Đề Xuất 12/2022 # Bát Nhã Tâm Kinh Mang Đến Những Lợi Ích Thần Kỳ Gì Dành Cho Người Niệm / 2023 # Top 19 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 12/2022 # Bát Nhã Tâm Kinh Mang Đến Những Lợi Ích Thần Kỳ Gì Dành Cho Người Niệm / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bát Nhã Tâm Kinh Mang Đến Những Lợi Ích Thần Kỳ Gì Dành Cho Người Niệm / 2023 mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.

Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.

Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.

Không có khổ, tập, diệt, đạo.

Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.

Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.

Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.

Cho nên phải biết rằng Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp , luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.

Cho nên khi nói đến Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức là phải nói câu chú:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Không ai có thể giác ngộ được cho chính bạn, họ chỉ dẫn lối cho bạn tìm được con đường khai đạo giúp bạn mà thôi. Việc còn lại là tự bạn tự giác giác ngộ cho chính mình. Tháo bỏ cố chấp, tháo bỏ sân si, phiền muộn trong lòng thì tự khắc con đường hành đạo bước đến sẽ được mở rộng dễ dàng

Người mà tụng chú này thường thì đã đạt được một đẳng cấp tầm cao thì mới tin niệm bát nhã tâm kinh này. Bởi hàm nghĩa khó hiểu, đa tầng, dễ làm bạn tẩu hỏa. Phải dùng sự thành tâm, kiên trì, nhẫn nại lâu thì mới thành công mà không phải ai cũng làm được.

Để con đường phật pháp của bạn nhanh chóng hạnh thông thì việc đeo một số sản phẩm trang sức có khắc Bát nhã tâm kinh sẽ giúp bản thân bạn luôn luôn có tâm niệm trong lòng, đồng hành cùng bạn. Có khi còn tạo ra nhiều điều kì tích, phép màu mà ngay cả bản thân bạn cũng không tin rằng điều đó có thể xảy ra như vậy. Thế giới vô cùng bí ẩn, huyền bí, tâm linh, ta chỉ có thể nhìn thấy một phần nhỏ của thế giới hiện tại. Tâm bạn nghĩ tới đâu thì thế giới tồn tại đến mức độ ấy. Sau khi mở mang tầm hiểu biết của mình bạn sẽ thấy những lời tôi nói không phải là giả dối, diễn hoặc. Lúc bạn đạt đến cảnh giới ấy thì nhìn vào người khác mà cũng có tu tập, niệm kinh dài lâu, đắc đạo ở ngưỡng cao thì sẽ thấy cơ thể họ toát ra ánh hào quang mà người thường không thấy được.

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh / 2023

Chân thành tán thán ghi nhận công đức các vị: Trí Siêu, Nguyên Chứng, Nguyên Giác và Nguyên Thanh, những vị đã đóng góp tích cực cho tập sách, bằng sự sưu tầm, sao chép, bổ túc các tư liệu văn bản, cùng là tham gia ý kiến về một số chi tiết khác nhau giữa các văn bản. Nguyện hồi hướng công đức này đến khắp Pháp giới chúng sanh đồng triêm lợi lạc. H.T. THÍCH TRÍ THỦ

LỜI GIỚI THIỆU

Dựng cầu đò, xây chiền tháp,

Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu.

Nội tự tại Kinh Lòng hằng đọc.

Công chúa thấy thốt thương song

Bèn chuyển Kinh Lòng động đến hoàng thiên

Bảo hoa bay khắp bốn bên

Hào quang thấu lọt dưới trên cửa thành

Thiết tha giải tích tan tành

Nhất thiết tù rạc siêu sanh một giờ.

Ngài Toàn Nhật, một nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng lớn của dân tộc ta, đã viết trong Thiền Cơ Yếu Ngữ Văn:

Một nồi hương huệ đốt xông

Ba biến Kinh Lòng thường niệm hôm mai.

Rồi trong Tham Thiền Vãn, ngài cũng nói:

Chí dồi mài công phu lựa lọc

Kết tri âm giảng đọc Tâm Kinh

Cốc mình thức tử tri sinh

Sá gì dế lỗ rành rành đặng mưa.

H.T. THÍCH TRÍ THỦ

Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.

2. Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng phụng chiếu dịch vào đời Đường, năm 649.

Ngoài hai lược bản này, kinh tạng còn có bản:

Ngoài ra, còn có những bản khác, dài hơn, được gọi là Quảng bản Bát nhã, như sau:

7. Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Trí Tuệ Luân (Prajnàcakra) dịch năm 850 đời Đường.

