Đề Xuất 1/2023 # Cam Thảo, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Cam Thảo # Top 1 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 1/2023 # Cam Thảo, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Cam Thảo # Top 1 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cam Thảo, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Cam Thảo mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tên khác

Tên thường gọi: Còn có tên là bắc cam thảo, sinh cam thảo, quốc lão.

Tên Hán Việt: Quốc lão, Linh thảo, Lộ thảo (Bản Kinh), Mỹ thảo, Mật cam (Biệt Lục), Thảo thiệt (Thiệt Tịch Thông Dụng Giản Danh), Linh thông (Ký Sự Châu), Diêm Cam thảo, Phấn cam thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Điềm căn tử (Trung Dược Chí), Điềm thảo (Trung Quốc Dược Học Thực Vật Chí), Phấn thảo (Quần Phương Phổ), Bổng thảo (Hắc Long Giang Trung Dược), Cam thảo bắc (Dược Liệu Việt Nam).

Tên khoa học: Clycyrrhiza uralensis fish và Glycyrrhixa glabra L.

Họ khoa học: Thuộc họ cánh bướm Fabaceae

Cây cam thảo

(Mô tả, hình ảnh cây cam thảo, phân bố, thu hái, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả cây

Cây cam thảo là một cây thuốc quý. Cam thảo là một cây sống lâu năm thân có thể cao tới 1m hay 1.5m. Toàn thân cây có lông rât nhỏ. Lá kép lông chim lẻ, lá chét 9-17, hình trứng, đầ nhọn, mép nguyên, dài 2-5.5 cm. Vào mùa hạ và mùa thu nở hoa màu tím nhạt, hình cánh bướm dài 14-22 mm. Quả giáp cong hình lưỡi liềm dài 3-4 cm, rộng 6-8 cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông. Trong quả có hai đến 8 hạt nhỏ dẹt, đường kính 1.5-2 mm màu xám nâu, hoặc xanh đen nhạt, mặt bóng.

Phân bố, địa lý:

Hiện nay ở Hoa bắc, Tây bắc, Đông bắc Trung Quốc đều có xản xuất nhiều và chất lượng tốt hơn cả, nhất là Dân Cần, Khánh Dương, Trấn Nguyên tỉnh Cam Túc, Dân Biên tỉnh Thiểm Tây, Dương Cao, Ôn Minh tỉnh Sơn Tây, Kiến Bình, Bắc Tiêu, Phú Tân tỉnh Liêu Ninh, chuyên khu Bạch Thành tỉnh Cát Lâm, Triệu Châu, An Đạt tỉnh Hắc Long Giang, chuyên khu Trương Gia khẩu tỉnh Hà Bắc và ở Thanh Hải, Tân Cương sản xuất rất nhiều (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Cây đã được di thực trồng ở miền bắc Việt Nam.

Thu hái, sơ chế:

Vào tháng 2-8 đào rễ phơi khô, mùa thu đông tốt hơn. Sau khi đào về xếp thành đống, để cho lên hơi men làm cho rễ có màu vàng sẫm hơn cho đẹp. Phần dùng làm thuốc: Rễ hoặc thân rễ phơi hay sấy khô (Radix Glycyrrhizae).

Mô tả dược liệu:

Tên cam thảo vì cam là ngọt, thảo là cỏ: cỏ có vị ngọt.

Cam thảo là rễ và thân rễ phơi hay sấy khô của cây cam thảo nguồn gốc vùng Uran hay cây cam thảo châu âu

Rễ cam thảo hình trụ tròn không phân nhánh, thẳng, dài khoảng 30cm, đường kính 0,8-2cm. Mặt ngoài màu nâu đất hay đỏ nâu, có nhiều nếp nhăn dọc và lỗ vỏ nằm ngang lồi lên, lưa thưa có vết của rễ con. Mặt bẻ có sợi. Mặt cắt ngang màu vàng nhạt, để lộ lớp bần mỏng, tầng sinh gỗ và tia tủy tỏa tròn. Mùi đặc biệt, vị ngọt dịu (Dược Tài Học).

Bào chế: – Sinh thảo:

Rửa sạch nhanh đồ mềm, xắt thành lát mỏng 2mm, khi còn nóng nếu không kịp xắt thì nhúng ngay vào nước lạnh, ủ mềm cho dễ xắt, rồi sấy hoặc phơi khô (Trung Dược Đại Từ Điển). – Chích thảo: Sau khi sấy khô rồi tẩm mật ong (cứ 1kg Cam thảo phiến thì dùng 200g mật pha thêm 200ml nước đun sôi), tẩm rồi sao vàng cho thơm. Hoặc nếu dùng ít, có thể cắt khúc 5-10cm cuộn vài lần giấy bản nhúng qua nước sôi cho đủ ướt, vùi vào tro nóng, khi thấy giấy khô hơi s m thì bỏ giấy, xắt lát mỏng (Trung Dược Đại Từ Điển).

– Bột cam thảo: Cạo sạch vỏ ngoài xắt miếng tròn sấy khô tán thành bột mịn.

+ Khi dùng Cam thảo nếu dùng rượu tẩm chưng từ giờ tỵ (9-11g) đến giờ ngọ (11 – 13g) rồi lấy ra phơi nắng, gĩa nát để dùng (Lôi Công Bào Chích Luận) hoặc xắt lát lấy sữa tẩm rồi sao giòn, đỏ, vàng mà dùng (Lôi Công Bào Chích Luận).

+ Chích Cam thảo đều dùng nước chảy dòng sông sao tẩm đến khi nóng vàng, khử đỏ đi là được hoặc dùng nước tương sao nóng, không có sữa tô để sao thì chưng với rượu (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Theo kinh nghiệm bào chế của Trung Quốc ngày xưa có 3 cách thức:

a) Phấn cam thảo: Cạo sạch vỏ, ngâm rượu độ 1 giờ, ủ độ 12 giờ, xắc mỏng chừng 2 ly. Phơi khô.

b) Lão cam thảo: ngâm nước độ 4 giờ (mùa đông 8 giờ) ủ kín cho mềm xắt mỏng phơi khô.

c) Chích cam thảo: Rửa qua ủ mềm, xắt mỏng lấy mật ong cho thêm một phần nước sôi tẩm vào Cam thảo vớt ra một lúc sao vàng không dính tay là đạt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Cách dùng:

Dùng sống có tác dụng thanh hỏa trong những chứng đau họng, đinh nhọt. Dùng chích (sao mật) có tác dụng bổ trung chữa những chứng tz hư ỉa lỏng, vị hư khát nước, phế hư mà ho. Tẩm mật sao có tác dụng nhuận bổ. Bảo quản: Để nơi khô ráo, kín gió.

Thành phần hóa học:

+ Trong Cam Thảo có Glycyrrhetinic acid Glycyrrhizin, Uralenic acid, Liquiritigenin, Isoliquitigrenin, Liquiritin, Neoliquiritin, Neoisoliquiritin, Licurazid (Trung Dược Học). + Glycyrrhizin, 18b-Glycyrrhetic acid, Glucuronic acid, Glycyrrhizic acid (Lâu Chi Sầm, Dược Học Học Báo 1954, 2: 121).

