Đề Xuất 1/2023 # Cẩm Nang Guitar: Kiến Thức Cơ Bản Về Guitar Điện # Top 8 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 1/2023 # Cẩm Nang Guitar: Kiến Thức Cơ Bản Về Guitar Điện # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cẩm Nang Guitar: Kiến Thức Cơ Bản Về Guitar Điện mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khi bạn muốn tìm kiếm cho mình cây đàn guitar điện đầu tiên, sẽ có rất nhiều lựa chọn cho bạn và để ra quyết định chọn mua một cây đàn có thể sẽ rất bối rối, cho dù bạn đã có nhiều năm chơi đàn guitar acoustic nhưng chưa biết gì về đàn guitar điện. Bài hướng dẫn này sẽ cung cấp kiến thức cơ bản của những cây guitar điện để giúp bạn có thể dựa vào đó mà đưa ra quyết định phù hợp nhất với bản thân.

DÁNG ĐÀN.

Khác với đàn guitar acoustic thường có thiết kế vẻ ngoài truyền thống, guitar điện có nhiều hình dáng khác nhau đến từ các thương hiệu khác nhau, việc lựa chọn dáng đàn sẽ phù thuộc vào sở thích cá nhân của mỗi người. Hai loại dáng đàn thường thấy nhất:

Single-cut: Những cây đàn chỉ có một phần khuyết ở bên dưới cây đàn để người chơi có thể dễ dàng chơi những nốt cao. Các cây đàn có dáng single-cut phổ biến: Fender Telecaster, Gibson Les Paul.

Double-cut: Một số dáng đàn sẽ có phần khuyết ở trên lẫn dưới cây đàn, phần khuyết phía trên có thể nhỏ hơn hoặc bằng phần khuyết bên dưới. Giúp cho người chơi có thể di chuyển ngón cái dễ hơn ở vị trí tiếp xúc cần đàn và thân đàn. Ngoài ra còn giúp cho cây đàn cân bằng hơn khi đeo dây đàn vì thiết kế đều hai bên. Các cây đàn có dáng double-cut phổ biến: Fender Stratocaster, Gibson SG, Gretsch Streamliner, PRS.

Các dáng đàn guitar điện rất đa dạng và độc đáo.

THÂN ĐÀN.

Guitar điện có rất nhiều loại thân đàn khác nhau và mỗi loại cho ra một âm thanh đặc trưng, có rất nhiều điều cần phải cân nhắc trước khi mua một cây đàn, ví dụ như bạn cần phải biết mình muốn một cây đàn thân solid (đặc) hay hollow (rỗng).

Solid: Những cây đàn guitar điện solid được biết là mang lại độ ngân dài hơn so với đàn hollow, và có thể khuếch đại âm thanh cực lớn mà không lo ngại về vấn đề âm thanh gặp hiện tượng feedback (hú). Vì những cây đàn solid không có không gian cộng hưởng như đàn hollow, nên âm thanh của chúng phụ thuộc chủ yếu vào amp. Ngoài ra đàn solid có khả năng hoạt động tốt với những pedal hiệu ứng hơn. Những cây đàn này không phụ thuộc vào không gian cộng hưởng nên hình dáng của chúng thường không ảnh hưởng đến âm thanh của cây đàn, nếu bạn muốn sở hữu một cây đàn có kiểu dáng thật đặc biệt, thì nó phải là một cây đàn solid.

Semi-hollow: Nằm giữa solid và hollow là guitar thân semi hollow. Có nhiều điểm thú vị của thân đàn semi-hollow, bao gồm âm thanh ấm áp mà nó mang lại, độ ngân tốt. Đàn semi-hollow có khả năng hoạt động tốt với amp, tuy nhiên đôi khi vẫn xảy ra hiện tượng feedback. Chúng thường có âm thanh sáng, dứt khoát như những cây đàn solid. Đàn semi-hollow vì có cấu trúc bán rỗng nên sẽ nhẹ hơn đàn solid.

Hollow: Đàn guitar hollow cho âm thanh hơi hướng như những cây đàn guitar acoustic phù hợp cho thể loại jazz và blues, vì vậy nên cũng thường xảy ra tình trạng mà những cây đàn acoustic gặp phải khi chơi qua dàn âm thanh là feedback, thậm chí tại mức âm lượng trung bình. Điểm nổi bật của đàn guitar hollow là âm thanh ấm áp, bass dày làm say mê nhiều người chơi.

SCALE ĐÀN, CẤU TẠO CẦN ĐÀN.

Cần đàn thường được gắn liền với thân đàn theo hai kiểu:

Độ dài scale (scale length) của cây đàn là chiều dài dây đàn có thể rung tự do trên cây đàn, được đo từ ngựa đàn đến lược đàn. Đàn guitar có scale dài thường cho cảm giác dây có độ căng cao hơn, âm thanh sáng và dải âm bass rõ ràng hơn. Trong khi scale ngắn cho dây đàn cảm giác ít căng hơn, dễ dàng thực hiện các kĩ thuật bend dây đàn hơn, phù hợp với ngưới chơi có bàn tay nhỏ. Đàn có scale ngắn thường cho âm thanh ấm áp hơn.

Bolt-on: cần đàn được cố định vào thân đàn bàn ốc vít, đây là phương pháp cấu tạo cần đàn có chi phí hiệu quả nhất. Nó cho phép dễ dàng sửa chữa và thay thế.

