Đề Xuất 1/2023 # Bất Ngờ Với Công Dụng Chữa Bệnh Của Quả La Hán Trong Y Học Cổ Truyền # Top 7 Like | Comforttinhdauthom.com

Đề Xuất 1/2023 # Bất Ngờ Với Công Dụng Chữa Bệnh Của Quả La Hán Trong Y Học Cổ Truyền # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bất Ngờ Với Công Dụng Chữa Bệnh Của Quả La Hán Trong Y Học Cổ Truyền mới nhất trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

La hán được biết đến là một loại quả được sử dụng làm nước uống giải khát vào những ngày hè oi bức. Không những vậy loại quả này còn là một vị thuốc Đông y có rất nhiều công dụng khác nữa.

Quả la hán có xuất xứ từ Trung Quốc, đây là loại quả có rất nhiều tác dụng tốt như chữa sốt, làm dịu cổ họng, long đờm, chữa ho…và rất nhiều các tác dụng tuyệt vời của nó đối với sức khỏe.

Theo y sĩ Y học cổ truyền Sài Gòn cho biết quả la hán vị ngọt, tính mát, không độc đi vào hai kinh phế và tỳ. Loại quả này có công dụng giúp nhuận phế, lợi hầu, giải khát, nhuận tràng thông tiện. Do đó được sử dụng để trị ho phế nhiệt và đàm hỏa nội kết, viêm hầu họng, đại tiện bí kết (trị đờm, ho gà, huyết táo)… Cụ thể được sử dụng trong viêm long đường hô hấp trên như hầu họng, viêm amidan…, trị viêm phế quản cấp hay mạn hay chứng táo bón kinh niên do ruột khô.

Ngoài ra, lấy quả la hán đem sắc lấy nước uống còn có tác dụng chống ho, trị đờm rất hiệu quả và còn có khả năng làm tăng cường chức năng miễn dịch của các tế bào của cơ thể. Trà la hán còn là thứ giải khát giàu dinh dưỡng, rất thích hợp với người bị nóng trong.

Một số bài thuốc trị bệnh từ quả la hán

Bài thuốc trị viêm họng: Bài thuốc này rất đơn giản, sử dụng quả la hán, thái nhỏ rồi hãm với nước sôi, người bị viêm họng sử dụng nước này thay cho nước uống hằng ngày sẽ giúp giảm đau họng rất tốt.

Trị khàn tiếng: Lấy một quả la hán, thái nhỏ từng miếng đem đi sắc lấy nước uống 2 đến 3 lần trong ngày hoặc có thể uống dần mỗi lần một ít. sẽ giúp người bệnh nhanh chóng lấy lại tiếng.

Chữa bệnh táo bón từ quả la hán: Người mắc bệnh táo bón có thể sử dụng quả la hán để điều trị bằng cách lấy quả la hán sắc nước rồi pha thêm chút mật ong uống trong ngày, bài thuốc Y học cổ truyền này có công dụng trị táo bón cực kỳ hiệu quả.

Bài thuốc hỗ trợ trị bệnh lao: Sử dụng 60g la hán với 100g thịt lợn nạc, đem hầm cùng nhay và sử dụng cùng với bữa ăn hằng ngày. có công dụng bổ phế, hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh lao.

La hán là một loại quả không có tính độc, rất tốt cho sức khỏe của con người. Những bệnh nhân tiểu đường hay béo phì nên sử dụng quả la hán thường xuyên để hỗ trợ việc điều trị bệnh. Các gia đình cũng nên sử dụng nước quả la hán để thanh nhiệt giải khát, đồng thời thải độc cho cơ thể nhằm giúp chúng ta có một sức khỏe dồi dào, và cơ thể dẻo dai. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể sử dụng được Vị thuốc Đông y này.

Những ai không nên sử dụng quả la hán

Những lợi ích đối với sức khỏe của quả la hán mang lại là không hề phủ nhận, tuy nhiên các giảng viên Trung cấp Y học cổ truyền Sài Gòn cho biết loại quả này lại không thích hợp đối với những người có biểu hiện thích ấm, sợ lạnh, da nhợt nhạt, chân tay lạnh, thích uống ấm, đại tiện lỏng loãng, rêu lưỡi trắng…Nếu sử dụng quả la hán rất dễ bị lạnh bụng, đi tiêu lỏng. Những trường hợp bị ho do cảm lạnh cũng tuyệt đối không dùng quả la hán.