+ Uralsaponin (Trương Như [, Dược Học Học Báo 1986, 21)7): 510).

+ Licorice-Saponin A3, B2, C2, D3, E2, F3, G2, H2, J2, K2 (Lsao Kitagawa và cộng sự, Chem Pharm Bull 1988, 36 (9): 3710). + Liquiritigenin, Liquiritin, Isoliquiritigenin, Isoliquiritin, Neoliquiritin, Neoisoliquiritin (Litvinenko V I và cộng sự, C A 1956, 62: 8286b).

Tác dụng dược lý

Tác dụng như loại corticoit: Cam thảo có tác dụng giữ muối NaCl và nước trong cơ thể, bài thải Kali gây phù, làm tăng huyết áp ( Tạp chí Y học Trung hoa 1956,42(8):770-773).

Tác dụng chống loét đường tiêu hóa: Trên thực nghiệm súc vật, cao lỏng nước chiết xuất Cam thảo đều có tác dụng chống loét, ức chế tiết acid dịch vị do có tác dụng ức chế histamin, làm vết loét chống lành.

Tác dụng chống co thắt đối với cơ trơn ống tiêu hóa ( Dược học học báo 1963,10:688-698). Năm 1956,H.Berger và H.Holler đã thí nghiệm so sánh nước Cam thảo với tác dụng của Papaverin clohydrate thì kết quả là 1/450 và 1/3.100.

Tác dụng nội tiết tố dục tính: năm 1950, Christopher H. Costello ( chúng tôi Pharmaceut. ASS) đã báo cáo trong Cam thảo có chất tác dụng như nội tiết tố dục tính đối với âm đạo chuột bạch.

Tác dụng kháng khuẩn: Cồn chiết xuất Cam thảo và acid glycuronic trong ống nghiệm có tác dụng ức chế các loại tụ cầu vàng, trực khuẩn lao, trực khuẩn coli, amip và trùng roi. Cam thảo còn có tác dụng kháng viêm. Thành phần kháng viêm chủ yếu là glycyricin và acid glycuronic. Và trên mô hình gây phản ứng dị ứng cho chuột Hà lan, thuốc có tác dụng ức chế với mức độ khác nhau. Các tác giả cho rằng tác dụng làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch, kháng histamin và làm tính phản ứng của tế bào đối với kích thích.

Tác dụng đối với khả năng thực bào của tế bào thực bào ổ bụng của chuột nhắt. Nếu chuột ở trạng thái bị kích thích ( lạnh, nóng, đói) tức là sức chống đỡ của cơ thể yếu, Cam thảo có tác dụng làm tăng khả năng thực bào, còn nếu chuột ở trạng thái yên tĩnh thì thuốc lại có tác dụng ức chế. Nói lên tác dụng bổ của Cam thảo chỉ khi nào cơ thể suy nhược, còn lúc khỏe thì ảnh hưởng không tốt. Một chất chiết xuất từ Cam thảo gọi là Lx ( là Glucoprotein khác với Acid glycuronic) tiêm vào tĩnh mạch chuột nhắt sẽ làm giảm số tế bào có tác dụng miễn dịch và sinh kháng thể ức chế tác dụng miễn dịch.

Glycyricin của Cam thảo có tác dụng làm hạ mỡ rõ rệt nhưng không có tác dụng phòng xơ mỡ động mạch.

Cam thảo cùng dùng với Sài hồ có tác dụng chống thoái hóa mỡ ở gan.

Cam thảo còn có tác dụng giải nhiệt, chống lợi niệu và trên thực nghiệm có tác dụng chống rối loạn nhịp tim.

Độc tính của Cam thảo rất thấp. Cao lỏng Cam thảo cho chuột lớn và thỏ uống trong 40 ngày theo dõi nhiễm độc bán cấp, đã phát hiện cân nặng tăng, tuyến thượng thận hơi teo và chức năng giảm. Cam thảo uống liều cao xuất hiện bụng đầy, kém ăn và rối loạn tiêu hóa. Chất thủy phân glycyricin có tác dụng dung huyết.

Vị thuốc cam thảo

(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh…)

Tính vị:

+ Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh). + Không độc (Biệt Lục).

+ Sống: vị ngọt, tính bình; Chích: vị ngọt, tính ôn (Trân Châu Nang).

+ Vị ngọt, tính bình, không độc [sau khi sao với mật thì có tính ấm+ (Trung Dược Học).

Quy kinh:

+ Vào kinh túc Quyết âm Can, túc Thái âm Tz, túc Thiếu âm Thận (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Vào kinh Tâm, Tz (Lôi Công Bào Chích Luận).

+ Vào kinh thủ Thái âm Phế, túc Thái âm Tz (Bản Thảo Kinh Giải).

Tác dụng:

+ Kiện cân cốt, trưởng cơ nhục, bội lực, giải độc (Bản Kinh).

+ Ôn trung, hạ khí, chỉ khát, thông kinh mạch, lợi khí huyết, giải độc bách dược (Biệt Lục).

+ An hồn, định phách, bổ ngü lao, thất thương, thông cửu khiếu, lợi bách mạch, ích tinh, dưỡng khí (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Thông hành 12 kinh, có thể ích khí, hoãn cấp, giải độc, nhuận phế (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). + Bổ trung, ích khí, nhuận Phế, chỉ khai, hoãn cấp, chỉ thống, thanh nhiệt, giải độc (Trung Dược Học)

Chủ trị liều dùng:

+ Trị Tz vị suy nhược, Táo nhiệt thương tổn tân dịch, ho khan, họng đau, họng viêm, đinh nhọt sưng độc, trúng độc, Cam thảo sảo (Mút cam thảo) cầm được tiểu đau rát (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Trị tỳ Vị hư yếu, Tâm khí hư, mạch Kết, mạch Đại, ho suyễn, họng sưng đau, giải độc thuốc, thức ăn, đau cấp, hoãn (Trung Dược Học).

Liều dùng: Dùng 4g- 80g.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc cam thảo

Cam thảo được dùng rất nhiều trong các bài thuốc đông y: vì Cam thảo có tác dụng điều hòa tính vị của các vị thuốc khác trong bài thuốc. Ví dụ: dùng với Hoàng liên thì làm cho thuốc bớt đắng hàn, trong bài Tam ảo thang, Cam thảo ngoài tác dụng chỉ khái hóa đờm còn có tác dụng làm bớt vị cay của Ma hoàng, vị đắng của Hạnh nhân, trong bài Điều vị thừa khí thang, Cam thảo có tác dụng làm giảm tác dụng xổ mạnh của Đại hoàng, Mang tiêu.v..v.. hoặc Cam thảo dùng với Bán hạ, Cam thảo dùng với Tế tân cũng chủ yếu làm giảm bớt vị cay tê của các vị thuốc kia. Ngoài ra vị Cam thảo ngọt nên thường dùng trong nhi khoa để cho thuốc dễ uống.

