Đề Xuất 12/2022 # Cấu Tạo Và Chức Năng Của Bìu / 2023 # Top 14 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Cấu Tạo Và Chức Năng Của Bìu / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cấu Tạo Và Chức Năng Của Bìu / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bìu là gì? Bìu ở nam giới là một túi da mỏng, nhăn nheo, sẫm màu do các lớp của thành bụng trĩu xuống tạo thành nằm tiếp giáp với lớp da vùng bụng dưới, ngay dưới dương vật và phía trước hậu môn, có một gờ ở giữa, bên trong có một vách chia thành hai túi làm nhiệm vụ chứa đựng và nâng đỡ tinh hoàn.

Cấu tạo của bìu từ ngoài vào trong gồm các lớp tương ứng với các lớp của thành bụng:

Da bìu có thể thay đổi từ chỗ lỏng lẻo và bóng đến chỗ gấp chặt nhiều nếp ngang, tùy thuộc vào trương lực của cơ bám da bìu. Da bìu đậm sắc tố, có lông, không mỡ dưới da, có nhiều tuyến bã và tuyến mồ hôi. Hai ngăn của bìu được tách biệt rõ ràng bởi một dây nhỏ Raphe nằm ở chính giữa đi từ lỗ niệu đạo đến hậu môn và nối tiếp với một màng cơ ở bên trong tạo vách mô liên kết giúp phân chia hai ngăn này.

Lớp cơ bám da bìu Dartos liên tục với lớp mô cơ mềm hay còn gọi là cân Cottes và cơ bám da của dương vật. Da bìu co lại được là nhờ sự co của lớp cơ bám da này.

Lớp tế bào dưới da là lớp mỡ và tế bào nhão dưới da.

Lớp mạc nông hay mạc tinh ngoài liên tục với mạc tinh ngoài của thừng tinh, xuất phát từ cân cơ chéo ngoài, dính chặt vào mép lỗ bẹn ngoài.

Lớp cơ bìu do cơ chéo trong trĩu xuống trong quá trình đi xuống của tinh hoàn có tác dụng là nâng tinh hoàn lên khi trời lạnh, áp sát vào cơ thể, vào hố chậu để hấp thu nhiệt. Cơ chế ngược lại xảy ra khi trời nóng.

Lớp mạc sâu hay mạc tinh trong là một phần của mạc ngang.

Lớp tinh mạc được tạo nên do phúc mạc bị lôi xuống trong quá trình đi xuống của tinh hoàn, gồm lá thành và lá tạng.

Mạch máu và thần kinh

Động mạch của bìu xuất phát từ những động mạch đùi, bẹn và thượng vị dưới.

Thành trước của bìu được cấp máu bởi động mạch bẹn ngoài và có các nhánh của dây thần kinh chậu-bẹn, thần kinh sinh dục-đùi. Các mạch máu và thần kinh chạy song song nếp ngang bìu và không vượt qua đường giữa, do vậy để mở bìu, nên rạch da ngang bìu hay theo đường giữa bìu.

Mặt sau của bìu được cấp máu bởi các nhánh sau bìu của mạch máu đáy chậu và có các nhánh của thần kinh đáy chậu. Ngoài ra, thần kinh bì đùi sau cho những nhánh đáy chậu cho mắt sau bìu và đáy chậu. Do nguồn gốc của chúng, nên các mạch tinh được cung cấp máu từ các mạch máu cơ bìu, ống dẫn tinh và tinh hoàn, khác với thành bìu. Hoại thư Fournier thường không liên hệ tới các cấu trúc này, nên chúng có thể được bảo tồn trong quá trình bóc tách dẫn lưu mủ.

Các tĩnh mạch đi đôi với các động mạch.

Bạch mạch dẫn lưu bạch huyết vào các hạch bẹn nông.