Set-neck: cần đàn được cố định vào thân đàn bằng keo. Phương pháp này sẽ ổn định hơn và cho cây đàn độ ngân và cộng hưởng tốt hơn, tuy nhiên sẽ khó hay thậm chí là không thể sửa chữa và thay thế.

NGỰA ĐÀN.

Ngựa đàn được gắn ở phần dưới của thân đàn guitar. Dây đàn tiếp xúc với ngựa đàn trước khi gắn vào thân đàn hay tailpiece. Ngựa đàn thiết kế để phù hợp cho các dây đàn độ dài, kích thước khác nhau đảm bảo rằng các dây vẫn giữ tune chuẩn với nhau. Ngựa đàn trện guitar điện thường cho phép điều chỉnh để các dây được tune chuẩn với nhau và các nốt nhạc tại các phím trên toàn bộ chiều dài của cần đàn đều chuẩn. Quá trình này được gọi là intonation, làm cho cây đàn chuẩn tại mọi vị trí phím đàn, và là một phần quan trọng của việc chỉnh một cây đàn cho hiệu suất tối ưu. Ngựa đàn cho phép điều chỉnh độ cao dây đàn so với mặt phím, thường gọi là action của cây đàn, action càng thấp thì càng dễ chơi, tuy nhiên nếu thấp quá sẽ gây ra âm thanh rè.

Eddie Van Halen là một tay guitar nổi bật với các kĩ thuật ứng dụng whammy bar.

Một số ngựa đàn tích hợp thanh whammy bar cho phép người chơi tăng hoặc giảm độ căng dây, tạo hiệu ứng vibrato bằng cách di chuyển whammy bar khiến cho ngựa đàn di chuyển lên hoặc xuống. Ngựa đàn này thường được gọi là tremolo (tuy nhiên thuật ngữ này không chính xác về mặt lý thuyết vì tremolo là hiệu ứng lặp lại âm thanh chứ không phải thay đổi cao độ, nhưng vẫn được chấp nhận và dùng để chỉ loại ngựa đàn này).

Hệ thống này gọi là ngựa đàn có cần nhún, phổ biến trên những cây đàn guitar điện. Với những người mới bắt đầu không nên chọn những cây đàn có cần nhún vì khó chỉnh và thậm chí việc thay dây đàn cũng rất khó khăn với những ai chưa có kinh nghiệm, ngựa đàn cố định sẽ phù hợp với những người mới bắt đầu hơn vì nguyên tắc hoạt động của nó tương tự như trên những cây guitar acoustic.

PICK-UP

Bên cạnh dáng đàn thì pick-up là yếu tố quan trọng trong việc quyết định âm thanh cảu một cây đàn guitar điện. Pick-up cấu tạo là nam châm có 6 cực tương ứng 6 dây đàn guitar được bao bọc bởi hàng ngàn vòng dây đồng. Khi dây đàn được đánh, dao động của dây đàn làm gián đoạn từ trường được tạo ra bởi các cực, từ đó tạo một tín hiệu điện sau đó được truyền đến bộ khuếch đại và tín hiệu được chuyển thành sóng âm thanh. Các loại pick-up thường thấy trên guitar điện:

Single-coil: Thiết kế pick-up cơ bản và được thiết kế đầu tiên trên thế giới là single-coil. Được cấu tạo từ một lõi nam châm được quấn dây đồng xung quanh, tạo ra một từ trường để bắt những dao động của dây đàn và biến chúng thành tín hiệu điện tử. Single-coil cho âm thanh sáng, thanh nhưng thường tạo ra âm thanh “hum” (nhiễu) và bị ảnh hưởng bởi từ trường.

Eric Clapton sử dụng pick-up Single-coil nhiều nhất trong sự nghiệp của mình.

Single-coil được sử dụng hầu hết trên những cây đàn Stratocaster của Fender và được ưa chuộng bởi những nghệ sĩ guitar như Eric Clapton, Stevie Ray Vaughan, John Mayer, Merle Travis…

Humbucker: được thiết kế để loại bỏ âm thanh “hum” mà single-coil mang lại và bên cạnh đó cung cấp âm thanh đặc trưng của riêng mình. Humbucker được thiết kế gồm hai pick-up single-coil nối với nhau với các cực của nam châm đối nghịch với nhau từ đó triệt tiêu được tiếng “hum”.

Âm thanh đặc trưng của Slash đến từ những chiếc pick-up Humbucker.

Humbucker thường có âm thanh dày, lớn, ấm hơn so với single-coil. Mặc dù rất linh hoạt, nhưng humbucker nổi bật nhất trong những thể loại jazz, rock, heavy metal. Những nghệ sĩ nổi tiếng với âm thanh của humbucker Slash, Jimmy Page, Joe Pass, Angus Young…

P90: là một loại pick-up single-coil nhưng có cấu tạo rộng và ngắn hơn những loại single-coil khác. Khiến cho âm thanh nó tạo ra mang đặc trưng ấm và ít sáng và gai góc hơn. Pick-up P90 là một dạng single-coil, vậy nên cũng gặp hiện tượng “hum”.