Dùng Cam thảo trong các bài thuốc bổ khí để tăng thêm tác dụng bổ khí như trong bài Tứ quân, Bổ trung ích khí.: Cam thảo cùng dùng với Hoàng kỳ, Nhân sâm làm tăng thêm tác dụng bổ khí của Sâm kỳ, để bổ khí thường dùng Chích Cam thảo.

Dùng trị chứng tâm huyết khí bất túc sinh chứng mạch kết, mạch đại ( rối loạn nhịp tim) dùng bài Chích Cam thảo thang ( Phục mạch thang):

Chích Cam thảo thang ( Thương hàn luận): Chích Cam thảo 16g, Thục địa 30g, Mạch môn, A giao, Ma nhân, Đảng sâm, Quế chi mỗi thứ 12g, Sinh khương 12g, Đại táo 4 quả, sắc uống. Bài thuốc có tác dụng kiện tỳ dưỡng tâm, ích khí bổ huyết.

Trị các chứng viêm nhiễm: ung nhọt sưng tấy, hầu họng sưng đau, viêm tuyến vú, phế ung ( ápxe phổi), chàm lở, lở mồm.

Dùng Sinh Cam thảo. Thường phối hợp với các loại thuốc thanh nhiệt giải độc như trị ung nhọt, dùng với Bồ công anh, Kim ngân hoa, Liên kiều. Trị hầu họng sưng đau, gia Cát cánh, Huyền sâm, Ngư tinh thảo, Sơn đậu căn, Xạ can, Ngưu bàng tử.

Trị bệnh Addison:

Diệp duy pháp và cộng sự dùng nước sắc Cam thảo, ngày 3 lần, mỗi lần 3 – 5ml ( có thể dùng 8 – 10ml, uống 25 – 40 ngày, chỉ dùng Cam thảo 33 ca, dùng thêm corticoit 16 ca đều có kết quả, nhẹ thì dùng Cam thảo, nặng có thể bớt lượng corticoit ( Học báo trường Đại học Y khoa Bạch cầu an 1978,4:54).

Trị loét dạ day tá tràng:

Mỗi lần uống cao lỏng Cam thảo 15ml, ngày 4 lần, liền trong 6 tuần. Trị 100 ca có kết quả tốt 90%, kiểm tra X quang 58 ca, 22 ca hết ổ loét, 28 ca chuyển biến tốt ( Tạp chí Nội khoa Trung hoa 1960,3:226).

Dùng chế phẩm Cam thảo có 5% kẽm ( Zinc), dược lý chứng minh có chống loét, dùng trị 247 ca loét, uống ngày 3 lần, mỗi lần 0,25 – 0,5g, có kết quả trên 90% ( Thông báo Dược học 1987,3:150).

Trị lao phổi:

Cam thảo sống 18g, sắc còn 150ml chia 3 lần uống30 – 90 ngày, kết hợp thuốc chống lao . Trị 23 ca kết quả tốt, 32 ca tiến bộ, không có ca nào xấu đi ( Y dược Giang tây 1965,1:562).

Trị viêm gan:

Trị viêm gan B mạn tính, dùng viên Cam thảo Glycyricin, trị 330 ca có kết quả 77%, tỷ lệ kháng nguyên e chuyển âm tính 44,8%. Thực nghiệm chứng minh thuốc làm giảm thoái hóa mở và hoại tử tế bào gan, giảm phản ứng viêm của tổ chức gian bào, tăng tế bào gan tái sinh, hạn chế sự tăng sinh của tổ chức liên kết, nhờ đó mà giảm tỷ lệ xơ gan ( Thông báo Trung dược 1987,9:60).

Trị rối loạn nhịp tim:

Dùng Cam thảo sống, chích Cam thảo, Cam thảo mỗi thứ 30g, mỗi ngày 1 thang, sắc chia sớm tối 2 lần uống. Trường hợp bất thường ra mồ hôi, bứt rứt, mất ngủ, tự cảm thấy nóng lạnh thất thường, uống trước bài Quế chi gia Long cốt mẫu lệ thang rồi uống thuốc này. Trị 23 ca loạn nhịp thất đều kết quả tốt, ca uống là 3 chén, nhiều là 12 chén thì hết triệu chứng, điện tâm đồ trở lại bình thường ( Học báo Học viện Trung y Bắc kinh 1983,2:24).

Trị lưng chân đau:

Trị 27 ca đau cấp và mạn tính dùng thủy châm huyệt vùng đau bằng dịch Cam thảo 300% 4ml, cách nhật 4 – 7 lần là một liệu trình, đối với bệnh cấp 1 liệu trình, bệnh nhân mạn 2 liệu trình. Kết quả 20 ca hết đau, vận động tốt, 7 ca giảm hoặc cơ bản hết triệu chứng ( Tạp chí Trung y Triết giang 1980,2:60).

Trị cơ cẳng chân run giật:

Dùng cao lỏng Cam thảo người lớn mỗi một lần 10 – 15ml, ngày 3 lần, trong 3 – 6 ngày. Trị 254 ca có kết quả rõ rệt 241 ca, tỷ lệ 94,8% ( Tạp chí ngoại khoa Trung hoa 1960,4:354).

Trị xuất huyết tiểu cầu:

Mã trọng Lân trị 8 ca giảm tiểu cầu nguyên phát, 5 ca mỗi ngày dùng Cam thảo 30g, 3 ca mỗi ngày 15g, sắc chia uống 3 lần uống, phần lớn dùng 2 – 3 tuần. Kết quả tốt 3 ca, có kết quả 4 ca, tiến bộ 1 ca. Toàn bộ bệnh nhân sau khi dùng thuốc 3 – 4 ngày hết chảy máu, sau 4 – 10 ngày, các điểm xuất huyết lặn ( Tạp chí Nội khoa Trung quốc 1981,11:704).

Trị nhiễm độc thức ăn:

Dùng Sinh Cam thảo 9 – 15g, sắc nước chia 3 – 4 lần uống trong 2 giờ, một số rất ít có sốt gia bột Hoàng liên 1g, trộn nước thuốc uống, trường hợp nhiễm độc nặng dùng Cam thảo 30g sắc cô còn 300ml, mỗi 3 – 4giờ xông thụt dạ dày 100ml và rửa dạ dày, truyền dịch( Báo Tân Trung y 1985,2:34).

Trị ăn phải độc quả Bồ hòn 55 ca, ăn độc quả Lệ chi núi 179 ca, nhiễm độc thịt vịt quay không sạch 204 người, đều có kết quả tốt ( Cam thảo điều trị 454 ca nhiễm độc thức ăn, Hoàng nhuệ Thương).

Trị đái nhạt:

Mỗi lần uống bột Cam thảo, ngày uống 4 lần, dùng trị 2 ca kết quả tốt ( Báo cáo của Anh Hồng, Tạp chí Nội khoa Trung hoa 1959,12:1169).