Chức năng của bìu không chỉ nâng đỡ tinh hoàn mà còn giúp điều hòa nhiệt độ. Bìu giữ cho nhiệt độ của tinh hoàn thấp hơn nhiệt độ của cơ thể nên đó là lý do bìu luôn nằm ở bên ngoài cơ thể. Nhiệt độ của tinh hoàn trong bìu được quân bình bởi sự co thắt và giãn của cơ bìu và lớp cân Dartos, nếu nhiệt độ bên ngoài lạnh thì tinh hoàn sẽ được kéo lên gần ổ bụng, nếu nhiệt độ môi trường nóng thì tinh hoàn sẽ được thả lỏng xuống. Nhiệt độ khoảng 34,4°C là lý tưởng cho sự phát sinh và tồn trữ của tinh dịch, nhiệt độ cao hơn 36,7°C có thể làm ảnh hưởng không tốt đến số lượng của tinh trùng hoặc có thể dẫn đến vô sinh tạm thời nhất là khi bị sốt cao.

Thường thì người nam không thể điều khiển được cơ bìu của mình một cách trực tiếp. Sự co thắt bên trong của bắp thịt bụng dưới và sự thay đổi của áp suất trong ổ bụng góp phần điều khiển sự di động lên xuống của tinh hoàn bên trong bìu. Tinh hoàn không trực tiếp dính vào da bìu, vì vậy khi cân dartos co thắt, nó trượt lên xuống trong da bìu về phía ổ bụng. Da bìu trở nên dày hơn và nhăn nheo hơn cũng là do sự co thắt của những sợi cơ của lớp cân Dartos bao bọc tinh hoàn xảy ra một cách tự động.

Việc chăm sóc và vệ sinh vùng kín ở nam giới cần quan tâm nhất là vùng bìu và vùng bao quy đầu. Cần làm sạch vùng da bìu và bao quy đầu cả bên ngoài cũng như bên trong vì đây là nơi ứ đọng các chất cặn bã xuất tiết từ các tuyến dưới lớp da này mà vốn dễ nhiễm khuẩn, gây mùi hôi, nhất là trong những ngày thời tiết nóng nực hay khi vận động nhiều, chơi thể thao…

Cách tự khám vùng bìu để kiểm tra phát hiện bất thường:

Tự khám tinh hoàn ngay sau khi tắm nước ấm vì đây là lúc bìu, vùng da bao bọc tinh hoàn giãn nở nhất tạo điều kiện dễ dàng để kiểm tra.

Kiểm tra từng tinh hoàn một. Dùng hai tay nhẹ nhàng lăn mỗi tinh hoàn kèm theo ấn nhẹ giữa các ngón tay. Đặt ngón tay cái lên phía trên tinh hoàn, ngón tay trỏ và ngón giữa ở phía dưới tinh hoàn, sau đó cuộn tinh hoàn lại giữa các ngón tay.

Khi đó sẽ cảm nhận được mào tinh hoàn ống chứa tinh dịch. Khi chạm vào mào tinh hoàn sẽ cảm thấy mềm, giống như một chuỗi, khi ấn thấy hơi đau. Mào tinh hoàn nằm ở trên đỉnh mỗi tinh hoàn. Phần này hơi u lên là bình thường.

Cần lưu ý rằng một bên tinh hoàn thường là bên phải hơi lớn hơn bên còn lại, như vậy cũng bình thường.

Khi tự kiểm tra mỗi bên tinh hoàn, chú ý xem chỗ nào có cục u lên ở dọc phía trước hoặc cả 2 bên không. Những cục u này có thể chỉ nhỏ như hạt gạo hoặc hạt đậu.

Khi khám tinh hoàn, nếu phát hiện bất kì chỗ sưng nào, cục u nào hay sự thay đổi về kích cỡ, màu sắc của tinh hoàn, hay thấy đau ở vùng háng, bạn cần đến gặp Bác sĩ ngay lập tức.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da / 2023

Cấu tạo và chức năng của da

Cấu tạo và chức năng của da

I. CẤU TẠO CỦA DA

– Cấu tạo da gồm 3 lớp: lớp biểu bì, lớp bì (trung bì) và lớp mỡ dưới da (hạ bì).

1. Lớp biểu bì:

Lớp biểu bì bào gồm: tầng sừng và tầng tế bào sống

+ Nằm ở ngoài cùng của da.

+ Gồm những tế bào chết đã hóa sừng xếp sít nhau và dễ bong ra.

– Vào mùa hanh khô, ta thường thấy những vảy nhỏ trắng bong ra như phấn trắng đó chính là tế bào lớp ngoài cùng của da đã chết và hóa sừng bong ra.

