nhẹ đến nặng, có thể đe dọa tính mạng người bệnh. Do đó, chúng ta cần hiểu rõ cấu tạo dạ dày, chức năng dạ dày và những nguy cơ bệnh có thể mắc phải.

Khi có các triệu chứng như trên, cần sớm thăm khám tại chuyên khoa y tế để sớm phát hiện bệnh. Bên cạnh việc điều trị theo phác đồ của bác sỹ, người bệnh cần điều chỉnh thói quen ăn uống và sinh hoạt để phòng tránh bệnh tái phát cũng như nâng cao hiệu quả điều trị.

Bạn cũng có thể tham khảo sử dụng thêm thuốc dạ dày chữ Y – Yumangel để làm giảm nhanh các triệu chứng đau thượng vị, buồn nôn, ợ nóng, ợ chua, trào ngược,… do đau dạ dày, viêm/loét dạ dày, viêm hang vị,… gây ra.

Dạ Dày Là Gì? Cấu Tạo, Chức Năng Của Dạ Dày Người / 2023

Dạ dày hay bao tử là nơi phình to nhất của hệ thống đường tiêu hóa trong cơ thể con người, có cấu tạo phức tạp, thực hiện hai chức năng chính là nghiền cơ học thức ăn, thấm dịch vị và phân hủy thức ăn nhờ hệ enzyme tiêu hóa trong dịch vị. Dạ dày là gì, cấu tạo, chức năng cụ thể của dạ dày sẽ được trình bày chi tiết trong bài viết này.

Dạ dày là gì?

Mặc dù là một phần của cơ thể thế nhưng không phải ai cũng biết dạ dày là gì? Dạ dày là một phần quan trọng trong hệ tiêu hóa của con người, là bộ phận nằm giữa thực quản và tá tràng, phần đầu của ruột non. Đây được xem là bộ phận tiêu hóa lớn nhất có chức năng chứa và tiêu hóa thực phẩm.

Dạ dày là một tạng trong phúc mạc, nằm ở tầng trên mạc treo kết tràng, ở vùng thượng vị và ô dưới hoành trái. Phía trên của dạ dày nối với thực quản qua lỗ tâm vị, phía dưới nối với phần đầu của ruột non qua lỗ môn vị. Dung tích trung bình của dạ dày khoảng 4,4 – 5 lít nước. Tuy nhiên con số này phụ thuộc vào tuổi tác và thể chất của từng người.

Hình dạng và vị trí của dạ dày thay đổi theo sự biến đổi của thể vị và dung lượng thức ăn. Theo hình chụp Xquang, dạ dày thường có hình dạng như sừng bò hoặc móc câu, nhìn tổng thể thì giống chữ J. Trong đó, dạ dày của người già, người béo thấp, trẻ em thường có hình dáng sừng bò, người cao gầy có dạ dày hình móc cao. Và người có cơ thể cường tráng thì hình chữ J. Không chỉ phụ thuộc vào thể chất hình dạng dạ dày còn thay đổi theo tư thế, thời điểm khảo sát, tình trạng có chứa đựng thức ăn hay không.

Cấu tạo dạ dày người

Sau khi giải phẫu cấu tạo của dạ dày người, các chuyên gia chỉ ra rằng:

Về hình thể ngoài

Xét về hình thể bên ngoài, dạ dày có 5 phần gồm:

Tâm vị: Rộng từ 3 – 4 cm2, nằm gần thực quản có lỗ tâm vị. Lỗ tâm vị không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêm mạch, thông giữa thực quản và dạ dày.

Đáy vị: Là phần phình to nhất, ở bên trái lỗ tâm vị, có hình chỏm cầu, ngăn cách với thực quản bởi khuyết tâm vị. Khuyết tâm vị thường chứa không khí, dễ nhìn thấy khi chụp phim Xquang.

Thân vị: Có hình ống với 2 thành và 2 bờ, giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị, giới hạn dưới là mặt phẳng xuyên qua khuyết góc của bờ cong vị nhỏ.

Phần môn vị: Gồm hang môn vị và ống môn vị. Trong đó, hang môn vị hình phễu, tiết ra Gastrin, ống môn vị có các cơ rất phát triển.