Trị viêm họng mạn:

Dùng Cam thảo sống 10g ngâm nước sôi uống như nước trà, hết ngọt bỏ đi, uống liên tục cho đến hết triệu chứng. Kiêng ăn cá, ớt, đường, bệnh nhẹ uống 1 -2 tháng, nặng uống 3 – 5 tháng. Đã trị 38 ca, khỏi 34 ca, tốt 4 ca ( Tống Viễn Trung, Cam thảo ẩm trị viêm họng mạn, Học báo học viện Trung y Vân nam 1983,1:20).

Trị viêm tuyến vú:

Dùng Sinh Cam thảo, Xích thược mỗi thứ 30g, mỗi ngày 1 thang sắc uống liên tục, uống 1 – 3 thang. Trị viêm tuyến vú cấp ( chưa có mủ), 27 ca có kết quả tốt ( Thi Vĩnh Phát, Cam Xích thang trị viêm tuyến vú cấp. Tạp chí Y dược Hồ nam 1976,2:58).

Trị viêm tắc tĩnh mạch:

Cao lỏng Cam thảo mỗi ngày 15ml, hoặc Cam thảo 50g ( giảm lượng tùy bệnh), sắc phân 3 lần, uống trước bữa ăn. Đã trị 3 ca có 1 ca do có việc nên phải ra viện, còn các ca khác đều khỏi, các triệu chứng đau, phù và nổi tĩnh mạch tại chỗ đều hết ( Trương Thạch sanh, Quan sát kết quả điều trị viêm tắc tĩnh mạch bằng Cam thảo, Tạp chí Ngoại khoa Trung hoa 1959,7:656).

Trị chứng nứt da:

Cam thảo 50g ngâm cồn 75% 200ml sau 24 giờ, bỏ xác, cho glycerin 200ml, lúc dùng rửa sạch chỗ nứt, bôi thuốc vào. Đã trị 100 ca, theo dõi 50 ca trong 2 năm không tái phát 36 ca, sau 1 năm không tái phát 11 ca, 3 ca không kết quả ( Lý Cảnh Dục, Cam thảo ngâm cồn trị nứt da, Báo Tân Y học 1974,1:45).

Một số bài thuốc khác có Cam thảo:

Kavet chữa đau bao tử: Cao Cam thảo 0,03g, bột Cam thảo 0,1g, Nảti bicarbonat 0,15g, Magné carbonat 0,2g, bismutnitrate basic 0,5g, bột Đại hoàng 0,02g, tá dược vừa đủ 1 viên. Chữa loét dạ dày với liều 2 – 4 viên/lần, ngày 2 – 3 lần.

Cao Cam thảo 2 phần, nước cất 1 phần hòa tan, ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 thìa nhỏ, không uống lâu quá 3 tuần lễ, chữa loét bao tử.

Cao Cam thảo mềm: chữa các chứng mụn nhọt, ngộ độc, ngày uống 1 – 2 thìa con.

Tham khảo

Lưu ý, kiêng kị khi dùng cam thảo

Cam thảo tiêu là phần ngọn của thân rễ Cam thảo có tác dụng liệu niệu, trị nhiệt lâm ( viêm niệu đạo cấp) hoặc do hỏa thịnh gây nên tiểu ít và đỏ, đau niệu đạo ( hành trung thống). Những trường hợp sau, cần thận trọng lúc dùng Cam thảo: thấp thịnh ( bụng đầy nôn, phù trướng.), trường hợp lợi tiểu trừ thấp, thông hạ cần có tác dụng nhanh không nên phối hợp Cam thảo.

Dùng Cam thảo với Hải tảo. Sách xưa có nói 2 vị thuốc tương phản tác dụng nhưng trong cổ phương cũng có phối hợp sử dụng như trong bài Hải tảo ngọc hổ thang ( Y tông kim giám) trị anh lựu Cam thảo và Hải tảo cùng dùng. Trên thực tiển hiện nay, dùng chung trị bệnh bướu giáp cũng thấy có phản ứng phụ.

Về vấn đề Cam toại , Đại kích, Nguyên hoa phản Cam thảo. Căn cứ vào tư liệu kết quả thực nghiệm gần đây cho biết, lúc phối hợp Cam thảo Cam toại, nếu Cam thảo lượng bằng hoặc ít hơn Cam toại thì không có tác dụng tương phản, có lúc còn giảm bớt tác dụng phụ của Cam toại, nhưng nếu lượng Cam thảo lớn hơn Cam toại thì tác dụng tương phản( Nghiên cứu thực nghiệm Trung dược 18 phản, Trích yếu Luận văn hội nghị học thuật khoa học Sinh lý Trung quốc 136,1964).

Cũng có kết quả thực nghiệm thông báo sau khi dùng Cam thảo và Cam toại hỗn hợp, chuột to có phản ứng mạnh ( bao tử chướng khí và con vật chết) Theo Bước đầu nghiên cứu 18 phản của Trung dược phòng dược Bệnh viện Trung tâm số 1 Thiên tân, Tạp chí Y dược Thiên tân 687-690,1960). Đại kích, Nguyên hoa và Cam thảo cùng dùng thì tác dụng lợi tiểu và tả hạ của thuốc giảm rõ và có xu hướng làm tăng độc tính của Nguyên hoa. Tỷ lệ Cam thảo càng cao, tác dụng tương phản càng mạnh, ngược lại nếu lượng Cam thảo ít thì không có tác dụng tương phản ( Theo bài nghiên cứu thực nghiệm Trung dược 18 phản), Trên lâm sàng thường không nên dùng phối hợp.

Phân biệt Cam thảo bắc với Cam thảo dây, Cam thảo nam:

Cam thảo dây còn gọi là Tương tư đằng, dây cườm, dây chi chi ( Abrus precatorius L.) thuộc họ Cánh bướm ( Fabaceae Papilionaceae) thường dùng rễ và lá thay Cam thảo bắc ở nhiều nước (ở Việt nam, Aán độ, Mỹ.) trong các đơn thuốc nhưng chưa hợp lý.

Tại một số nước như Giava giã hạt đắp lên mụn nhọt cho chóng vỡ mủ, chữa nhức đầu, tê thấp.

Tại Ấn Độ và Malasia lá sắc uống chữa tê thấp, gỗ làm thuốc bổ.

Tại Campuchia vỏ cây dùng chữa lỵ

Cam thảo nam còn có tên là Dã Cam thảo, Thổ Cam thảo, Giã Cam thảo ( Scoparia dulcis L.) thuộc họ Hoa mõm chó ( Scrophulariaceae) cũng thường dùng thay Cam thảo bắc. Có tài liệu Ấn Độ nói trong cây có một hoạt chất là Amelin dùng uống để chữa các triệu chứng Acidose của bệnh đái đường. Có nơi dùng thay Cam thảo bắc để chữa sốt, say sắn độc. Tại Malasia nhân dân dùng làm thuốc chữa ho. Tại Braxin lấy nước ép Cam thảo nam thụt chữa bệnh tiêu lỏng và uống chữa ho.