+ Nằm dưới lớp sừng.

+ Lớp tế bào có khả năng phân chia tạo ra các tế bào mới thay thế lớp tế bào ở lớp sừng đã bong ra.

+ Có chứa sắc tố qui định màu sắc da. Tạo nên các màu da khác nhau

– Các tế bào ở lớp tế bào sống dễ hấp thụ tia UV của ánh sáng mặt trời → sạm da, đen da (hình thành sắc tố mealin)… thậm chí có thể gây ung thư da → cần phải bảo vệ da, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời quá lâu.

* Các sản phẩm của da

– Lông và móng là sản phẩm của da. Chúng được sinh ra từ các túi cấu tạo bởi các tế bào của tầng tế bào sống.

+ Tóc tạo nên lớp đệm không khí để chống tia tử ngoại, điều hòa nhiệt độ

+ Lông mày ngăn mồ hôi và nước

* Lưu ý: ta không nên lạm dụng kem, phấn, nhổ bỏ lông mày, dùng bút chì kẻ lông mày tạo dáng vì

+ Khi lạm dụng kem, phấn sẽ gây bít các lỗ chân lông và lỗ tiết chất nhờn, tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào da và phát triển gây bệnh cho da.

+ Không nên nhổ bỏ lông mày vì lông mày có vai trò ngăn không cho mồ hôi và nước chảy xuống mắt nếu nhổ bỏ lông mày thì nước và mồ hôi chảy xuống mắt có thể gây đau mắt và các bệnh về mắt.

2. Lớp bì

– Cấu tạo từ các sợi mô liên kết bện chặt, gồm có: thụ quan, tuyến nhờn, cơ co chân lông, lông và bao lông, tuyến mồ hôi, dây thần kinh, mạch máu và rất nhiều các thành phần khác.

Ví dụ: sợi collagen giúp da đàn hồi tạo nên sự săn chắc của da. Mức độ đàn hồi của các sợi collagen phụ thuộc vào từng lứa tuối làm biến đổi hình thái của da.

– Lớp bì có vai trò giúp cho:

+ Da luôn mềm mại và không thấm nước vì: các sợi mô liên kết bện chặt với nhau và trên da có nhiều tuyến nhờn tiết chất nhờn.

+ Trên da có các thụ cảm nằm dưới da, có dây thần kinh nên ta nhận biết được nóng, lạnh, độ cứng, mềm của vật mà ta tiếp xúc.

+ Da có phản ứng khi trời quá nóng hoặc quá lạnh: khi trời nóng: mao mạch dưới da dãn → tuyến mồ hôi tiết nhiều mồ hôi; khi trời lạnh: mao mạch dưới da co → cơ chân lông co lại.

3. Lớp mỡ dưới da

– Đặc điểm: chứa mỡ dự trữ, có vai trò cách nhiệt

II. CHỨC NĂNG CỦA DA

Da là lớp màng sinh học, không chỉ là vỏ bọc ngoài cơ thể mà còn có nhiều chức năng khác nhau:

– Điều hòa nhiệt độ cơ thể: giữ cho cơ thể luôn ở mức 37 0 C

– Bài tiết chất độc cơ thể: ure, ammonia, acid uric…

– Tạo vitamin D: giúp cho sự tăng trưởng và phát triển của xương

– Giữ ẩm cho cơ thể: tránh sự bốc hơi nước làm khô da

– Thu nhận cảm giác: nhờ vào những thụ cảm thể mà da có những cảm giác nóng, lạnh, đau…

Bài viết gợi ý:

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Thanh Quản / 2023

Thanh quản là cơ quan phát âm và thở, nằm ở trư­ớc thanh hầu, từ đốt sống C3 đến C6, nối hầu với khí quản vì vậy nó thông ở trên với hầu, ở dưới với khí quản.

Thanh quản di động ngay d­ưới da ở vùng cổ trư­ớc khi nuốt hoặc khi cúi xuống hoặc ngẩng lên. Nó phát triển cùng với sự phát triển của bộ máy sinh dục, nên khi trưởng thành thì giọng nói cũng thay đổi (vỡ giọng), ở nam giới phát triển mạnh hơn vì vậy giọng nói của nam, nữ khác nhau, nam trầm đục, nữ trong cao.