Ngoài các bản trên, kinh lục còn ghi các bản khác, hiện nay không còn, gọi là thất bản:

11. Bát nhã ba la mật đa Na kinh, do Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci)dịch năm 693.

13. Phạn bản Bát nhã ba la mật đa Tâm kinh, do Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) dịch năm 720 đời Đường.

Chí dồi mài công phu lựa lọc

Kết tri âm giảng đọc Tâm kinh

Cốc mình thức tử tri sinh

Sá chi dế lỗ rành rành đặng mưa

Công chúa thấy thốt thương song

Bèn chuyển Kinh Lòng động đến hoàng thiên

Bảo hoa bay khắp bốn bên

Hào quang thấu lọt dưới trên cửa thành

Thiết già giải tích tan tành

Nhất thíết tù rạc siêu sanh một giờ

(Thai tạng giới Mạn đà la)

Theo:

Phật giáo Đại từ điển của

Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 5, trang 4269c.

(Mochizuko Shinko Daijiten)

GIẢI THÍCH ĐỀ KINH

TÂM

KINH

“ÁN, MA NI BÁT DI, HỒNG.”

GIẢI THÍCH NỘI DUNG

Quán Tự Tại Bồ tát

Bồ tát Bát Nhã Ba la mật đa

(theo truyền thống Tây Tạng)

Hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời

Soi thấy năm uẩn đều không

B. CHÁNH TÔN

1. Nguyên lý bất nhị giữa uẩn và không

2. Chứng minh nguyên lý ấy qua luận lý triết học, và

I. NGUYÊN LÝ BẤT NHỊ GIỮA UẨN VÀ KHÔNG.

Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy.

Xá Lợi Tử: Tướng không của các pháp đây chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.

Theo: Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 5, tr. 4429b.

a. 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới (trong phần đối tượng giải quyết);

b. 12 nhân duyên, 4 đế (hồn và xác của giáo pháp);

c. Trí (cứu cánh phải chứng đắc).

Tất cả sáu chủ điểm trên, đều được thuyết minh rất đầy đủ trong Tạp và Trung A Hàm.

A. Nhân quá khứ: 1 vô minh; 2 hành;

C. Nhân hiện tại: 8 ái; 9 thủ; 10 hữu;

D. Quả vị lai: 11 sanh; 12 lão tử.

Theo: Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 5, tr. 4268a.

Bồ tát Quán Thế Âm

Theo: Vọng Nguyệt Tín Hanh, tập 1, tr. 802b.

1. Bản Tất Đàn: lược bản 1 và 2,

2. Bản Devanagari: lược và quảng,

3. Bản Tây Tang: quảng,

4. Bản Tất Đàn phiên âm La Tinh: theo L. Hurvitz và R. Bucknell,

5. Bản Devanagari phiên âm La Tinh: lược và quảng,

6. Bản Tây Tang phiên âm La Tinh: quảng,

7. Bản Vu Điền phiên âm La Tinh: quảng,

8. Bản Pali: lược,

9. Bản Mông Cổ,

10. Bản Mãn Châu,

11. Bản Tất Đàn phiên âm Hoa ngữ: lược và quảng,

12. Lược bản La Thập.

13. Lược bản Huyền Tráng,

14. Quảng bản Bát Nhã và Lợi Ngôn,

15. Quảng bản Pháp Nguyệt (2 bản),

16. Lược bản Nghĩa Tịnh,

17. Quảng bản Trí Tuệ Luân,

18. Quảng bản Pháp Thành,

19. Quảng bản Thi Hộ,

20. Quảng bản Kim Cương.

Tiếp theo đó là:

22. Bản Nhật ngữ,

23. Bản Anh ngữ,

24. Bản Pháp ngữ.

(Theo truyền thống Tây Tạng)

Chemesig (Sanskrit: Avalokiteshvara). In this form, having one face and four arms, he personifies the Buddha’s Great Compassion. All deities are manifest in his changes. His mantras is OM MANI PADME HUM.