Môn vị: Nằm bên phải đốt thắt lưng 1, có lỗ môn vị thông với tá tràng, lỗ môn vị có một cơ thắt, thường gây bệnh co thắt môn vị phì đại ở trẻ sơ sinh.

Về cấu tạo

Từ ngoài vào trong, dạ dày có cấu tạo gồm 5 lớp là:

Thanh mạc: Lớp phúc mạc tạng bao bọc dạ dày

Tấm dưới thanh mạc

Lớp cơ: Có 3 lớp từ ngoài vào trong là cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo

Tấm dưới niêm mạc

Lớp niêm mạc chứa các tuyến của dạ dày

Trong đó, các tuyến dạ dày gồm nhiều loại, tiết ra nhiều chất khác nhau có vai trò bảo vệ dạ dày, thực hiện chức năng tiêu hóa, giúp hấp thụ vitamin B12 và làm chất trung gian hóa học.

Về mạch máu dạ dày

Mạch máu của dạ dày bắt nguồn từ động mạch thân tạng, là nhánh của động mạch chủ bụng tách ra ngay dưới cơ hoành. Bao gồm:

Vòng mạch bờ cong vị bé: Có bó mạch vị phải và bó mạch vị trái

Vòng mạch bờ cong vị lớn: Gồm những động mạch vị ngắn và các động mạch vùng đáy vị và tâm vị.

Chức năng dạ dày

Như đã đề cập, dạ dày là một trong những cơ quan quan trọng nhất trong cơ thể con người. Dạ dày có 2 chức năng cơ bản là:

Nghiền cơ học thức ăn, thấm dịch vị

Phân hủy thức ăn nhờ hệ enzyme tiêu hóa trong dịch vị

Do dạ dày cấu tạo từ cơ trơn và sắp xếp các bó cơ theo chiều hướng phù hợp để tăng hiệu quả co bóp nên có thể dễ dàng nghiền cơ học thức ăn. Dạ dày được bao phủ bởi lớp niêm mạc dạ dày và duy trì độ pH ở mức phù hợp để các enzyme tiêu hóa hoạt động nên có thể thực hiện được chức năng thứ hai.

Sau khi thức ăn được nhai, phân hủy một phần nhỏ nhờ các men trong nước bọt sẽ được đưa qua ống trơn là thực quản để đến dạ dày. Lúc này, dạ dày tiến hành nghiền nát, nhào trộn thức ăn với dịch vị rồi đưa dần xuống ruột non để thực hiện công đoạn tiêu hóa, hấp thu, đào thải.

Độ pH trong dạ dày từ 2 – 2,5, có tác dụng tiêu hóa và phòng bệnh. Độ pH thấp sẽ là một rào cản hóa học hữu hiệu để tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh theo thức ăn vào cơ thể. Tuy nhiên, nếu độ pH quá thấp sẽ có tác hại gây loét dạ dày tá tràng.

Các bệnh lý về dạ dày thường gặp

Đau dạ dày: Là bệnh xuất hiện ở nhiều lứa tuổi, nhiều đối tượng chủ yếu do chế độ ăn uống không phù hợp, ăn nhiều thức ăn cay nóng, nhiều gia vị, hút thuốc uống rượu thường xuyên. Nếu không phát hiện kịp thời có thể gây xuất huyết hoặc ung thư dạ dày.

Viêm loét dạ dày tá tràng: Là tình trạng lớp niêm mạc bị tổn thương, xung huyết loét sâu do acid và pepsin kích thích. Ở mỗi vị trí loét sẽ có những tên gọi khác nhau như loét hang vị, viêm loét tá tràng, viêm dạ dày… Nguyên nhân là do nhiễm khuẩn Hp, chế độ ăn uống thất thường, tác dụng phụ của thuốc.

Trào ngược dạ dày thực quản: Có khoảng 14 triệu người mắc trào ngược dạ dày thực quản đã được thăm khám. Đây là hiện tượng thức ăn, dịch vị có trong dạ dày bị đẩy ngược lên thực quản gây khó chịu.