 Cấu tạo thanh quản

Cấu tạo giải phẫu: thanh quản đ­ược cấu tạo bởi các tổ chức sụn, sợi và cơ.Ngoài ra còn có hệ thống mạch máu và thần kinh.

Vai trò của thanh quản

. Phát âm.

- Lời nói phát ra do luồng không khí thở ra từ phổi tác động lên các nếp thanh âm.

- Sự căng và vị trí của nếp thanh âm ảnh h­ưởng đến tần số âm thanh.

- Âm thanh thay đổi là do sự cộng hưởng của các xoang mũi, hốc mũi, miệng, hầu và sự trợ giúp của môi, lư­ỡi, cơ màn hầu.

 Ho là phản xạ hô hấp trong đó thanh môn đang đóng bất thình lình mở ra, dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi.

 Nấc là một phản xạ hít vào, trong đó 1 đoạn ngắt âm kiểu hít vào đ­ược phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành, thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.

(Yduocvn.com)

* Tác dụng có thể khác nhau tuỳ cơ địa của người dùng

Cấu Tạo Và Chức Năng Nhân / 2023

Nhân (nucleus) được Brawn phát hiện vào năm 1831 và được xem là thành phần bắt buộc của tất cả tế bào động vật và thực vật. Cơ thể một số vi sinh vật không quan sát thấy nhân, nhưng tìm thấy trong tế bào vi khuẩn và cả siêu vi khuẩn những chất tương đồng đối với chất của nhân: protide nhân (nucleoprotide) phân tán trong tế bào chất.

Những công trình nghiên cứu hiển vi điện tử và di truyền vi sinh vật đã chứng minh các “chất nhân” của cơ thể vi sinh vật có chức năng giống như nhân của cơ thể đa bào.

Như vậy, nhân hoặc chất nhân là tổ chức cố định và bắt buộc của tế bào ở bất kỳ mức độ tổ chức nào của sinh vật.

Trong đời sống của tế bào có thể chia làm hai thời kỳ:

– Thời kỳ trao đổi chất.

– Thời kỳ phân chia nhân.

Mỗi thời kỳ nhân có cấu trúc riêng. Thời kỳ trao đổi chất nhân ở trạng thái không phân chia – trạng thái tĩnh. Thời kỳ phân chia nhân thay đổi để tiến tới sự phân chia nhân và phân chia tế bào.

Ở đây ta xét nhân ở thời kỳ trao đổi chất – thời kỳ nhân ở kỳ trung gian (interphase)

Tuyệt đại đa số tế bào có một nhân. Có nhiều tế bào có 2 hoặc 3 nhân (tế bào gan, tế bào tuyến nước bọt động vật có vú,…). Có những tế bào đa nhân, có khi hàng chục như tế bào đa nhân (megacaryocyte) trong tuỷ xương. Trái lại, cũng có những tế bào không có nhân như tế bào hồng cầu động vật có vú. Nhưng hồng cầu không nhân chỉ ở giai đoạn trưởng thành, giai đoạn non hồng cầu có nhân.

Hình dạng của nhân phụ thuộc vào hình dạng của tế bào. Tế bào hình cầu, hình khối,… nhân thường có dạng hình cầu (tế bào limpho). Tế bào hình trụ (như tế bào cơ) thì nhân có dạng dài hình bầu dục. Tuy vậy, trong nhiều loại tế bào nhân có hình dạng phức tạp. Ví dụ: tế bào bạch cầu có hạt nhân phân khúc hình thuỳ.

Hình dạng của nhân có thể thay đổi tuỳ chức năng của tế bào. Ví dụ: nhân của bạch cầu có hạt phân thuỳ phức tạp là để tăng bề mặt tiếp xúc của nhân với tế bào chất.

Tỷ số này cho thấy khi thể tích tế bào chất tăng thì thể tích nhân cũng tăng. Và khi cân bằng này bị phá vỡ là nguyên nhân kích thích sự phân chia tế bào.