LƯỢC BẢN TẤT ĐÀN 1

(Đọc từ trên xuống, trái qua phải)

BẢN TẤT ĐÀN 2

LƯỢCBẢN DEVANAGARI

QUẢNG BẢN DEVANAGARI

QUẢNG BẢN TÂY TẠNG

(Đọc từ trái sang phải, theo hàng ngang)

LƯỢC BẢN TẤT ĐÀN 1 & 2

LƯỢC BẢN TẤT ĐÀN

LƯỢC BẢN DEVANAGARI

BẢN TÂY TẠNG

BẢN PÀLI

BẢN ÂM TIẾNG MÃN CHÂU DỊCH

ĐỜI KHANG HY, KHOẢNG NĂM 1723

LƯỢC BẢN PHẠN ÂM

QUẢNG BẢN PHẠN ÂM

(Bản Đôn Hoàng)

LƯỢC BẢN LA THẬP

LƯỢC BẢN HUYỀN TRANG

QUẢNG BẢN BÁT NHÃ VÀ LỢI NGÔN

QUẢNG BẢN PHÁP NGUYỆT 1

QUẢNG BẢN PHÁP NGUYỆT 2

LƯỢC BẢN NGHĨA TỊNH

QUẢNG BẢN TRÍ TUỆ LUẬN

QUẢNG BẢN PHÁP THÀNH

(Bản Đôn Hoàng)

QUẢNG BẢN THỊ HỘ

QUẢNG BẢN KIM CƯƠNG

BẢN QUỐC ÂM MINH CHÂU HƯƠNG HẢI

BẢN NHẬT VĂN

BẢN ANH VĂN

BẢN PHÁP VĂN

BẢN ĐỨC VĂN

THƯ TỊCH TÂM KINH

CHÚ THÍCH

TOÀN NHẬT THIỀN SƯ, xem:

Lê Mạnh Thát, Toàn Nhật thiền sư toàn tập, Vạn Hạnh, 1979 (2 quyển).

TÂM KINH TỪ ĐIỂN

Ý Nghĩa Bát Nhã Tâm Kinh Cao Thâm Vi Diệu / 2023

Bát Nhã Tâm Kinh (tiếng Anh: Heart Sutra – tiếng Phạn: Prajnaparamitahrdaya Sutra) hay còn được biết với tên gọi Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Là một văn bản nổi tiếng nhất của Đạo Phật Đại Thừa, được coi là sự chưng cất tinh khiết của trí tuệ (prajna). Bát Nhã Tâm Kinh cũng là một trong số những kinh điển ngắn nhất nhưng vô cùng quan trọng trong Phật giáo.

Nguồn gốc

Bát Nhã Tâm Kinh là một phần quan trọng của Đại Bát Nhã, bộ sưu tập khoảng 40 kinh điển Phật giáo từ năm 100 TCN đến 500 SCN. Nguồn gốc chính xác của Tâm Kinh vẫn còn là một dấu hỏi. Theo Red Pine, bản ghi sớm nhất là một bản dịch tiếng Trung từ Phạn ngữ do nhà sư Chih-ch’ien dịch vào khoảng thế kỷ thế 2 SCN.

Vào thế kỷ thứ 8, bản dịch xuất hiện thêm một bài giới thiệu và kết luận. Phiên bản dài hơn này được chấp nhận bởi Phật giáo Tây Tạng. Tuy nhiên, Trong Thiền Tông và các trường phái Đại Thừa khác có nguồn gốc ở Trung Quốc, phiên bản ngắn thì phổ biến hơn.

Mở rộng định dạng mới này đến giới hạn hợp lý của nó, trường phái Mật tông Phật giáo (Phật giáo Kim Cương Thừa), phát triển phiên bản ngắn nhất trong tất cả văn bản Bát Nhã Tâm Kinh, một tác phẩm có tên “Sự hoàn hảo của trí tuệ”.

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (Diamond Sutra) là một phiên bản khác của Bát Nhã Tâm Kinh, nó được lưu truyền rộng rãi ở vùng Đông Á và được biết với tên gọi ngắn hơn là Kinh Kim Cang hay Kinh Kim Cương.

Không có nghi ngờ gì về Bát Nhã Tâm Kinh, một kinh điển được sử dụng nhiều nhất trong hầu hết truyền thống Phật giáo Đại Thừa, phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Tây Tạng, Mông Cổ, Bhutan, Trung Quốc, một phần của Ấn Độ và Nepal. Gần đây, nó cũng phát triển ở Châu Mỹ và Châu Âu.

Nhiều người đã nói nhiều điều khác nhau về Bát Nhã Tâm Kinh, nó là gì, có phải nó là trái tim của sự khôn ngoan, một tuyên bố về sự thật là như thế nào, giáo huấn chính của Đại Thừa, sự cô đặc tinh tuý của tất cả các kinh điển Phật giáo, hoặc một lời giải thích của Tánh Không!

Bản tụng Hán-Việt và dịch nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh

Nhà sư Tây Tạng tụng Bát Nhã Tâm Kinh rất hay! Bản tụng Hán-Việt

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.

Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.

Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Bản dịch nghĩa

Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.

Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn. Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.

Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối. Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha có nghĩa là (Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!).

Ý nghĩa của Bát Nhã Tâm Kinh

Tất cả chúng sinh, do đức tính trống rỗng của họ, đã được giải phóng và thuần khiết. Như trong Bát Nhã Tâm Kinh đã nói, khổ đau trống rỗng và sự giải thoát khỏi đau khổ cũng trống rỗng.

Lòng từ bi tuyệt đối làm cho chúng ta có thể duy trì việc hỗ trợ và giúp đỡ chúng sinh đến vô tận mà không suy nghĩ gì. Lòng từ bi tương đối dựa trên quan điểm rộng lớn của chúng ta về bản chất trống rỗng của cuộc sống, trong mối liên hệ giữa trái tim và sự tham gia. Bản thân xem việc đó cũng là điều không thể, nhưng cả hai cùng nhau tạo ra một cuộc sống kết nối tuyệt vời và bền vững.

Bát Nhã Tâm Kinh truyền đạt bản chất của trái tim, của cái được gọi là “Sự hoàn hảo của trí tuệ hay cái nhìn sâu sắc”. Chính nó, nó không phức tạp, nó không cung cấp cho chúng ta tất cả các chi tiết.

Nó giống như một bản ghi nhớ ngắn gọn để suy ngẫm tất cả các yếu tố trong cuộc sống tâm linh của chúng ta, từ quan điểm của những gì chúng ta đang có bây giờ, điều chúng ta trở nên khi chúng ta tiến lên con đường giác ngộ và những gì chúng ta đạt được (hoặc không đạt được) khi kết thúc con đường đó.

Nếu chúng ta muốn hiểu tất cả các chi tiết, chúng ta phải đọc bộ Đại Bát Nhã chiếm khoảng 21.000 trang trong kinh điển Phật giáo Đại Thừa, một trăm nghìn dòng trong mười hai quyển sách lớn. Nhưng ý nghĩa cao thâm vi diệu của Bát Nhã Tâm Kinh đều được cô đọng lại trong bản kinh ngắn với 260 chữ:

Bốn khía cạnh khác của cuộc sống con người – cảm giác, suy nghĩ, ý chí và ý thức – cũng không khác gì tánh không.

Vì vậy, trong tánh không, không có cơ thể, không có cảm giác, không có ý nghĩ, không có ý chí, không có ý thức. Không có mắt, không có tai, không mũi, không có lưỡi, không có cơ thể, không có tâm. Không có cái nhìn, không nghe, không ngửi, không nếm, không đụng, không tưởng tượng. Không có gì nhìn thấy, cũng không nghe, không ngửi, không nếm, không chạm vào, và không tưởng tượng.

Không có vô minh, và không có kết thúc vô minh.Không có tuổi già và cái chết, không chấm dứt tuổi già và cái chết. Không có đau khổ, không có khổ đau, không có khổ đau, không có con đường để đi theo. Không đạt được trí tuệ, và không có sự khôn ngoan để đạt được.

Tất cả chư Phật, quá khứ, hiện tại và tương lai, đều dựa vào Tâm Kinh và sống trong sự giác ngộ trọn vẹn.

Các Tăng Ni Làng Mai tụng Bát Nhã Tâm Kinh vô cùng tuyệt vời!

Sự hoàn hảo của trí tuệ hay còn gọi là trí tuệ Bát Nhã

Như với hầu hết các kinh điển Phật giáo, nếu chỉ đơn giản là “tin tưởng vào” những gì mà Bát Nhã Tâm Kinh nói không phải là quan điểm đúng đắn. Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, chúng ta cũng không thể hiểu sâu sắc nội hàm của kinh điển nếu chỉ dựa vào sự hiểu biết giới hạn ở hiện tại.

Mặc dù phân tích là hữu ích, mọi người vẫn giữ những lời trong trái tim của họ để sự hiểu biết mở ra thông qua thực hành cá nhân.

Shariputra, hình thức không khác gì tánh không, sự trống rỗng không khác gì hình thức. Sắc là sự trống rỗng hoàn toàn, sự trống rỗng chính xác. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng giống như vậy.

Ý tưởng trọng tâm của trí tuệ Bát Nhã là giải phóng hoàn toàn khỏi thế giới của sự tồn tại. Nó vượt xa những lời dạy của Phật giáo trước đó, chỉ tập trung vào sự trỗi dậy và sụp đổ của các hiện tượng để khẳng định rằng không có sự gia tăng và sụp đổ.