Liều dùng tùy tiện thường là 30 – 100g, sắc uống riêng hoặc phối hợp.

Nơi mua bán vị thuốc Cam thảo bắc đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Cam thảo bắc ở đâu?

Cam thảo bắc là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao. Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Cam thảo bắc được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Cam thảo bắc tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn:

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

Cách thức mua bán

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám: Cơ sở 1: Số 482, lô 22C, Lê Hồng Phong, Ngô Quyền, Hải Phòng

Tag: cay cam thao bac , vi thuoc cam thao bac , cong dung cam thao bac , Hinh anh cay cam thao bac , Tac dung cam thao bac , Thuoc nam

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************

Tác Dụng Và Tác Hại Của Cam Thảo

Từ xa xưa cam thảo đã là một vị thuốc khá quen thuộc với nhiều người, vì nó có tác dụng bồi bổ, tăng trọng lượng của cơ thể, duy trì sức khỏe dẻo dai.

Cam thảo có tác dụng bồi bổ cơ thể, giảm cholesterol, giải độc, bảo vệ gan, ức chế sự phát triển của tế bào ung thư, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Tính năng của cam thảo sẽ thay đổi tùy cách sao chế: Khi nướng lên thì có tính ấm, có thể dùng chữa Tỳ vị hư nhược, kém ăn, đau bụng do tiêu chảy, ho do yếu phổi, sốt do mệt mỏi…Nếu dùng sống thì cam thảo có tính mát, có thể giải nhiệt, hạ hỏa cho cơ thể, chữa loét đường tiêu hóa, giải độc. Đặc biệt, cam thảo có khả năng hỗ trợ giải chất độc của độc tố uốn ván.

Cam thảo mang lại nhiều lợi ích, nhưng điều đó không có nghĩa nó hoàn toàn có lợi. Dùng cam thảo không đúng cách sẽ gây hại cho cơ thể.

Vào mùa hè, nhiều người sử dụng nhân trần và cam thảo để làm nước uống hàng ngày, điều này hoàn toàn sai lầm. Theo Đông y, nhân trần có vị cay, đắng, tính hàn dùng để mát gan, giảm đau đầu, cảm nhiệt. Cả cam thảo và nhân trần đều có những tác dụng tốt nhưng khi phối hợp lại với nhau sẽ gây hại, bởi cam thảo có tính chất giữ nước trong khi nhân trần lại giúp đào thải. Chính vì vậy, thói quen uống nhân trần cho thêm cam thảo tiềm ẩn nguy hại bởi tương tác thuốc, nhất là bệnh tăng huyết áp.

Cam thảo kết hợp với nhân trần có thể gây ra ít sữa hoặc mất sữa ở phụ nữ có thai, ngoài ra, do nhân trần có tính lợi tiểu nên sẽ thải nhiều các chất dinh dưỡng và lượng nước bị thải thường xuyên sẽ mất chất dinh dưỡng để nuôi thau, khiến thai bị suy dinh dưỡng, dễ bị đẻ non và dị tật thai nhi.

Đối với nam giới, nếu dùng cam thảo với liều lương trên 8g/ngày trong thời gian kéo dài sẽ gây bất lực, giảm miễn dịch, tăng huyết áp và viêm loét dạ dày.

Các trường hợp như viêm thận, người bị tăng huyết áp, huyết áp không ổn định cũng không nên dùng cam thảo. Những người bị táo bón lâu ngày, người cao tuổi, người viêm phế quản, ho nhiều, khó thở cũng tốt nhất không nên sử dụng cam thảo.

Các trường hợp khác, mỗi ngày chỉ nên dùng một gói trà có cam thảo, không nên dùng những loại trà chưa cam thảo như trà bát bảo, nhân trần thay nước lọc./.

Lợi Ích Sức Khỏe Của Rễ Cam Thảo

Lợi ích sức khỏe của rễ cam thảo

I. TỔNG QUAN VỀ RỄ CAM THẢO

Rễ cam thảo, còn được gọi là rễ ngọt, được sử dụng chủ yếu như một chất làm ngọt trong kẹo và đồ uống. Người ta cũng đã sử dụng rễ cây cam thảo trong nhiều thế kỷ vì lợi ích dược liệu của nó.

Cộng đồng y tế bắt đầu chấp nhận nhiều hơn về lợi ích tổng thể của cam thảo. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là nghiên cứu y học đã không chứng minh được một số lợi ích sức khỏe này.

Cam thảo có sẵn ở nhiều dạng, có chứa Glycyrrhizin hoặc là cam thảo Deglycyrrhiziated (DGL).

II. LỊCH SỬ CỦA RỄ CAM THẢO

Từ “cam thảo” đề cập đến rễ của một loại cây được gọi là Glycyrrhiza glabra. Nó có nguồn gốc từ châu Âu và châu Á. Cây này thực sự được phân loại là một loại cỏ dại trong các khu vực đó.

III. CÁC LỢI ÍCH SỨC KHỎE CỦA RỄ CAM THẢO 1. Làm dịu dạ dày của bạn

Rễ cam thảo được sử dụng để làm dịu các vấn đề về đường tiêu hóa. Trong trường hợp ngộ độc thực phẩm, loét dạ dày và ợ nóng, chiết xuất rễ cây cam thảo có thể tăng tốc độ sửa chữa niêm mạc dạ dày và khôi phục lại sự cân bằng. Điều này là do các đặc tính kháng viêm và tăng cường miễn dịch của Acid Glycyrrhizic.

Một nghiên cứu cho thấy Acid Glycyrrhizic có thể ức chế vi khuẩn độc hại H. pylori và có thể ngăn chặn nó phát triển trong ruột. Ngoài ra còn có nghiên cứu cho thấy những người mắc bệnh loét dạ dày tá tràng, ợ nóng hoặc viêm dạ dày đã cải thiện các triệu chứng khi dùng Deglycyrrhiziated (DGL).

DGL là dạng cam thảo an toàn hơn và có thể dùng lâu dài nếu cần.

2. Làm sạch hệ hô hấp của bạn

Người ta cũng khuyến nghị dùng cam thảo để điều trị các vấn đề về hô hấp. Uống cam thảo như một chất bổ sung qua đường miệng có thể giúp cơ thể sản xuất chất nhầy khỏe mạnh. Tăng sản xuất đờm có vẻ trái ngược với hệ thống phế quản khỏe mạnh. Tuy nhiên, điều trái ngược này lại đúng. Việc sản xuất đờm sạch, lành mạnh giữ cho hệ hô hấp hoạt động mà không bị chất nhầy cũ, dính làm tắc nghẽn nó.

3. Giảm căng thẳng

Theo thời gian, căng thẳng có thể khiến tuyến thượng thận suy kiệt do liên tục sản xuất Adrenaline và Cortisol. Bổ sung cam thảo có thể cung cấp cho tuyến thượng thận một số trợ giúp. Chiết xuất rễ cây cam thảo có thể kích thích tuyến thượng thận, giúp tăng cường mức độ Cortisol lành mạnh trong cơ thể.