Vị trí của nhân thay đổi theo trạng thái của tế bào, nhưng nói chung, vị trí của nhân là đặc trưng cho từng loại tế bào. Trong tế bào phôi, nhân thường nằm ở trung tâm; trong tế bào đã phân hóa nhân thay đổi vị trí tùy theo sự hình thành các chất dự trữ trong tế bào chất. Ví dụ: trong tế bào trứng giàu noãn hoàng, nhân thường nằm ở phần nền. Tuy nhiên, trong tế bào đã phân hóa thì dù cho nhân ở vị trí nào cũng đều được bao bởi tế bào chất.

Trong đa số tế bào sống, nhân có đặc tính đồng nhất quang học. Người ta chỉ phân biệt được màng nhân, chứa bên trong các thể hình cầu (1 hoặc vài thể) có tính chiết quang mạnh, đó là hạch nhân. Một số tế bào ở gian kỳ có thể quan sát được nhiễm sắc thể và còn có thể quan sát được các hạch và các búi khác nhau nằm trong dịch nhân (hình 10.1).

Trong tế bào tiêu bản (đã nhuộm màu), nhân có cấu trúc rất phức tạp. Cấu trúc hiển vi của nhân tuỳ thuộc rất nhiều vào phương pháp định hình và phương pháp nhuộm màu.

Trong tiêu bản ta có thể quan sát thấy:

– Màng nhân (nuclear membrane) phân cách rõ giới hạn nhân và tế bào chất.

– Hạch nhân (nucleolus) là các thể hình cầu, có đặc tính nhuộm màu kiềm; và đặc tính này tập trung cao ở hạch chất ribonucleoprotide.

– Chất nhiễm sắc (chromatin) là những cấu trúc sợi hoặc búi được đặc trưng bởi chất acid deoxyribonucleotide (ADN) của nhiễm sắc thể (chromosome) ở dạng tháo xoắn.

– Dịch nhân (nucleoplasma) là chất không nhuộm màu hoặc bắt màu hơi acid chứa đầy trong nhân.

2. Thành phần hoá học của nhân

Thành phần hoá học của nhân rất phức tạp, trong đó, nucleoprotide đóng vai trò quan trọng nhất. Đối với một số tế bào, nucleoprotide là thành phần chính của cấu trúc nhân (tinh trùng cá hồi 96%; 100% trong nhân một số hồng cầu).

Chất protein nhân có thành phần khá phức tạp, gồm 2 loại:

– Protein đơn giản có tính kiềm như: protamin, histon.

– Protein phi histon có tính acid.

Acid deoxyribonucleic (ADN) tập trung chủ yếu ở nhiễm sắc thể.

Acid ribonucleic có trong hạch nhân và trong dịch nhân.

3. Cấu trúc hiển vi và siêu hiển vi

Màng nhân ngăn cách nhân với tế bào chất bọc xung quanh nhân. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan giữa nhân và tế bào chất phần lớn phụ thuộc vào hoạt tính của màng nhân.

– Về tính chất, màng nhân khác với màng tế bào chất. Ví dụ: màng nhân khi bị phá huỷ không có khả năng hàn gắn lại. Màng nhân khi bị thương làm cho nhân chết và toàn bộ tế bào chết. Trái lại, màng tế bào khi bị tổn thương có khả năng phục hồi, hàn gắn lại.

– Về tính thấm, màng nhân cũng khác với màng tế bào. Ví dụ: có một số protein có thể thấm qua màng tế bào mà không thể thấm qua màng nhân được. – Về thành phần hoá học, màng nhân có cấu trúc từ các protein không hoà tan liên kết với lipid.

– Về cấu trúc, các nghiên cứu màng nhân dưới kính hiển vi điện đã chứng minh rằng màng nhân gồm 2 lớp màng (và đó là những túi, những tế bào chứa). Một màng hướng vào nhân gọi là màng trong, một màng hướng vào tế bào chất gọi là màng ngoài.

Giữa hai màng giới hạn bởi 1 xoang, gọi là xoang quanh nhân.

Độ dày chung của màng vào khoảng 100Å, của xoang từ 100 – 300Å. Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi một màng của màng nhân cũng gồm 3 lớp như màng tế bào chất (Yamamoto, 1963).