Trí tuệ Bát Nhã nói rằng, không có sự đa dạng, tất cả chỉ là một, thậm chí sự tồn tại của vòng luân hồi và niết bàn cũng là điều cơ bản.

Trong bối cảnh của sự trống rỗng, trí tuệ Bát Nhã đưa ra như một cách để khai ngộ. Nó tượng trưng cho sự giới thiệu chính thức về tư duy Phật giáo của một lý tưởng thực tiễn – lý tưởng của một vị Bồ tát, không giống như một vị A-la-hán, những chúng sinh đạt được giác ngộ nhưng không thể sử dụng phương tiện giác ngộ để giúp cho người khác.

Bồ tát phải thực hành sáu hoàn thiện: Bố thí, trì giới, kiên nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Sự khôn ngoan là điều quan trọng nhất bởi vì nó xua tan bóng tối của ảo tưởng cảm giác và cho phép mọi thứ được nhìn thấy như chúng thực sự là như vậy.

Giống như các ngôi sao, giống như một ảo ảnh quang học, giống như một bóng đèn, giống như một ảo giác huyền bí, những giọt nước mắt, hoặc một bong bóng, giống như một giấc mơ, một tia sét hay một đám mây, vậy nên tất cả những gì được tạo ra sẽ được nhìn thấy.

Các ngôi sao không thể nắm bắt được. Những điều nhìn thấy với tầm nhìn bị lỗi không thực sự tồn tại. Đèn chỉ đốt cháy miễn là chúng có nhiên liệu. Một cuộc trình diễn giả dối là một ảo ảnh huyền diệu, nó không phải là nó có vẻ như. Các giọt sương bay nhanh trong nhiệt của mặt trời.

Bong bóng có dòng đời ngắn và không có bản chất thực sự cho chúng. Giấc mơ là không thật, mặc dù có vẻ như vậy vào thời điểm đó. Sét ngắn và nhanh hơn. Mây luôn thay đổi hình dạng. Bằng cách nhận ra bản chất tạm thời của vạn vật, chúng ta dễ dàng tách ra khỏi chúng và đạt được Niết bàn.

Nhạc Bát Nhã Tâm Kinh do nữ ca sĩ Imee Ooi thể hiện rất truyền cảm.

Khái niệm “Tánh không” trong Bát Nhã Tâm Kinh

Tánh không (tiếng Phạn: shunyata) là một học thuyết nền tảng của Phật giáo Đại Thừa. Nó cũng có thể là học thuyết bị hiểu nhầm nhất trong Phật giáo. Thông thường, người ta cho rằng nó có nghĩa là không có gì tồn tại. Nhưng đây không phải là một cách giải thích đúng đắn.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nói: “Sự vật và sự kiện không có bản chất nội tại và không có nhận dạng cá nhân ngoại trừ trong suy nghĩ của chúng ta.”

Các Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng dạy rằng “sự tồn tại chỉ có thể được hiểu theo nghĩa Duyên khởi.” Duyên khởi là một giáo huấn nói về mối tương quan giữa vạn vật và không có hữu thể hay vật gì tồn tại độc lập với các sinh mệnh khác.

Trong Tứ Diệu Đế, đức Phật đã dạy, những đau khổ của chúng ta nảy sinh từ việc nghĩ rằng chúng ta là những người hiện hữu độc lập với một “cái tôi” nội tại. Nhận thức một cách triệt để bản chất nội tại này là ảo tưởng và giải phóng chúng ta khỏi đau khổ.

Sắc Tức Thị Không – Không Tức Thị Sắc

Câu nói này có nghĩa là gì? Sắc ở đây được hiểu là vật chất hay hình tướng, những gì chúng ta cảm nhận được thông qua 5 giác quan. Không có nghĩa là chơn không hay vô tướng. Chúng ta phải biết khi nào “sắc” khi nào “không” để có thể giải thoát khỏi khổ đau trong cuộc sống.

Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Bồ tát giải thích rằng, tất cả các hiện tượng đều là những biểu hiện của Tánh không, trống rỗng với những đặc tính vốn có. Bởi vì các hiện tượng không có các đặc tính vốn có, chúng không sinh ra cũng không bị phá hủy, không tinh khiết, không ô uế, không đến hay đi.