Nhiễm khuẩn Hp dạ dày: Vi khuẩn Helicobacter pylori thường gặp ở lớp màng nhầy của dạ dày, tá tràng, nếu gặp môi trường thuận lợi, sức đề kháng cơ thể yếu đi, chúng sẽ tấn công và gây tổn thương ở niêm mạc dạ dày.

Các bệnh lý khác cũng thường gặp là viêm hang vị, xuất huyết dạ dày, ung thư dạ dày…

Những bệnh lý về dạ dày nếu không được điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng sức khỏe, thậm chí nguy hại tính mạng.

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp có thể giải quyết vấn đề này, tuy nhiên không phải ai cũng biết cách lựa chọn đúng. Thông thường, việc lạm dụng Tây y và các loại thực phẩm chức năng chính là nguyên nhân khiến bệnh thêm trầm trọng. Vì niêm mạc dạ dày vốn mỏng, khi bị tổn thương mà thường xuyên chịu tác dụng từ kháng sinh rất dễ bị bào mòn, viêm loét nhiều hơn.

Hãy tham khảo ý kiến từ chuyên gia để có gợi ý tốt nhất. Vì Đông y cũng rất hiệu nghiệm trong xử lý bệnh này.

Làm gì để bảo vệ dạ dày?

Để ngăn ngừa các bệnh lý, giúp dạ dày luôn khỏe mạnh, chúng ta cần

Loại bỏ căng thẳng, luôn giữ cho tâm lý thoải mái, tránh ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa

Ăn nhiều rau xanh, đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cơ thể

Ăn chậm nhai kỹ, ăn đủ bữa đúng giờ, tránh tình trạng nhịn ăn, vừa ăn vừa làm, ăn uống khi đang di chuyển.

Hạn chế rượu bia chất kích thích, hạn chế đồ ăn cay nóng nhiều dầu mỡ

Không ăn trước khi đi ngủ, uống nhiều nước, giữ cân nặng ở mức cân đối

Không hút thuốc, không để bụng quá đói hoặc quá no

Tăng cường luyện tập thể dục thể thao, ngủ đủ giấc để nâng cao sức khỏe

Thường xuyên thăm khám để kịp thời phát hiện các bệnh lý về dạ dày và có biện pháp điều trị phù hợp.

NSND Trần Nhượng chia sẻ bài thuốc giúp chữa khỏi bệnh đau dạ dày trào ngược chỉ sau 3 tháng

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dạ Dày / 2023

Dạ dày là cơ quan này đảm nhiệm chức năng vô cùng quan trọng trong việc trao đổi chuyển hóa các chất thành năng lượng nuôi tế bào, duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể. Nếu nói tim ngừng đập có thể dẫn tới tử vong nhanh chóng thì chức năng dạ dày không hoạt động cũng khiến cơ thể chết dần chết mòn.

Cấu tạo của dạ dày

Dạ dày là cơ quan tiêu hóa, nơi phình to nhất của hệ thống tiêu hóa trong cơ thể người, được nối với phần thực quản và tá tràng ( phần đầu của ruột non).

Giải phẫu học cấu tạo dạ dày

Cấu tạo gồm 5 lớp, được liên kết với nhau chặt chẽ gồm các lớp như: Lớp thanh mạc, phúc mạc, lớp cơ ( gồm 3 lớp cơ là cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo), tấm lưới niêm mạc và cuối cùng là lớp niêm mạc dạ dày. Cấu tạo dạ dày khá phức tạp và được liên kết phức tạp với các bộ phận khác trong khoang bụng. Nhờ có cấu tạo lớp cơ chắc chắn, liên kết chặt chẽ nên dạ dày có khả năng co bóp mạnh và chứa khoảng 4, 6- 5,5 lít nước trong dạ dày.

Các phần của dạ dày

Tâm vị: Chiếm diện tích khoảng 4-6 cm², có lỗ tâm vị thông với thực quản và bộ phận này không có cơ thắt hay van mà chỉ có mộ nếp niêm mạc chia phần thực quản và dạ dày làm 2.

Đáy vị: Nằm ở phía trên mặt phẳng đi quan lỗ tâm vị, chủ yếu là chứa khí.