Khi dùng quả la hán cũng cần chú ý đến liều lượng. Trung bình có thể sắc lấy nước uống từ 1 – 2 quả la hán trên một ngày là phù hợp nhất. Việc lạm dụng quá nhiều cũng không mang đến lợi ích thậm chí có thể gây phản tác dụng.

✅ Sâm Cau Đỏ ? +7 Tác Dụng Chữa Bệnh Trong Y Học Cổ Truyền

Cây sâm cau hay còn gọi cồ nốc lan, ngải cau, nam sáng ton, soọng ca, thài léng, tiên mao (danh pháp khoa học: Curculigo orchioides) là một loài thực vật có hoa trong họ Hypoxidaceae.

Loài này được Gaertn. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1788. Nó là loài bản địa Trung Quốc, Nhật Bản, tiểu lục địa Ấn Độ, Papuasia, Micronesia, bán đảo Đông Dương.

Đặc điểm nhận dạng cây sâm cau đỏ

Mô tả: Cây thảo, lá hẹp, cao 20 – 30cm, lá mọc tụ họp thành túm từ thân rễ, xếp nếp như lá cau, hình mũi mác hẹp. Phần thân rễ chính dạng củ, cắm sâu xuống đất.

Ở dạng nguyên củ, sâm cau thường chia đốt rõ ràng, vỏ màu nâu đen, thân chỉ có 1 rễ chính, không phân nhánh, có các rễ con to bám quanh thân dễ chính. Thân rễ hình trụ dài, mọc thẳng, thót lại ở hai đầu, mang nhiều rễ phụ có dạng giống thân rễ.

Lá mọc tụ họp lại thành túm từ thân rễ, xếp nếp như lá cau hình mũi mác hẹp, dài 20-30cm, rộng 2,5-3cm gốc thuôn, đầu nhọn, hai mặt nhẵn gần như cùng màu, gân song song rất rõ; bẹ lá to và dài; cuống lá dài khoảng 10 cm.

Cụm hoa mọc trên một cán ngắn ở kẽ lá, mang 3 – 5 hoa màu vàng, lá bắc hình trái xoan, đài 3 răng có lông; tràng 3 cánh nhẵn; nhị 6, xếp thành hai dãy, chỉ nhị ngắn; bầu hình thoi, có lông rậm. Quả nang, thuôn, dài 1,2 – 1,5 cm. Hạt 1 – 4, phình ở đầu.

Phân bố: Sâm cau là loại cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên những nơi đất còn tương đối màu mỡ trong thung lũng, chân núi đá vôi hoặc ven nương rẫy.

Cây sinh trưởng tốt trong mùa mưa ẩm, phần thân rễ chính dạng củ, cắm sâu xuống đất, hoa quả hàng năm, khi già tự mở để hạt phát tán ra xung quanh.

Sâm cau phân bố ở một số tỉnh phía nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam và một vài nước khác ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây phân bố rải rác ở các tỉnh vùng núi, từ Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng, tuy nhiên, trước những năm 1980, Sơn La và Hòa Bình khai thác quá mức, đến nay đã khan hiếm.

Rễ cây Sâm cau có chất Curculigin A giúp kích thích ham muốn tình dục mạnh, tăng tần suất, thời gian quan hệ, tăng sinh tinh gần 2 lần.

Thân và rẽ của cây Sâm Cau có chứa nhiều Curculigin A nhất, là dược liệu tăng cường bản lĩnh phái mạnh gấp 1,5 lần so với các dược liệu có tác dụng tương tự, được ví như là “Viagra” tự nhiên tốt nhất cho nam giới.

Ngoài ra, thân và rễ Sâm Cau có nhóm chất cycloartan triterpen saponin làm tăng khả năng sản xuất nội tiết tố nam testosterone, chống co thắt, làm thư giãn cơ, tăng cường hoạt động của tế bào Leydig của tinh hoàn – nơi sản xuất ra testosterone trong cơ thể làm tăng nồng độ testosterone một cách tự nhiên đồng thời cũng giúp chống lại những bất thường về tinh trùng như: tinh trùng yếu, chưa hoàn thiện hoặc kém chuyển động…

Để sử dụng Sâm cau đạt hiệu quả cao nhất, việc kết hợp với các dược liệu có tác dụng tương tự sẽ mang lại công năng vượt trội, trong đó phải kể đến Nhung hươu Bắc cực.