Pick-up switch và núm điều chỉnh

Active: Một số cây đàn guitar được trang bị pick-up active – pick-up cần sử dụng pin để vận hành và kết hợp một preamp để điều chỉnh âm sắc. Guitar với active pick-up thường có output cao hơn những pick-up passive (pick-up không cần cấp nguồn riêng) và cho ra âm thanh trong trẻo và âm lượng cao hơn.

Hầu hết các guitar điện đều có nhiều pick-up. Một số sẽ có hai hoặc ba pick-up single-coil, một số sẽ có hai hoặc ba pick-up humbucker. Một số hãng cung cấp cấu hình kết hợp giữa single-coil và humbucker, cho người chơi tùy chỉnh âm thanh cây đàn đa dạng hơn. Cấu hình pick-up thường được viết tắt bằng S cho single-coil và H cho humbucker.

Vị trí của pick-up trên guitar có tác động đáng kể đến âm thanh mà nó tạo ra. Pick-up nằm ngựa đàn (bridge pick-up) cho âm thanh treble thanh và sáng hơn thường dùng để chơi lead, trong khi pick-up nằm gần cần đàn (neck pick-up) mang đặc trưng âm thanh ấm và dày thích hợp cho lối chơi rhythm.

Những cây đàn với nhiều pick-up sẽ có một switch (3 chiều cho đàn 2 pick-up và 5 chiều cho đàn 3 pick-up) cho phép người chơi lựa chọn cũng như kết hợp hai hoặc nhiều pick-up cùng một lúc tùy thuộc vào loại đàn. Các nút điều khiển này có thể là các núm xoay, cần gạt cho phép người chơi chuyển đổi nhanh chóng các kết hợp pick-up khác nhau trong quá trình biểu diễn.Ngoài việc lựa chọn pick-up, các cây đàn guitar sẽ có các nút điều khiển âm lượng và tone.

LOẠI GỖ.

Khác với guitar acoustic thùng đàn đóng vai trò là bảng cộng hưởng nên loại gỗ làm đàn sẽ đóng vai trò quyết định âm thanh của cây đàn, thì âm thanh guitar điện được tạo ra chủ yếu do sự tương tác giữa dây đàn và pick-up. Bạn có thể thắc mắc vậy gỗ làm thân đàn có đóng góp gì cho âm thanh của cây đàn không? Trên thực tế, gỗ có một tác động đáng kể trong việc tạo nên sự khác biệt trong âm thanh của những cây đàn guitar khác nhau. Sự cộng hưởng từ gỗ sẽ quyết định dây đàn sẽ dao động như thế nào và trong bao lâu. Các loại gỗ phổ biến được sử dụng làm thân đàn guitar:

Hy vọng những chia sẻ trên của chúng tôi đã giúp bạn có được cái nhìn tổng quát và những kiến thức bổ ích về đàn guitar điện. Bài viết được quan tâm:

Mahogany: là một loại gỗ rất dày đặc, cứng cáp thường được sử dụng làm tất cả các bộ phận của cây đàn ngoại trừ ngựa đàn và mặt phím – bộ phận yêu cầu loại gỗ cứng hơn. Cần đàn và mặt sau làm từ gỗ mahogany thường thấy trên guitar có scale ngắn với mặt top từ maple. Một sự kết hợp phổ biến khác là all-mahogany (tất cả bộ phận cây đàn đều làm từ mahogany trừ mặt phím). Mahogany cho âm thanh ấm áp, êm dịu và có độ cộng hưởng tốt giúp gia tăng độ vang của cây đàn.

Maple: là loại gỗ phổ biến nhất được sử dụng để làm cần đàn. Nó rất cứng và dày đặc, và thường có vân hạt chi tiết hấp dẫn. Maple cũng có âm thanh tổng thể rất tươi sáng. Nhờ vẻ ngoài có vân quyến rũ và đặc điểm âm của nó thường được sử dụng làm một lớp trang trí trên mặt top (veneer) cho những dòng guitar đắt tiền hơn. Độ cứng của nó giúp cải thiện tiếng treble trong âm thanh của guitar, thường được sử dụng làm mặt phím.

Rosewood: là loại gỗ phổ biến nhất được sử dụng cho mặt phím guitar điện. Nó là rất dày đặc và cứng và có vẻ ngoài đẹp, màu sắc đa dạng từ gần như màu đen sang màu nâu và vàng. Rosewood đôi khi được sử dụng làm thân đàn guitar điện, nhưng điều này làm cho cây đàn guitar khá nặng.

Ebony: là một loại gỗ rất cứng, dày đặc chủ yếu được sử dụng làm mặt phím trên những cây đàn guitar đắt tiền. Nó có một cảm giác chơi mượt mà và có màu đen hoàn toàn.

Ash: là một chấ t liệu làm thân đàn phổ biến cho guitar điện. Nó cứng hơn mahogany và có độ cộng hưởng tốt. Điều này giúp cho cây đàn có độ ngân lâu, âm thanh tươi sáng với dải âm thanh tầm trung rõ. Một loại gỗ màu sáng với vân hạt hấp dẫn, nó thường được hoàn thiện trong suốt để giữ vẻ đạp tự nhiên của gỗ.

Alder: có các đặc điểm về tông màu tương tự nhưAsh, nhưng có giá thành thấp hơn và vẻ ngoài không nổi bật bằng. Alder cũng là một trong những loại gỗ làm thân đàn phổ biến nhất cho guitar điện.