Thân vị: Vùng chiếm nhiều diện tích nhất của dạ dày, dưới phần đáy vị và tại vùng thân vị có chứa rất nhiều tuyết bài tiết acid dịch vị acid clohydric và pepsingene, đảm nhiệm co bóp tiêu hóa thức ăn.

Môn vị: Gồm hang môn vị hình phễu tiết ra chất gastrine, ống môn vị có cơ khá phát triển. Vị trí môn vị nằm tại ngay bên phải đốt sống thắt lưng 1, có lỗ môn vị thông với tá tràng.

Bờ cong vị bé: Bộ phận này có mạc nối nhỏ nối dạ dày, tá tràng và gan, giữa hai lá của mạc nối nhỏ có vòng mạch bờ cong vị bé.

Bờ cong vị lớn: là đoạn tiếp theo có mạc nối dạ dày với lách và có chứa các động mạch vị ngắn. Ở phần đoạn cuối cùng có mạc nối lớn bám, giữa hai lá của mạc nối lớn chứa bờ cong vị lớn.

Tìm hiểu thêm

Sâu răng – Nguyên nhân và cách phòng ngừa

Chức năng của dạ dày

Dạ dày có chức năng vô cùng quan trọng khi vừa là nơi tiếp nhận lưu trữ chất dinh dưỡng của cơ thể vừa là nơi chuyển hóa các chất trong thức ăn. Chia dạ dày làm 2 chức năng chính gồm:

Co bóp nghiền thức ăn, trộn thức ăn cho thức ăn thấm acid dịch vị

Chuyển hóa thức ăn nhờ hệ enzyme tiêu hóa trong dịch vị.

Quá trình tiêu hóa thức ăn của dạ dày: Sau khi thức ăn được nghiền cơ học nhờ nhai và phân hủy một phần nhỏ thức ăn nhờn enzyme trong nước bọt. Thức ăn sẽ được đưa xuống qua một ống cơ trơn thực quản và xuống dạ dày. Dạ dày sẽ co bóp trộn đều và nghiền nát thức ăn cho thấm dịch vị và men tiêu hóa sẽ giúp hấp thu một phần chất dinh dưỡng trong thức ăn vào niêm mạc dạ dày. Còn lại thức ăn sẽ được chuyển xuống ruột non để tiếp tục hấp thụ các chất dinh dưỡng có trong thức ăn vào cơ thể và cuối cùng là xuống đại trang ( ruột già) tống chất cặn bã mà cơ thể không hấp thu được ra ngoài.

Các vấn đề bệnh lý về dạ dày rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, thậm chí là trẻ nhỏ cũng có thể là đối tượng mắc bệnh về dạ dày. Ăn uống không hợp lý, sinh hoat nghỉ ngơi không đúng cách hay nhiễm khuẩn có thể hình thành nên các bệnh về dạ dày như: đau dạ dày, viêm loét dạ dày tá tràng, xuất huyết dạ dày, ung thư dạ dày…

An Vị Sinh – Đặc trị đau dạ dày, tá tràng được làm từ 11 loại thảo dược được lấy từ các vùng núi cao hoàn toàn tự nhiên giúp đặc trị:

♥ Viêm loét dạ dày, tá tràng

♥ Diệt khuẩn HP gây loét dạ dày

♥ Đầy bụng, ăn uống khó tiêu

Sản phẩm của Đông y An Sinh Đường

An Vị Sinh – Đặc trị đau dạ dày, tá tràng Giá: 259.000 VNĐ

Quy cách đóng gói

Dạng bột, đựng trong hộp 150g.

Hướng dẫn sử dụng

– Pha với nước ấm (tốt nhất là nước sôi 100 0 c), mỗi lần 20g (khoảng 1 thìa cà phê), khuấy đều, pha thêm với mật ong lượng vừa đủ rồi dùng ngay; ngày 1 – 2 lần

– Dùng liên tục khoảng 1 – 2 tháng để cho kết quả tốt nhất

Bảo quản

Để nơi thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp

Cam kết

– Có hiệu quả rõ rệt khi dùng liệu trình 1 tháng.

– Hoàn tiền nếu không có tác dụng tích cực.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cấu Tạo Và Hoạt Động Tiêu Hóa Ở Dạ Dày Thú Nhai Lại / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!