4. Hỗ trợ điều trị ung thư

Một số nghiên cứu cho biết rễ cây cam thảo có khả năng hỗ trợ điều trị ung thư vú và tuyến tiền liệt. Và một số thực hành y tế của Trung Quốc cũng kết hợp nó vào điều trị ung thư. FDA vẫn chưa phê duyệt các phương pháp điều trị như vậy ở Hoa Kỳ. Nhưng, nghiên cứu đang diễn ra, theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ.

5. Bảo vệ da và răng của bạn

Gel bôi ngoài da có chứa cam thảo được khuyên dùng để điều trị bệnh chàm. Nhờ đặc tính kháng khuẩn mà cam thảo có thể điều trị thành công da liễu. Vì lý do đó, các bác sĩ đa khoa thường đề nghị áp dụng cam thảo trong điều trị sâu răng để tiêu diệt vi khuẩn.

IV. LIỀU LƯỢNG VÀ CÁC DẠNG THUỐC

Chiết xuất cam thảo là hình thức phổ biến nhất của cam thảo. Nó được sử dụng như một chất làm ngọt thương mại trong kẹo và đồ uống.

Một người uống chiết xuất cam thảo không được vượt quá 30 mg / mL Acid Glycyrrhizic. Uống nhiều hơn có thể gây ra tác dụng phụ không mong muốn.

Cam thảo bột có thể pha chế thành một loại thuốc mỡ bôi ngoài làm sạch da.

Ở dạng bột, cam thảo đặc biệt hữu ích trong việc điều trị bệnh chàm và mụn trứng cá.

Liều lượng khuyến cáo của rễ cam thảo là ít hơn 75 miligam mỗi ngày, theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Lá cây cam thảo, sấy khô và nghiền thành trà, đã trở nên phổ biến. Bạn có thể mua các loại trà này tại các siêu thị hoặc cửa hàng thực phẩm sức khỏe và trực tuyến.

Phương thuốc chữa viêm họng phổ biến được gọi là trà Throat Coat là sự kết hợp của rễ marshmallow, rễ cam thảo và vỏ cây du.

Người ta khuyến cáo rằng mọi người không nên uống hơn 8 ounce trà cam thảo mỗi ngày.

DGL là cam thảo đã loại bỏ Glycyrrhizin, đây là một dạng an toàn hơn. DGL chỉ chứa không quá 2 phần trăm Glycyrrhizin. Dạng này được khuyến nghị dùng cho các triệu chứng tiêu hóa vì có thể cần uống lâu dài.

DGL có sẵn ở dạng viên nhai, viên nang, trà và bột. Tiêu thụ không quá 5 gram DGL mỗi ngày.

V. TÁC DỤNG PHỤ CÓ THỂ XẢY RA

Uống quá nhiều chiết xuất rễ cây cam thảo có thể dẫn đến lượng kali trong cơ thể thấp, gây ra yếu cơ. Tình trạng này được gọi là hạ kali máu.

Theo một số nghiên cứu, những đối tượng ăn quá nhiều rễ cây cam thảo trong thời gian hai tuần bị ứ dịch và bất thường về chuyển hóa.

Tiêu thụ quá nhiều cam thảo có thể gây ra huyết áp cao, sưng và nhịp tim không đều. Nhiều sản phẩm có vị cam thảo hiện nay bắt chước hương vị tự nhiên của cam thảo, nhưng một số vẫn được làm bằng Acid Glycyrrhizic.

Đã có trẻ em 10 tuổi phải nhập viện vì tăng huyết áp sau khi ăn quá nhiều cam thảo.

Phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú được FDA khuyên nên tránh cam thảo dưới mọi hình thức. Người bị tăng huyết áp cũng nên tránh dùng rễ cam thảo.

Giờ thì bạn đã biết lợi ích sức khỏe của rễ cam thảo rồi đó. Nó là một vị thuốc quen thuộc với người Việt Nam chúng ta nhưng ít ai biết rõ tác dụng của nó. Như chúng ta thấy, cam thảo rất tốt cho hệ tiêu hóa. Trong trường hợp ngộ độc thực phẩm, loét dạ dày và ợ nóng, chiết xuất rễ cây cam thảo có thể tăng tốc độ sửa chữa niêm mạc dạ dày và khôi phục lại sự cân bằng. Điều này là do các đặc tính kháng viêm và tăng cường miễn dịch của Acid Glycyrrhizic.

Qua nghiên cứu người ta thấy Acid Glycyrrhizic có thể ức chế vi khuẩn độc hại H. pylori và có thể ngăn chặn nó phát triển trong ruột. Ngoài ra còn có nghiên cứu cho thấy những người mắc bệnh loét dạ dày tá tràng, ợ nóng hoặc viêm dạ dày đã cải thiện các triệu chứng khi dùng Deglycyrrhiziated (DGL). Đó là lý do vì sao trong các bài thuốc đông y trị đau dạ dày, người ta thường thấy có vị cam thảo. Nhưng do có những tác dụng phụ không mong muốn, chúng ta không được tự ý dùng cam thảo để trị đau dạ dày. Đối với các bạn bị các chứng bệnh đau dạ dày hành hạ, có một loại thực phẩm chức năng hỗ trợ bạn chữa trị bệnh đau dạ dày rất hiệu nghiệm: “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Nghệ Micell ADIVA”. Sở dĩ Nghệ Micell được hàng triệu người tin tưởng là do thành phần chính của nó là hoạt chất Curcumin có trong củ nghệ.

Chúng ta vừa nhắc tới nghệ. Vâng, chắc các bạn bị viêm dạ dày không lạ gì loại củ cực kỳ hữu ích này.

Nếu bạn đang bị viêm da dày, hãy bổ sung Curcumin cho cơ thể, đây là hoạt chất vô cùng quan trọng nhằm đối phó với chứng bệnh đau dạ dày cực kỳ hiệu quả.

Vậy bổ sung Curcumin bằng cách nào?

Tuy nhiên, Curcumin thông thường không tan trong nước (độ tan 0,001%) nên tính khả dụng rất thấp. Vì vậy, nghệ viên ADIVA được ứng dụng công nghệ Nano-Micelles tạo ra những hạt phân tử Curcumin với kích thước siêu nhỏ chỉ 30nm và kết hợp thêm 1 nhóm phân tử Micelles có đầu ưa nước có khả năng hấp thu hoàn toàn vào cơ thể chỉ sau 1 giờ 10 phút. Chính vì thế phát huy sinh khả dụng gấp 185 lần so với tinh nghệ thông thường.

Ức chế vi khuẩn Helicobacter pylori.

Tái tạo niêm mạc dạ dày và hỗ trợ nhanh liền các vết loét.

Tăng bài tiết chất nhầy muncin giúp bảo vệ niêm mạc dạ dày.