Các Thành Phần Cơ Bản Của Một Cây Guitar Điện

Ngày nay, Guitar điện là nhạc cụ không thể thiếu trong các lễ hội âm nhạc như Jazz, Rock n Roll hay Country… Về cơ bản, Guitar điện có cấu tạo không khác nhiều so với các cây đàn Guitar 6 dây Acoustic hoặc Classical bình thường. Tuy nhiên, phương thức phát âm thanh của Guitar điện có khác một chút ở điểm sử dụng điện tử để bắt tần số âm thanh và khuếch đại chúng qua các bộ lọc âm, do vậy âm thanh phát ra phong phú hơn nhiều các dạng Guitar thùng không cắm điện.

1. Sơ lược về đàn ghita điện:

2. Các bộ phận cơ bản của đàn guitar điện:

Ngoài ra, cần của ghita điện thường có 22-24 có thể lên đến 28 ngăn, khuynh hướng thường nhỏ dần từ đầu đàn đến thân đàn. Ghita điện thuộc bộ dây, âm vực thấp hơn hoặc bằng 4 quãng tám. Nó là sản phẩm tổng hợp từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của đàn từ 97 cm đến 102 cm. Ở Mỹ, người ta đã nhiều lần thử nghiệm nhạc cụ này từ thập niên 1920 đến thập niên 1930. Ban đầu, nó là một ghita thùng gắn bộ khuếch âm ở thân đàn. Đến đầu thập niên 1950, Paul Bigsby và sau đó là Leo Fender đã cải tiến thành đàn ghita rắn đặc với hình dạng như ngày nay ta thường thấy.

Ghita điện thường được diễn tấu chủ yếu theo phong cách nhạc nhẹ. Tùy vào từng thể loại, từng dòng nhạc mà guitar điện được chế tạo theo những nét riêng biệt một cách phù hợp nhất. Với người chơi jazz, blues, cây ghi-ta có 3 pick-ups đơn ( single-coiled pick-ups) tạo ra âm sắc lạnh và “leng keng” rất được ưa chuộng. Còn với những người chơi nhạc rock, cây ghi-ta có 2 pick-ups kép ( humbuckle tone) tạo nên âm sắc trầm ấm, dày dặn có tính kim loai đặc trưng luôn là lựa chọn số 1.

3. Chất liệu làm ghita điện:

Dây đàn của guitar điện được làm bằng thép, hợp kim của kim loại hoặc niken, chất liệu sử dụng để làm dây guitar điện hầu hết phải đảm bảo có từ tính tốt nhất. Chất liệu sản xuất dây đàn guitar điện sẽ ảnh hưởng đến việc tạo âm cũng như ảnh chất lượng âm thanh của đàn.

Kiến Thức Cơ Bản Về Động Cơ Bước

Trong bài viết này sẽ trình bày những kiến thức cơ bản về động cơ bước. Bạn sẽ được tìm hiểu về nguyên lý làm việc, cấu tạo, phương pháp điều khiển, ứng dụng và các loại động cơ bước cũng như ưu nhược điểm của nó.

Cơ bản về động cơ bước

Động cơ bước (Stepper Motor) là một động cơ điện có đặc điểm chính là trục của nó quay bằng cách thực hiện các bước, tức là bằng cách chuyển động theo một lượng độ xác định. Tính năng này có được nhờ vào cấu trúc bên trong của động cơ và cho phép biết chính xác vị trí góc của trục bằng cách chỉ cần đếm các bước có thể đã được thực hiện như thế nào mà không cần đến cảm biến. Đặc điểm này cũng làm cho động cơ bước phù hợp với nhiều loại ứng dụng.

Nguyên lý làm việc của động cơ bước

Như tất cả các động cơ điện khác, động cơ bước có phần tĩnh (stato) và phần quay (rotor). Trên stato có các răng trên mỗi răng có quấn các vòng dây. Các cuộn dây pha có cực tính khác nhau. Rotor là một nam châm vĩnh cửu hoặc một lõi sắt có từ trở biến đổi. Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn các loại cấu trúc rotor khác nhau ở phần sau. Hình 1 là hình vẽ thể hiện mặt cắt của động cơ, trong đó rotor là loại từ trở biến đổi.

Hình 1

Nguyên lý làm việc cơ bản của động cơ bước như sau: Động cơ bước hoạt động dựa trên nguyên lý điện từ. Bằng cách cấp điện cho một hoặc nhiều pha của stato, một từ trường được tạo ra bởi dòng điện chạy trong cuộn dây và rotor thẳng hàng với từ trường này. Khi các pha được cấp điện theo thứ tự thì rotor sẽ quay theo một lượng xác định để đạt được vị trí cuối cùng mong muốn. Hình 2 mô tả nguyên lý làm việc của động cơ. Lúc đầu cuộn dây A được cấp điện và rotor thẳng hàng với từ trường mà nó sinh ra. Khi cuộn dây B được cấp điện, rotor quay theo chiều kim đồng hồ một góc 60° để thẳng hàng với từ trường mới. Điều tương tự xảy ra khi cuộn dây C được cấp điện. Trong hình, màu sắc của răng stato cho biết hướng của từ trường do cuộn dây stato tạo ra.