Màng ngoài có thể nối với mạng lưới nội sinh chất bằng các vi ống và hình thành một hệ thống ống thông với nhau. Qua hệ thống ống này, nhân có thể liên hệ trực tiếp với môi trường.

Màng nhân có cấu trúc không liên tục, nó có nhiều lỗ hình trụ, qua đó mà tế bào chất thông với nhân. Các lỗ có dạng hình phễu, đường kính mặt trong và mặt ngoài khác nhau – vào khoảng 50 – 100Å. Các lỗ phân bố đều với khoảng cách từ 500 – 1000Å.

Hệ thống lỗ có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất giữa nhân và tế bào chất. Vì các chất thấm qua lỗ là kết quả hoạt động tích cực của các chất chứa trong lỗ. Ngoài ra, hệ thống lỗ còn có chức năng nâng đỡ và cố định màng nhân.

Xoang quanh nhân có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình tổng hợp protid đối với các tế bào có mạng lưới nội sinh chất kém phát triển.

Chức năng: màng nhân tham gia vào quá trình tổng hợp và chuyên chở các chất, tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein vì mặt ngoài của màng nhân có đính các thể ribosome.

Khi quan sát tế bào đã được nhuộm màu, người ta thấy các cấu trúc chứa chất nhiễm sắc, đó là những chất có tính bắt màu đặc biệt đối với một số thuốc nhuộm. Ta có thể quan sát thấy từng sợi hay búi nằm trong nhân và làm thành mạng lưới. Các búi chất nhiễm sắc được gọi là tâm nhiễm sắc (chromocentre hoặc caryosome). Cấu trúc của chất nhiễm sắc có thể thay đổi ở các tế bào khác nhau của cùng 1 cơ thể, hoặc ở tế bào cùng loại của các cơ thể khác nhau.

Bản chất của chất nhiễm sắc là các ADN của nhiễm sắc thể (chromosome) ở dạng tháo xoắn.

Nhiễm sắc thể có hình dáng và kích thước đặc trưng chỉ ở kỳ giữa (metaphase) của sự phân bào. Nhiễm sắc thể gồm có ADN, các protein histone và các protein không histone của nhiễm sắc thể. Cả 3 thành phần gộp lại là chất nhiễm sắc.

Như vậy, cấu trúc chất nhiễm sắc của nhân ở gian kỳ chính là nhiễm sắc thể ở kỳ phân chia, nhưng ở trạng thái ẩn.

Trong thời kỳ tế bào không phân chia (gian kỳ), bao giờ chúng ta cũng quan sát thấy hạch nhân. Ở tiền kỳ, hạch nhân hoà tan vào trong nhân và biến mất; đến đầu mạt kỳ, hạch nhân lại xuất hiện ở dạng các thể dính với nhiễm sắc thể và đến gian kỳ tiếp theo, hạch nhân được hình thành trở lại.

Hạch nhân thường có dạng hình cầu, nhưng cũng có thể biến đổi. Độ lớn của hạch nhân thay đổi tuỳ theo trạng thái sinh lý của tế bào, chủ yếu là tuỳ thuộc vào cường độ tổng hợp protein. Ở tế bào mà cường độ tổng hợp protein mạnh thường hạch nhân lớn hoặc nhiều hạch nhân và ở tế bào cường độ tổng hợp protein yếu thì ngược lại.

Cấu trúc hiển vi của hạch nhân

– Cấu trúc: trên tiêu bản dưới kính hiển vi thường, hạch nhân thường có cấu trúc đồng dạng. Hạch nhân có cấu trúc sợi và các sợi tập hợp thành mạng lưới. Giữa các sợi có phân bố các chất đồng dạng (Zsinvagorg, 1948). Cấu trúc siêu hiển vi của hạch nhân gồm 2 pha xen kẽ:

+ Cấu trúc sợi gồm các nucleonem.

+ Và các hạt nằm trên nucleonem.

Cấu trúc sợi và hạt này nằm trong chất đồng dạng.

Các chất nucleonem tương đối ổn định đối với từng loại tế bào và tạo thành các bó sợi có đường kính 1200Å. Các hạt nằm trên nucleonem có đường kính vào khoảng 150 – 200Å. Ở một chừng mực nào đó, tỷ lệ giữa sợi và hạt tương ứng với cường độ tổng hợp ARN trong tế bào. Ở tế bào tổng hợp protein mạnh thì hạt nhiều và ngược lại.