Hiện công ty đang có chương trình KHUYẾN MÃI KHỦNG không chỉ cho Nghệ viên ADIVA mà các sản phẩm Collagen ADIVA, ADIVA GOLD và White ADIVA cũng được áp dụng các combo cực kỳ giá trị dành cho các fan thân thương của ADIVA.

Cam Thảo Và 20+ Tác Dụng Tuyệt Vời Bạn Cần Biết

Cam thảo ở nước ta hiện nay đang được sử dụng rất phổ biến. Đa số mọi người đều biết cam thảo loại khô có vị ngọt thanh và được dùng làm nước uống giúp thanh nhiệt. Tuy nhiên chúng còn có rất nhiều các tác dụng như chữa các bệnh về đường hô hấp, giải cảm, tốt cho tim phổi, điều trị loét dạ dày… Hôm nay chúng tôi sẽ giới thiệu toàn bộ các thông tin về Cam thảo để bạn đọc nắm được.

Cam thảo là thân hay rễ của cây Cam thảo được phơi khô hay sấy khô. Chúng được sử dụng rất thông dụng trong cuộc sống và trong đông y và tây y.

Cam thảo được chia làm 3 loại khác nhau: Cam thảo bắc, cam thảo dây và cam thảo nam. Mỗi loại sẽ có các hình dạng cây, cấu trúc và tác dụng khác nhau nên các bạn cần chú ý.

Còn được gọi là bắc Cam thảo, sinh cam thảo, quốc lão và có tên khoa học là Clycryrrhiza uralensis Fish và Glycyrrhiza glabra L. Chúng thuộc họ canh bướm Fabaceae ( Papilionaceae). Chúng có xuất xứ từ Uran ( Glycyrrhiza uralensis Fish) hay xuất xứ châu Âu Glycyrrhiza glabra L. Chúng được gọi tên là Cam thảo là do có vị ngọt, thảo là cỏ hay dịch ra là cỏ có vị ngọt.

Cam thảo bắc là loại cây sống lâu năm, chiều cao từ 1 đến 1.5m. Toàn thân có lông mỏng, lá kép lông chim lẻ, hình trứng đầu nhọn. Chiều dai của chúng từ 2-6 cm, chiều rộng từ 1.5-3 cm. Hoa của chúng được nở vào mùa thu hoặc hè có màu tím nhạt hình bướm dày từ 14-22 cm. Quả của chúng dài 3-4 cm rộng khoảng 6-8 cm màu nâu giáp cong hình lưỡi liềm, mặt có nhiều lông. Trong quả có từ 2-8 hạt nhỏ, dẹt, đường kính từ 1.5 đến 2 mm màu xanh đen hoặc xám nâu.

Cam thảo bắc được trông bằng hạt hoặc thân rễ, sau 4-5 năm có thể thu hoạch. Mùa thu hoạch tốt nhất là mùa xuân hoặc đông. Sau khi đào rễ họ sẽ xếp thành đống để cho lên hơn men cho chúng có màu hơi vàng.

Còn có tên gọi là tương tư tử, tương tư đằng, dây chi chi. tương tư đậu… Tên khoa học của Cam thảo dây là Abrus precatorius L, cũng thuộc họ canh bướm Fabaceae.

Cam thảo được dùng từ bộ phận Rễ và lá phơi khô, hạt của chúng cũng được sử dụng.

Cam thảo dây là loại dây leo, cành gầy nhỏ thân có nhiều xơ. Lá cây kép hình lông chim, chiều dài cả cuống từ 15-24 cm gồm 8-20 đôi lá chét, cuống chung ngắn. Lá chét hình giống hình chữ nhật dài 5 đến 20 mm, rộng từ 3 đến 8 mm. Hoa cây màu hồng mọc thành chùm nhỏ ở đầu cành hay kẽ lá. Quả thon dài 5cm rộng 12 đến 15mm, dầy từ 7-8 mm. Hạt của chúng hình trứng, vỏ cứng, bóng màu đỏ có 1 điểm đen lớn ( xem hình).

Cam thảo dây được mọc hoang và trồng ở nhiều nơi, ở Hà Nội chúng được bán thành bó dây và lá cam thảo. Rễ và hạt của loài này ít được thấy bầy bán.

Còn được gọi là dã cam thảo, thổ cam thảo, giả cam thảo. Tên khoa học của Cam thảo nam là Seoparia dulcis L thuộc họ hoa mõm chó Scrophulariaceae. Cam thảo nam (herba Sceopariae) sử dụng toàn bộ cây tươi hoặc khô ( phơi hoặc sấy).

Cam thảo nam là loại cây mọc thẳng đứng, cao từ 40 đến 80 cm, thân ngắn có rễ to hình trụ. Lá đơn mọc đối, hoặc 1 vòng 3 phiến lá, lá hình trứng lộn ngược hay hình mác rộng 8-12 mm, dài từ 1,5 đến 3 cm. Phía cuống hẹp dần, thành cuống ngắn, ở phần mép lá phía trên có răng cưa to, phía dưới thì bình thường. Hoa mùa trắng mọc ở kẽ lá, hoa thường được nở vào mùa hè, chúng mọc riêng lẻ hoặc thành đôi. Quả nhò hình cầu ở bên trong chứa nhiều hạt nhỏ.

Cây được mọc ở khắp Việt Nam có thể thu hái quanh năm, có thể dùng cả khô và tơi để làm các vị thuốc.

Thành phần hóa học của Cam thảo

Phân tích cho thấy thành phần hóa học trong Cam thảo bắc bao gồm : 25-30 % tinh bột, 11 – 30 mg vitaminC, 2.4 – 6.5% sacaroza, 3- 8 % glucoza, 0.3 – 0.35% tinh dầu và các chất anbuyminoit, gôm, nhựa.. Hoạt tính chính trong Cam thảo là glyxyridin ( glycyrrhizin) khoảng từ 6-14% có khi tới tận 24%. Glyxyrizic là muối của kali và canxi của muối glyxyric được các nhà bác học người Đức nghiên cứu và chiết suất từ năm 1819. Axit Glyxyretic không có vị ngọt tuy nhiên glyxyrizin và glyxyrizin kết hợp kiềm thổ hoặc amoniac thì ngọt hơn.

Lá và rễ của chú có chứa chất ngọt tương tự như Glyxyrizin trong rễ của Cam thảo bắc. Độ ngọt của chúng ít hơn và có một vị hơi nhặng đắng, tỉ lệ chất này khoảng 1-2 %. Hạt của chúng cứa chất protit độc là abrin C12H14N2O2, chất abralin H13H14O7 là gucozit có tinh thể men tiêu hóa và chất béo lipaza gồm 2.5% chất béo. Chất henagglutinin làm vón máu và nhiều men ureaza.

Trong cây có thành phần ancaloit và 1 loại chất đắng, trong cây còn có thành phần axit xilixic và chất amelin. Cây có vị ngọt nhưng ko có thành phần giống Cam thảo bắc.