Hình 2

Các loại động cơ bước và cấu tạo

Hiệu năng của động cơ bước – cả về độ phân giải (hay kích thước bước), tốc độ và mô-men xoắn – bị ảnh hưởng bởi các chi tiết cấu tạo, đồng thời có thể ảnh hưởng đến cách điều khiển động cơ. Trên thực tế, không phải tất cả các động cơ bước đều có cấu trúc bên trong (hoặc cấu tạo) giống nhau, bởi vì có các cấu hình rotor và stato khác nhau.

Rotor

Đối với động cơ bước, về cơ bản có ba loại rotor:

Rotor nam châm vĩnh cửu: Rotor là một nam châm vĩnh cửu thẳng hàng với từ trường do mạch stato tạo ra. Cấu trúc này cho phép động cơ có mô-men xoắn và cả mô-men hãm tốt. Điều này có nghĩa là động cơ sẽ kháng lại, ngay cả khi không quá mạnh, đối với sự thay đổi vị trí bất kể cuộn dây có được cấp điện hay không. Hạn chế của cấu trúc này là động cơ bước có tốc độ và độ phân giải thấp hơn so với các loại động cơ khác. Hình 3 mô tả một mặt cắt của một động cơ bước nam châm vĩnh cửu.

Hình 3

Rotor từ trở biến đổi: Rotor được làm bằng lõi sắt và có hình dạng cụ thể cho phép nó thẳng hàng với từ trường (Hình 1 và Hình 2). Với giải pháp này, động cơ dễ dàng đạt được tốc độ và độ phân giải cao hơn, nhưng mô-men xoắn thường phát triển thấp hơn và không có mô-men hãm.

Rotor lai (Hybrid): Loại rotor này có cấu tạo đặc trưng và là sự kết hợp giữa nam châm vĩnh cửu và các phiên bản từ trở biến đổi. Rotor có hai nắp với các răng xen kẽ, và được từ hóa theo trục. Cấu hình này cho phép động cơ có những ưu điểm của cả nam châm vĩnh cửu và phiên bản từ trở biến đổi, đặc biệt là độ phân giải, tốc độ và mô-men xoắn cao. Hiệu năng cao hơn này đòi hỏi một cấu trúc phức tạp hơn, và do đó chi phí cao hơn. Hình 4 cho thấy một ví dụ đơn giản về cấu trúc của loại động cơ này. Khi cuộn dây A được cấp điện, một răng của nắp được từ hóa N thẳng hàng với răng được từ hóa S của stato. Đồng thời, do cấu trúc của rotor nên răng được từ hóa S ăn khớp với răng được từ hóa N của stato. Động cơ thực tế có cấu tạo phức tạp hơn, với số răng nhiều hơn so với trong hình, dù nguyên lý hoạt động của động cơ bước là giống nhau. Số lượng răng cao cho phép động cơ đạt được kích thước bước nhỏ, đến 0,9°.

Hình 4

Stator

Stato là bộ phận của động cơ có nhiệm vụ tạo ra từ trường thẳng hàng với từ trường của rotor. Các đặc điểm chính của mạch stato bao gồm số pha và số cặp cực của nó, cũng như cấu hình dây. Số pha là số cuộn dây độc lập, trong khi số cặp cực cho biết các cặp răng chính được sử dụng như thế nào bởi mỗi pha. Động cơ bước hai pha được sử dụng phổ biến nhất, trong khi động cơ ba pha và năm pha ít phổ biến hơn (xem Hình 5 và Hình 6).

Hình 5: Stator hai pha (trái) và Stator ba pha (phải)

Hình 6: Stator hai pha, cặp đơn cực (trái) và  stator hai pha, cặp lưỡng cực (phải).

Điều khiển động cơ bước

Chúng ta đã biết rằng các cuộn dây của động cơ bước cần được cấp điện theo một trình tự cụ thể nhằm tạo ra từ trường thẳng hàng với từ trường của rotor. Một số thiết bị được sử dụng để cung cấp điện áp cần thiết cho các cuộn dây, và do đó cho phép động cơ hoạt động bình thường. Bắt đầu từ các thiết bị gần động cơ hơn, chúng ta có:

Mạch cầu H dùng transistor là thiết bị vật lý được dùng để điều khiển sự kết nối điện của các cuộn dây động cơ. Các transistor có thể được xem như là các công tắc được điều khiển bằng điện, khi công tắc đóng lại (transistor dẫn) cho phép kết nối cuộn dây với nguồn cung cấp điện và do đó có dòng điện chạy trong cuộn dây. Một mạch cầu H là cần thiết cho mỗi pha động cơ.

Bộ tiền điều khiển (Pre-Driver) là một thiết bị điều khiển sự kích hoạt của các transistor, cung cấp điện áp và dòng điện cần thiết, nó được điều khiển bởi một MCU.

MCU là một bộ

vi điều khiển

, thường được lập trình bởi người sử dụng động cơ và tạo ra các tín hiệu cụ thể cho bộ tiền điều khiển để có được hoạt động mong muốn của động cơ.

Hình 7 mô tả đơn giản sơ đồ điều khiển động cơ bước. Bộ tiền điều khiển và mạch cầu H có thể được chứa trong một thiết bị duy nhất, được gọi là bộ điều khiển/bộ lái (driver).