Dẫn liệu về kính hiển vi điện tử cũng đã cho biết hạch nhân không có màng bao bọc, nghĩa là hạch nhân nằm trần trong dịch nhân.

Thành phần hoá học của hạch nhân

– Quan trọng nhất là ARN. ARN của hạch nhân thay đổi tùy từng loại tế bào và tuỳ trạng thái sinh lý của tế bào. ARN của nhân tế bào chủ yếu nằm trong hạch nhân.

– Protein: hàm lượng lớn, chiếm từ 80 – 90%. Chủ yếu là phosphoprotein. Ngoài ra, protein liên kết với ARN để hình thành ribonucleproteide có trong thể ribosome của nhân.

– Lipid: chủ yếu là phospholipid.

– Các enzyme: có nucleosid – diphosphorilase, enzyme tham gia tổng hợp ADN, ATPase,…

– ADN: chứa các gen mã hoá cho rARN của ribosome.

Hạch nhân tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein của nhân. Hạch nhân cũng là nơi tổng hợp rARN của tế bào. rARN được tổng hợp trên các locut của nhiễm sắc thể “miền tạo hạch nhân” trên khuôn ADN, sau đó, được tích trữ trong hạch nhân trước khi đi ra tế bào chất.

Thành phần của dịch nhân gồm có các loại protide khác nhau và các enzyme.

– Các protide như: glucoprotide, nucleoprotide, chủ yếu là ribonucleoprotein, trong đó, ARN chiếm 40 – 50%. – Các enzyme: enzyme trong dịch nhân gồm 3 nhóm:

+ Các enzyme đường phân như aldolase, enolase và dehydrogenase glyceraldehyd 3 phosphatase.

+ Các enzyme tham gia vào quá trình trao đổi acid nucleotide như: ADN – polymerase tham gia tổng hợp ADN và ARN – polymerase tham gia tổng hợp ARN, đặc trưng là mARN-+.

– Các enzyme tham gia quá trình trao đổi nucleosid như: ademozin dezaminase, nucleosid phosphorilase và guanase các enzyme này có trong nhân với hàm lượng đặc biệt cao. Một số enzyme khác như arginase… chỉ có trong một số tế bào.

Chức năng của nhân được thể hiện ở 2 mặt:

– Truyền và tích thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (bảo đảm tính liên tục di truyền).

– Điều hoà và điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào (đảm bảo sự thực hiện thông tin di truyền trong đời sống tế bào).

Truyền và tích thông tin di truyền ở đây muốn nói sự nhân đôi ADN nhân đôi nhiễm sắc thể với sự phân phối bộ nhiễm sắc thể (đã được nhân đôi) về hai tế bào con.

Điều hoà và điều khiển hoạt động sống của tế bào chính là điều hoà và điều khiển các quá trình tổng hợp protein, trong đó có nhiều enzyme xảy ra trong tế bào chất, vì nhân chứa ADN và các loại ARN cần thiết để tổng hợp protein. Các tARN, rARN và mARN đều được tổng hợp trong nhân trên khuôn ADN và được chuyển ra tế bào chất để tổng hợp protein.

Các protein xây dựng nên các cấu trúc của tế bào cũng như điều hoà các phản ứng sinh hoá, qua đó, thể hiện các hoạt động sống của tế bào cũng như tính đặc trưng của cơ thể.

1. Phạm Phan Địch, Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Kính (1984), Tế bào học, Mô học, Phôi

sinh học, Nxb Y học, Hà Nội.

2. Nguyễn Như Hiền, Trịnh Xuân Hậu (2000), Tế bào học, Nxb Đại học quốc gia

3. Phạm Thành Hổ (1995), Sinh học đại cương – Tế bào học, Di truyền học, Học

thuyết tiến hoá, Tủ sách Đại học tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.

4. Phạm Thành Hổ (1999), Di truyền học, Nxb Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh.

5. Phạm Thành Hổ (2002), Sinh học đại cương – Tế bào học, Di truyền học, Học

thuyết tiến hoá, Nxb Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cấu Tạo Và Chức Năng Của Bìu / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!