“Không có điểm mà đôi mắt bắt đầu hoặc kết thúc, theo thời gian hoặc trong không gian hoặc theo khái niệm. Mắt được nối với xương mặt, và xương mặt được nối với xương đầu, và xương đầu được nối với xương cổ, và do đó nó đi xuống đến xương ngón chân, xương sàn, xương trái đất, xương giun, xương bướm mơ màng. Do đó, cái mà chúng ta gọi là mắt là một tập hợp rất nhiều bong bóng trong biển bọt.”

Bồ tát nói ở đây là gì? vì tất cả các hiện tượng không tồn tại độc lập với các hiện tượng khác, tất cả những khác biệt chúng ta tạo ra là tùy tiện.

Đeo nhẫn Bát Nhã Tâm Kinh có thật sự mang lại may mắn và bình an?

Hiện nay trên thị trường mua bán vật phẩm tâm linh và phong thủy xuất hiện rất nhiều sản phẩm như nhẫn, vòng tay hay mặt dây chuyền có khắc chữ “Bát Nhã Tâm Kinh”. Một người cho rằng đeo những trang sức tâm linh này sẽ được “Bát Nhã Tâm Kinh” gia hộ, từ đó tai qua nạn khỏi, thu hút tài lộc và gặp nhiều may mắn bình an trong cuộc sống.

Tôi nghĩ đây là một hình thức kinh doanh lợi dụng lòng tin của Phật tử vì nhiều người không thật sự hiểu rõ thông điệp mà Tâm kinh nhắn gửi. Đeo vật phẩm tôn giáo như vòng tay hay nhẫn Bát Nhã Tâm Kinh không phải là điều xấu, nó chăng qua chỉ là một món trang sức đẹp. Nhưng đối với một số đeo trang sức có khắc chữ “Bát Nhã Tâm Kinh” với mục đích mong cầu tài lộc hay may mắn là trái với đạo lý nhà Phật.

Như đã đọc ở trên, Bát Nhã Tâm Kinh giúp khai mở tâm trí hướng con người đến gần hơn với sự giác ngộ khi nhận ra tính vô thường, vô ngã và tính tương quan của các sự vật hiện tượng.

Điều này có nghĩa là gì? Đó là chúng ta phải thực hành theo lời Phật dạy, sống từ bi hơn, vui vẻ hơn và chan hòa với mọi người, vì mỗi người trong chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau ở một mức độ nào đó. Khi làm được điều này, may mắn và bình an sẽ tự nhiên đến với chúng ta mà không cần bất kỳ vật phẩm phong thủy tâm linh nào.

Vì vậy, nếu bạn là một Phật tử thuần thành thì không nên mong cầu may mắn, tài lộc từ những trang sức vô tri vô giác mà hãy thực tập theo lời dạy của Tâm kinh để hạnh phúc phát triển từ bên trong.

Tóm lại, Bát Nhã Tâm Kinh là cái nhìn sâu sắc giúp chúng ta vượt qua tất cả các cặp đối lập, chẳng hạn như sinh-tử, bản ngã và vô ngã, hạnh phúc và khổ đau, giàu và nghèo…Tất cả các hiện tượng đều là sản phẩm của sự phát sinh phụ thuộc, đó là thông điệp mà Tâm Kinh muốn nhắn gửi.

Biên dịch Hoa Sen Phật, chúng tôi

Ý Nghĩa Thâm Diệu Và Công Đức Của Bát Nhã Tâm Kinh / 2023

Người Phật tử còn đang tại thế nghĩa là còn đang sống với đời không thể nào tách rời cuộc sống với việc tu hành để đạt thành đạo quả, nghĩa là phải kết hợp hòa nhuyễn đạo và đời như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói trong Cư trần lạc đạo phú.

>>Phật tử có thể đọc loạt bài về Kinh Phật

Công đức của Bát Nhã Tâm Kinh

Vì phép tu quán chiếu Bát nhã có công đức to lớn như thế, so với công đức của chú Ðà la ni, hai bên ngang nhau. Ảnh: Internet

Tiếp theo là câu: Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Nghĩa là : Cho nên biết Bát nhã Ba la mật đa là thần chú lớn, là minh chú lớn, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng, nên trừ được tất cả khổ ách, chân thật không hư dối.