Hình 7

Các loại bộ điều khiển (lái) động cơ bước

Hiện nay trên thị trường có các bộ điều khiển động cơ bước khác nhau, với các tính năng khác nhau cho các ứng dụng cụ thể. Các đặc điểm quan trọng nhất bao gồm giao diện đầu vào. Các tùy chọn phổ biến nhất là:

Bước / Hướng – Bằng cách gửi một xung vào chân Step (bước), bộ điều khiển thay đổi đầu ra của nó để động cơ sẽ thực hiện một bước, hướng của bước này được xác định bởi mức logic trên chân Direction (hướng).

Pha / Cho phép (enable) – Đối với mỗi pha cuộn dây stato, pha xác định hướng dòng điện và kích hoạt cho phép (enable) nếu pha được cấp điện.

PWM – Trực tiếp điều khiển các tín hiệu cực cổng của FET bằng xung vuông.

Một tính năng quan trọng khác của bộ điều khiển động cơ bước là nó chỉ có thể điều khiển điện áp trên cuộn dây hoặc dòng điện chạy qua cuộn dây:

Với điều khiển điện áp, bộ điều khiển chỉ  điều chỉnh điện áp trên cuộn dây. Mô-men xoắn được phát triển và tốc độ thực hiện các bước chỉ phụ thuộc vào đặc tính của động cơ và tải.

Bộ điều khiển điều khiển dòng điện tiên tiến hơn, vì chúng điều chỉnh dòng điện chạy qua cuộn dây hoạt động để kiểm soát tốt hơn mô-men xoắn được tạo ra, và do đó hành vi động của toàn bộ hệ thống.

Động cơ đơn cực/lưỡng cực

Một đặc điểm khác của động cơ cũng ảnh hưởng đến điều khiển là sự sắp xếp của các cuộn dây stato xác định chiều dòng điện được thay đổi như thế nào. Để rotor quay được, không chỉ cần cung cấp năng lượng cho các cuộn dây, mà còn phải điều khiển chiều của dòng điện, xác định hướng của từ trường do chính cuộn dây tạo ra (xem Hình 8).

Trong động cơ bước, để điều khiển chiều dòng điện được thực hiện bằng hai cách tiếp cận khác nhau.

Hình 8

Trong động cơ bước đơn cực, một trong các đầu dây được nối với điểm chính giữa của cuộn dây (xem Hình 9). Điều này cho phép điều khiển chiều của dòng điện bằng cách sử dụng mạch và linh kiện tương đối đơn giản. Điểm chính giữa (Am) được kết nối với điện áp đầu vào Vin (Hình 8). Nếu MOSFET 1 được kích dẫn, dòng điện chạy từ Am đến A+. Nếu MOSFET 2 được kích dẫn, dòng điện chạy từ Am sang A-, tạo ra từ trường theo hướng ngược lại. Như đã chỉ ra ở trên, cách tiếp cận này làm cho mạch điều khiển đơn giản hơn (chỉ cần hai transistor), nhưng hạn chế là tại một thời điểm chỉ sử dụng một nửa cuộn dây, điều này có nghĩa là đối với cùng một dòng điện chạy trong cuộn dây, từ trường có cường độ bằng một nửa so với nếu dùng cả cuộn dây. Ngoài ra, những động cơ này khó chế tạo hơn vì phải có nhiều đầu dây hơn làm đầu vào động cơ.

Hình 9: Mạch lái động cơ bước đơn cực.

Trong động cơ bước lưỡng cực, mỗi cuộn dây có sẵn 2 đầu dây, và để điều khiển chiều dòng điện cần sử dụng cầu H (Hình 10). Như trong hình 8, nếu MOSFET 1 và 4 dẫn điện, dòng điện chạy từ A+ sang A-, ngược lại nếu MOSFET 2 và 3 dẫn điện, dòng điện chạy từ A- sang A+, tạo ra từ trường theo hướng ngược lại. Giải pháp này yêu cầu mạch điều khiển phức tạp hơn, nhưng cho phép động cơ đạt được mô-men xoắn cực đại cho lượng cuộn dây được sử dụng.

Hình 10: Mạch điều khiển động cơ bước lưỡng cực

Với sự tiến bộ của công nghệ, các ưu điểm của động cơ đơn cực ngày càng trở nên ít sử dụng hơn, và các động cơ bước lưỡng cực hiện đang được ưa chuộng nhất.

Các phương pháp điều khiển động cơ bước

Hiện nay, có bốn phương pháp điều khiển động cơ bước:

Điều khiển dạng sóng (Wave)

Ở phương pháp này, tại một thời điểm chỉ có một pha được cấp điện (Hình 11). Để cho đơn giản, chúng ta sẽ quy định dòng điện chạy theo chiều dương nếu nó đi từ đầu + đến đầu – của một pha (ví dụ: từ A+ đến A-); ngược lại là chiều âm. Bắt đầu từ bên trái của hình vẽ, dòng điện chỉ chạy trong pha A theo chiều dương và rotor được biểu diễn bằng một nam châm, thẳng hàng với từ trường do nó tạo ra. Trong bước tiếp theo, dòng điện chỉ chạy trong pha B theo chiều dương và rotor quay 90° theo chiều kim đồng hồ để thẳng hàng với từ trường tạo ra bởi pha B. Sau đó, pha A được cấp điện trở lại, nhưng dòng điện chạy theo chiều âm và rotor quay lại 90°. Trong bước cuối cùng, dòng điện chạy theo chiều âm trong pha B và rotor quay lại một góc 90°.