Tác dụng của cây Cam thảo

Cam thảo trong tây y như một vị thuốc phụ trợ, để làm cho thuốc dễ uống nhưng trong đông y Cam thảo là thành phần của các đơn thuốc chữa rất nhiều bệnh. Chúng là thành phần vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên lâm sàng đã qua kinh nghiệm của dân gian.

2. Trị đau dạ dày, loét dạ dày

Cam thảo giúp đẩy nay quá trình làm lành vết loét dạ dày, nó được sử dụng như một thảo dược riêng biệt để trị bệnh tá tràng, loét dạ dày lâu năm. Một số nghiên cứu khoa học cho thấy Cam thảo deglycyrthizinate kết hợ với các kháng chất của acid giúp chữa lành các vết loét dạ dày. Các nhà khoa học cho rằng Cam thảo có thể bảo vệ được thành niêm mạc dạ dày bằng quá trình thúc đẩy các hoạt động của tế bào tiết dịch dạ dày. Nó bảo vệ niêm mạc dạ dày tiếp xúc với axit của dạ dày để có thể đẩy nhanh việc làm lành vết loét. Chất Flavonoid được chiết xuất từ Cam thảo có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn Hellicoacter pylori loại vi khuẩn làm loét dạ dầy.

3. Ngăn ngừa nhiễm vi khuẩn, virus

Cam thảo có khả năng làm tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể bằng cách kích hoạt interferon trong cơ thể. Đây là loại protein do cơ thể sinh ra khi virus tấn công, chúng ngăn chặn sự phát triển của các loại viru này. Do đó Cam thảo có khả năng tăng cường hệ thống miễn dịch, tăng khả năng phòng ngừa các loại virus, đặc biết là herpes sinh dục và herpes môi do virus herpes simplex gây ra. Cam thảo còn là thành phần ddeer điều chị viêm gan siêu vi chủ yếu là viêm gan B và C.

4. Bảo vệ tim

Cam thảo có khả năng kiểm soát cholesterol bằng cách tăng thành phần mật trong cơ thể. Acid mật là thành phần để loại bỏ cholesterol thừa trong cơ thể. Chúng còn có tác dụng ngăn chặn quá trình oxy hóa của cholesterol gây hại LDL đây là nguyên nhân chính gây ra các bệnh tim mạch

5. Làm da mềm, đẹp

Cam thảo có tác dụng làm đẹp cho da, giúp da mềm mại, chúng còn được sử dụng để chữa các bệnh về da. Cam thảo có tính khàng viêm nên được dùng để điều trị một số loại bệnh về da như: khô da, ngứa, vảy nến, viêm da, dị ứng.

6. Giảm các triệu trứng giai đoạn mãn kinh

Cam thảo có chứa estrogen và flavonoid và các kích thíc tố nữ. Các chết này có tác dụng làm giảm các triệu trứng khó chịu trong giai đoạn mãn kinh và tiền mãn kinh. Chúng có thể giúp giảm đau trước và trong thời kỳ kinh nguyệt.

Các bài thuốc từ Cam thảo

1. Trị bệnh viêm nhiễm như: u nhọt, sưng tấy, sưng họng, viêm tuyến vú, chàm lở, lở mồm

Dùng Sinh cam thảo kết hợp với một số loại thuốc thanh nhiện giải độc trị ung nhọt. Một số loại kết hợp như Liên kiều, Kim ngân hoa, Bồ công anh

2. Trị viêm loét dạ dày, tá tràng

Uống cao lỏng cao thảo khoảng 15ml, ngày 4 lần liên tục trong 6 tuần.

3. Trị lao phổi

Cam thảo 18 gam, sắc còn 150ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục 1-3 tháng kết hợp với thuốc chống lao.

4. Trị viêm gan

Dùng viên Cam thảo Glycyricin làm giảm hoại tử tế bào gan, giảm thoái hóa gan. Tăng tế bào gan tái sinh, hẹn chế sự tăng sinh của tố chức liên kết, do đó làm giảm sơ gan.

5. Trị rối loạn nhịp đập tim

Dùng Cam thảo sắc 30 gam mỗi ngày 1 tháng, sắc chia rang sáng tối. Trường hợp ra mồ hôi, mất ngủ, bứt rứt, nóng lạnh thất thường nên uống trước bài Quế chi gia Long cốt mẫu lệ thang, rồi mới uống thang này.

6. Trị lưng, chân đau

Châm huyệt vùng đau bằng dịch cam thảo 300% 4ml. Cách 4-7 ngày làm một lần đối với bệnh cấp 1 liệu trình.

7. Trị xuất huyết tiểu cầu

Cam thảo 30gam sắc uống chia 3 mỗi ngày, dùng liền trong 2-3 tuần.

8. Trị nhiễm độc thức ăn

Cam thảo sinh 9-15 gam, sắc nước chia 3 đến 4 lần uống trong 2 giờ. Trường hợp nặng hơn dùng 30 gam sắc cô còn 300ml, khoảng 3-4 giờ xông thụt dạ dày 100ml và rửa dày.

9. Trị đái nhạt

Uống bột cam thảo, ngày uống 4 lần.

10. Trị viêm học mạn

Cam thảo sống 10gam ngâm nước sôi uống như nướ tra, hết ngọt bỏ đi, uống liên tục đến khi hết bị. Kiên các loại thực phầm như cá, ớt đường. Bệnh nhẹ uống 1-2 tháng, nặng uống 3 đến 5 tháng.

11. Trị viêm tuyến vú

Cam thảo, xích dược mỗi loại 30 gam. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống từ 1 đến 3 thang.

12. Trị viêm tắc tính mạch

Cam thảo cô 15ml mỗi ngày hoặc cam thảo 50 gam sắc phân uống 3 lần trong ngày trước khi ăn.

13. Trị chứng nứt da

Cam thảo 50 gam ngâm cồn 75% 200ml, sau 24h bỏ xác cho glycerin 200ml. Rửa sạch vết nứt rồi bôi thuốc vào.

Chú ý khi sử dụng Cam thảo

Khi sử dụng cam thảo cần chú không được sử dụng quá liều lượng, do chứa glycyrthizin nên gây ra nhiều tác dụng phụ và có hại cho sức khỏe như:

Cao huyết áp

Hạ kali máu

Tiêu chảy và vấn đề về hệ tiêu hóa

Phù, giữ nước

Sử dụng nhiều Cam thảo cũng gây hại cho hệ thống tim và gan, chúng còn được chống chỉ định cho một số bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, gan thận… Phụ nữ mang thai cũng không nên sử dụng lại dược phẩm này.

Cam thảo cũng có thể phản ứng với một số các thành phần khác gây tác dụng không mong muốn. Một số chất không nên kết hớp:

Thuốc lợi tiểu

Warfari

Thuốc uống tránh thai

Thuốc trầm cảm

Thuốc cao huyết áp

Corticosteroid

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cam Thảo, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Cam Thảo trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!