Chú là dịch chữ mantra trong tiếng Phạn, ta gọi là mạn trà. Theo nghĩa hẹp, mantra là những lời cầu đảo, nghĩa rất bí hiểm khi đọc lên, có tác dụng biến hóa ra các hiện tượng thiên nhiên, cả lành lẫn dữ. Theo nghĩa rộng, và đích thực của nó, mạntra là cái làm cho ta suy nghĩ, có công năng nắm giữ tóm thâu mọi nghĩa lý, làm tiền đề cho việc tham khảo của ta, từ đó, đẻ ra mọi công đức, mọi diệu dụng. Trong nghĩa này, mạntra thuộc một trong bốn thứ đà la ni, tức: pháp đà la ni, nghĩa đà la ni, nhân đà la ni và chú đà la ni. Chữ chú trong bài kinh này thuộc loại chú đà la ni. Đà la ni là chữ tiếng Phạn là dhàrani, dịch ra là Tổng trì, nghĩa là cái sức giữ gìn không để cho cái thiện pháp bị tán loạn, ngăn che không cho các ác pháp nảy sinh.

Ðại thần chú nghĩa là chú thần lớn, tức có thần lực vĩ đại, có thể chuyển dời, thay đổi mọi việc. Phép tu quán chiếu Bát nhã khêu sáng trí tuệ, Do đó, mà sinh tử trở thành Niết bàn, phiền não chuyển thành Bồ đề, nên nói là đại thần chú. Thần chú trí tuệ ấy chiếu phá vô minh, trừ dứt phiền não nên nói là đại minh chú, nghĩa là chú cực kỳ sáng chói. Cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được Vô thượng Niết bàn nên nói là vô thượng chú, nghĩa là chú không có gì cao hơn nữa. Lại cũng nhờ trí tuệ ấy mà chứng được vô thượng bồ đề, nên nói là vô đẳng đẳng chú, nghĩa là chú không có gì sánh bằng.

Vì phép tu quán chiếu Bát nhã có công đức to lớn như thế, so với công đức của chú Ðà la ni, hai bên ngang nhau. Vì thế nên đức Phật đã tán thán và tôn xưng phép tu ấy như là thần chú. Và vì có công đức như thế, cho nên trừ được tất cả thống khổ ách nạn. Cũng vì công đức ấy là công đức quả có trên hiện thực, cho nên khẳng định lại một lần nữa rằng nó là chân thật, vì chẳng phải là dối, chẳng phải là hư dối, là lừa gạt.

Ý nghĩa thâm diệu của Bát Nhã Tâm Kinh

Ðiều cốt yếu khi tụng chú, là phải thành tâm. Càng thành tâm thì càng nhiều linh nghiệm, bởi vì công dụng hàng đầu của việc trì chú là diệt niệm. Vọng niệm có diệt được thì thân tâm mới khinh an. Do đó, mới có cảm ứng linh nghiệm bất khả tư nghị.

Câu tiếp theo và cuối cùng của Bát nhã Tâm kinh là: Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề Tát bà ha. Dịch nghĩa là: Vì vậy nói ra bài chú Bát nhã Ba la mật đa liền nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú nghĩa là cho nên nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, điều ấy cho ta hiểu rằng phép quán chiếu Bát nhã có công đức sánh ngang với công đức của chú đà la ni, tất nhiên tác dụng vi diệu của phép tu này cũng không thể nghĩ bàn được, Cho nên, cần thực hành lời chú Bát nhã Ba la mật đa.

Tức thuyết chú viết, nghĩa đen là liền nói chú rằng. Nhưng để diễn đạt cái tác dụng linh ứng không thể nghĩ bàn ấy, tưởng nên dịch câu ấy là: chú liền ứng rằng thì mới lộ hết ý sâu xa tàng ẩn trong đoạn này, có hô thì lập tức có ứng. Và có như thế mới gọi là linh, là huyền diệu.

Chú vốn là mật ngữ (lời bí mật). Ðã là bí mật, làm sao cắt nghĩa? Tuy nhiên, dựa vào sự cấu tạo, có thể suy đoán một cách thô sơ nghĩa của một số chữ. Chẳng hạn như với câu chú này, nghĩa của nó không đến nỗi khó khăn lắm.

Yết đế, tiếng Hán dịch nghĩa là độ, chữ Phạn vốn đọc là gate, có nghĩa là đi qua, vượt qua. Yết đế lặp lại hai lần có nghĩa là độ cho mình và độ cho người. Ba la yết đế, do chữ pàragate, có nghĩa là đi qua bờ bên kia. Ba la tăng yết đế, là do phiên âm chữ pàrasamgate, nghĩa là đi qua bờ bên kia hoàn toàn. Bồ đề là giác ngộ. Tát bà ha do phiên âm chữ svàha có nghĩa là Ngài khéo nói. Toàn bộ câu đó tiếng Phạm đọc như sau Gate Gate Pàragate Pàrasamgate Bodhi Svaha. Như vậy, ý nghĩa của toàn câu chú có thể tạm dịch như sau: Hãy vượt qua, vượt qua đi, qua bờ bên kia đi, qua bờ bên kia hoàn toàn thì sẽ đạt đến giác ngộ. Ngài khéo nói như vậy.