Hình 11

Điều khiển bước đủ (Full-step)

Ở phương pháp bước đủ, hai pha luôn được cấp điện cùng một lúc. Hình 12 cho thấy các bước khác nhau của phương pháp điều khiển này. Các bước tương tự như các bước của chế độ sóng, sự khác biệt đáng kể nhất là ở phương pháp này, động cơ có thể tạo ra mô-men xoắn cao hơn vì nhiều dòng điện chạy hơn trong động cơ và từ trường mạnh hơn được tạo ra.

Hình 12

Điều khiển nửa bước (Half-step)

Chế độ nửa bước là sự kết hợp của chế độ sóng và chế độ toàn bước (Hình 12). Sử dụng kết hợp này cho phép kích thước bước giảm một nửa (trong trường hợp này là 45 ° thay vì 90 °). Hạn chế duy nhất là mô-men xoắn được tạo ra bởi động cơ không phải là hằng số, vì nó cao hơn khi cả hai pha được cung cấp điện và yếu hơn khi chỉ có một pha được cấp điện.

Hình 12

Điều khiển vi bước (Microstep)

Điều khiển vi bước có thể được coi là một cải tiến hơn nữa của chế độ nửa bước, bởi vì nó cho phép giảm kích thước bước hơn nữa và có đầu ra mô-men xoắn không đổi. Điều này có được bằng cách điều khiển cường độ của dòng điện chạy trong mỗi pha. Phương pháp điều khiển này đòi hỏi bộ điều khiển động cơ phức tạp hơn so với các phương pháp khác. Hình 14 cho thấy cách hoạt động của phương pháp điều khiển vi bước. Nếu IMAX là dòng điện lớn nhất có thể chạy trong một pha, bắt đầu từ bên trái, trong hình đầu tiên IA = IMAX và IB = 0. Trong bước tiếp theo, dòng điện được điều khiển để đạt được IA = 0,92 x IMAX và IB = 0,38 x IMAX, tạo ra từ trường quay 22,5° theo chiều kim đồng hồ so với từ trường trước đó. Bước này được lặp lại với các giá trị dòng điện khác nhau để đạt được các vị trí 45°, 67,5° và 90°. Điều này cung cấp khả năng giảm một nửa kích thước của bước so với chế độ nửa bước; nhưng có thể tiến xa hơn nữa. Sử dụng vi bước giúp đạt độ phân giải vị trí rất cao, nhưng lợi thế này đi kèm với chi phí của một thiết bị phức tạp hơn để điều khiển động cơ và mô-men xoắn nhỏ hơn được tạo ra với mỗi bước. Thật vậy, mômen quay tỉ lệ với góc sin giữa từ trường stato và từ trường rotor; do đó khi bước càng nhỏ thì mômen quay càng nhỏ. Điều này có thể dẫn đến việc bỏ lỡ một số bước, có nghĩa là vị trí rôto không thay đổi ngay cả khi dòng điện trong cuộn dây stato có.

Hình 14

Ưu và nhược điểm của động cơ bước

Ưu điểm

Do cấu trúc bên trong của chúng, động cơ bước không yêu cầu cảm biến để phát hiện vị trí động cơ. Vì động cơ di chuyển bằng cách thực hiện “các bước”, chỉ cần đếm các bước này, bạn có thể có được vị trí động cơ tại một thời điểm nhất định.

Ngoài ra, điều khiển motor bước khá đơn giản. Động cơ cần bộ điều khiển, nhưng không cần tính toán phức tạp hoặc điều chỉnh để hoạt động bình thường. Nói chung, phương pháp điều khiển dễ hơn so với các động cơ khác. Với phương pháp điều khiển vi bước, động cơ có thể đạt đến độ chính xác vị trí cao, lên đến khoảng 0,007°.

Động cơ bước cung cấp mô-men xoắn tốt ở tốc độ thấp, rất tốt để giữ vị trí. Động cơ khá bền, giá thành tương đối thấp, việc thay thế cũng khá dễ dàng. 

Nhược điểm

Động cơ bước khi hoạt động có hiện tượng bị trượt bước. Điều này ảnh hưởng xấu đến việc điều khiển, vì không có cách nào để biết vị trí thực của động cơ. Sử dụng phương pháp điều khiển vi bước làm cho động cơ thậm chí có nhiều khả năng gặp vấn đề này hơn.

Động cơ này luôn tiêu hao dòng điện tối đa ngay cả khi đứng yên, điều này làm cho động cơ có hiệu suất thấp và có thể gây ra quá nhiệt.

Động cơ bước có mô-men xoắn thấp và khá ồn khi hoạt động ở tốc độ cao.

Cuối cùng, động cơ bước có mật độ công suất thấp và tỷ lệ mô-men xoắn trên quán tính thấp.

Tóm lại, động cơ bước tốt khi bạn cần một giải pháp rẻ tiền, dễ điều khiển và khi hiệu suất và mô-men xoắn cao ở tốc độ cao là không cần thiết.

Ứng dụng của động cơ bước

Trong điều khiển chuyển động kỹ thuật số, động cơ bước là một cơ cấu chấp hành đặc biệt hữu hiệu, bởi nó có thể thực hiện trung thành các lệnh đưa ra dưới dạng số. Loại động cơ này hiện đang  được ứng dụng nhiều trong ngành tự động hóa, đặc biệt là các thiết bị cần điều khiển chính xác. Các ứng dụng cụ thể bao gồm:

Điện tử tiêu dùng – Động cơ bước trong các máy chụp hình kỹ thuật số cho các chức năng phóng to thu nhỏ và lấy nét tự động. Nó chính là các cơ cấu chấp hành của các mô-đun máy ảnh trong điện thoại di động.

• Ô-tô và máy bay – Motor bước cho phép các xe ô-tô nhận tín hiệu viễn thông. Động cơ này cũng được sử dụng để điều khiển hành trình, định vị ăng-ten quân sự, thiết bị cảm biến tự động và camera tự động. Trong các máy bay, chúng được sử dụng trong các thiết bị máy bay, thiết bị cảm biến, ăng-ten, thiết bị quét.

• Thiết bị văn phòng – Động cơ bước được tích hợp bên trong máy scan, điều khiển đọc ổ cứng, ổ mềm, máy in, máy photocopy, máy in mã vạch.

• Y tế – Động cơ này được sử dụng bên trong máy quét y tế, động cơ bước đa trục điều khiển chuyển động micro hoặc nano cho các thiết bị tự động, máy bơm định lượng, máy lấy mẫu và máy phun sắc ký tự động. Chúng còn được sử dụng trong máy chụp ảnh nha khoa kỹ thuật số, máy bơm chất lỏng, mặt nạ thở và máy phân tích máu.

• Máy công nghiệp – Motor bước được sử dụng trong thang máy, băng tải và chuyển hướng băng chuyền…

• Hóa chất – Thiết bị trộn và lấy mẫu sử dụng bộ điều khiển motor bước và thiết bị kiểm tra môi trường được điều khiển bằng động cơ bước đơn/đa trục.

• An ninh – Nó được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị an ninh như camera an ninh và giám sát.

Lời kết

Bài viết này, tôi đã cung cấp cho các bạn các kiến thức cơ bản về động cơ bước như: cấu tạo, nguyên lý hoạt động; phân loại cũng như các ứng dụng của động cơ bước. Hy vọng qua nội dung của bài viết này đã đem đến một phần kiến thức đến với các bạn đang học về kỹ thuật.Rất mong nhận được những góp ý của các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn!

Sự Khác Nhau Giữa Đàn Guitar Điện Và Guitar Bass

Guitar là một trong những loại nhạc cụ phổ biến trên thế giới và khá đa dạng về mẫu mã. Guitar hiện nay có rất nhiều loại guitar lại khiến người ta khó phân biệt nếu không có hiểu biết nhiều về đàn. Ví dụ như đàn guitar acoustic và classic, guitar điện và guitar bass,… Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự khác nhau giữa guitar điện và guitar bass.

Guitar điện

Về cấu tạo, guitar điện có sự kế thừa của các nét của một cây guitar classic. Guitar điện khá giống guitar classic ở phần đầu và phần thân đàn. Tuy nhiên, điều để phân biệt guitar điện và các loại guitar gỗ khác và cấu tạo phần thân đàn.

Các loại đàn không dùng điện như guitar acoustic, guitar classic, thậm chí một số loại guitar bass đều có cấu trúc thân đàn rỗng. Mỗi khi gảy dây đàn, không khí trong thân đàn có sự dao động dẫn tới hiện tượng cộng hưởng, tạo nên các âm thanh khác nhau. Trong khi đó, guitar điện hoạt động bằng điện. Thân đàn đặc, có gắn các thiết bị điện tử bao gồm một hệ thống cảm ứng từ nối với các cuộn cảm ứng quấn quanh lõi. Các thiết bị này có vai trò khuếch đại âm thanh.

Guitar bass

Guitar bass có cấu tạo khá giống guitar điện. Tuy nhiên, điều dễ dàng nhận thấy là guitar bass có dây đàn to hơn so với guitar điện, khiến cho âm thanh cây đàn mang lại trầm hơn hẳn.

Đàn guitar bass thường có 4 dây với dây đàn làm từ kim loại. Tuy nhiên, hiện nay, số dây đàn guitar bass ngày càng nhiều, thậm chí có những cây đàn số dây của nó nhiều đến nỗi bạn khó có thể đếm được. Thùng đàn guitar bass có cấu tạo đặc và có bộ phận khuếch âm tốt để tạo nên các âm thanh trầm, vang.

Tuy nhiên, ứng dụng của guitar bass hẹp hơn so với guitar điện. Không thể bất chấp mọi thể loại âm nhạc, guitar bass thể hiện thế mạnh tốt nhất của mình trong các dòng nhạc rock, nhạc jazz, nhạc bán cổ điển,… Và guitar bass trong các bản nhạc này đóng vai trò như người điều khiển thầm lặng của cả dàn nhạc vậy.

Guitar điện và guitar bass, không thể nói loại đàn guitar nào càng tốt, các ưu việt. Với mỗi mục đích sử dụng khác nhau, bạn sẽ thích hợp với một loại guitar khác nhau. Cả 2 loại guitar đều có những khuyết điểm của riêng mình, đồng thời cũng có những tính năng khó có thể bắt chước được. Vì thế, khi lựa chọn guitar bass và guitar điện, bạn cần chú ý đến mục đích mua đàn và phong cách chơi của mình.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cẩm Nang Guitar: Kiến Thức Cơ Bản Về Guitar Điện trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!