Đã là Phật tử thì ít nhất cũng biết đến một số kinh chú thường tụng hàng ngày nằm trong cuốn Kinh Chú Nhật tụng, trong đó có ghi các bản kinh như Kinh A Di Đà, kinh Phổ Môn, Kinh Tám Điều, Kinh Bát Nhã, Dinh Kược Sư, Kinh Sám nguyện, Kinh Vu Lan, Kinh Địa tạng v.v…tất cả các bản kinh nhật tụng đó, trước khi tụng phần sám hối hay hồi hướng đều có tụng Bát Nhã Tâm Kinh rồi sau đó có tụng đến chú vãng sinh. Vì sao như vậy ? Vì Đức Phật muốn cho các Phật tử hiểu được con đường tu hành đi đến giải thoát, giác ngộ phải vượt qua nhiều chướng ngại cần phải tụng Bát Nhã Tâm kinh để Hãy vượt qua, vượt qua đi, qua bờ bên kia đi, qua bờ bên kia hoàn toàn đi thì sẽ đạt đến giác ngộ

Có tụng Bát Nhã Tâm Kinh mới mở lối cho ta sám hối những ác nghiệp trước kia và mới có đủ duyên để hồi hướng về chư Thiện Thánh hiền, Già lam Hộ pháp, Long thiên và cho mọi chúng sinh trong tất cả các cõi.

Đối với những người tu theo Pháp Tịnh độ, tức là môn pháp đơn giản nhất và phù hợp với mọi căn cơ của nhiều người, thì thường chuyên về niệm Phật. Các đạo tràng A Di Đà tu theo pháp môn Tịnh độ, thông thường với một khóa công phu tu hành niệm Phật chỉ tụng các nghi thức Kệ tán Phật, Quán tưởng, Lễ Phật rồi niệm Phật, sám hối, hồi hướng, 12 lời nguyện, rồi Tam tự quy là kết thúc. Thiết nghĩ, trong nghi thức này nên có thêm phần tụng Bát Nhã Tâm Kinh và chú Vãng sinh thì đầy đủ hơn, sẽ đạt hiệu quả hơn trên đường tu chứng để đi đến ước nguyện vãng sinh như đã phân tích ở trên.

Tất nhiên là với điều kiện niệm Phật phải đủ tín, nguyện, hạnh, phải chí thiết, chí thành, nhất tâm bất loan. Niệm Phật trong công phu này phải đạt đến mức độ tâm niệm như bất niệm, đúng theo như pháp bất nhị và tính không trong Bát nhã Tâm kinh thì mới đạt được đạo quả. Còn niệm mà đầu óc còn vọng tưởng, suy nghĩ miên man, thì ngược lại với ý nghĩa giáo lý của Đại thừa nói trong Bát Nhã Tâm Kinh, mà mọi tông phái nào kể cả Thiền tông, Tịnh độ tông hay Mật tông cũng đều phải nhắc đến. Tất nhiên bất cứ mọi pháp tu nào cũng phải đạt đến tâm rỗng lặng, đến tâm không, đến vô ngã và thực sự làm thay đổi con ngưởi tu hành.

Trước khi đạt được đến độ có trí tuệ siêu việt để bước sang bờ bên kia, giải thoát và giác ngộ tức thực hiện được Bát nhã Ba la mật đa thì tất nhiên người Phật tử phải đạt được đến sự thay đổi trí tuệ và đạo đức, tính tình, thay đổi cái tâm, phải hiểu rõ lý nhân duyên, luật nhân quả, biết được thân người là hiếm quý, cuộc đời là vô thường, hiểu rõ những khổ đau trong luân hồi, thực hành được mười điều lành tức thập thiện thể hiện trong cuộc sống thường ngày trong đời thường.

Người Phật tử còn đang tại thế nghĩa là còn đang sống với đời không thể nào tách rời cuộc sống với việc tu hành để đạt thành đạo quả, nghĩa là phải kết hợp hòa nhuyễn đạo và đời như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nói trong Cư trần lạc đạo phú và như Đức Thế tôn đã dậy Phật pháp bất ly thế gian pháp..

Phạm Đình Nhân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bát Nhã Tâm Kinh Mang Đến Những Lợi Ích Thần Kỳ Gì Dành Cho Người Niệm / 2023 trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!