Sâm Cau cường tinh tráng thận, còn Nhung hươu ích huyết, sinh tủy. Cho nên khi cặp đôi này phối hợp với nhau sẽ đem lại tác dụng “kép” vượt trội: giúp da dẻ hồng hào, khí huyết đầy đủ, cơ thể cường tráng và sinh lý mạnh mẽ trở lại.

Sâm cau còn được gọi là mao tiên, là một thảo dược vô cùng quý hiếm. Dược liệu này đã được nhiều nền y học cổ truyền trên thế giới ưa dùng với tác dụng bồi bổ sức khỏe và tăng cường sinh lý nam giới.

Tại Nepal, Ấn Độ: Sâm cau là dược liệu được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc y học Hindu Ayurveda suốt hàng nghìn năm qua như là một loại thuốc chống lão hóa, chống suy giảm trí nhớ, làm tăng tuổi thọ.

Tại Việt Nam, Trung Quốc: Sâm cau được dùng để điều trị các trường hợp suy nhược cơ thể, đau lưng, viêm khớp, lạnh chân tay, chữa liệt dương, yếu sinh lý, tinh trùng yếu, vô sinh ở đàn ông bằng các bài thuốc tán bột hoặc rượu ngâm từ rễ của loài cây này.

Chính vì thế, dân gian tương truyền sâm cau là cây gây bệnh “nhớ vợ”. Các chiến sĩ, cán bộ công tác vùng biên giới, được bà con mời uống rượu Sâm cau đều đòi về quê thăm vợ.

Năm 2008: các nhà khoa học Đại học Dr. Hari Singh Gour (Ấn Độ) đã chỉ ra rằng hoạt chất Curculigin A giúp kích thích ham muốn tình dục mạnh, tăng hưng phấn, tăng tần suất, tăng thời gian quan hệ, tăng sinh tinh tới 150%.

Năm 2014: một nghiên cứu của nhóm tác giả Sahoo HB, Nandy S, Senapati AK, Sarangi SP, Sahoo SK (Ấn Độ) đăng trên tạp chí Y khoa Hoa Kỳ thử nghiệm công thức thuốc thảo dược mà Sâm cau là thành phần chính.

Kết quả thử nghiệm cho thấy có sự gia tăng đáng kể hành vi tình dục, số lượng tinh trùng, tần suất quan hệ và nồng độ testosterone trong huyết thanh. Công thức này đã mở ra một liệu pháp chữa trị các chứng rối loạn tình dục thay thế các liệu pháp thuốc tân dược.

Để làm rõ hơn tác dụng tăng testosterone của Sâm cau, các nhà khoa học Ấn Độ tiến hành thử nghiệm lâm sàng: dùng Sâm cau để điều trị cho 50 cặp vợ chồng vô sinh (với nguyên nhân là do người chồng ít tinh trùng, chất lượng tinh trùng kém, sinh lý yếu).

Kết quả sau 1 tháng sử dụng, đời sống tình dục của các cặp đôi này đều được cải thiện đáng kể về tần suất và thời gian quan hệ.

Sau 2 tháng, chất lượng tinh trùng được tăng lên rõ rệt, tinh trùng khỏe, số lượng tinh trùng đạt tới 90% so với người bình thường. Đặc biệt, sau 3 tháng, đã có 15 cặp vợ chồng trong số 50 cặp trên có con sau thời gian dài vô sinh.

Không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam, nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về Sâm cau cũng đã làm sáng tỏ công dụng tăng cường sinh lý nam của dược liệu này. Đề tài “Nghiên cứu các saponin triterpenoid có hoạt tính sinh học của một số cây thuốc Việt Nam” của TS.

Bùi Thị Minh Giang (Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, ĐH Bách khoa Hà Nội) năm 2006 đã khẳng định, cao cồn thân rễ Sâm có hoạt tính sinh dục nam mạnh nhất, cao hơn 1,5 lần so với các dược liệu có tác dụng tương tự, là “Viagra” tự nhiên tốt nhất cho nam giới.

Bên cạnh đó, Sâm cau còn được chứng minh giúp tăng cường hoạt động của tế bào Leydig của tinh hoàn – nơi sản xuất tới 95% lượng testosterone trong cơ thể. Đồng thời cũng giúp chống lại những bất thường về tinh trùng như: tinh trùng yếu, chưa hoàn thiện, kém chuyển động…

Ngoài ra, hàng loạt các nghiên cứu còn cho thấy: Rễ sâm cau chứa hoạt chất Curculigoside, là một chất chống oxy hóa mạnh, giúp loại bỏ gốc tự do, làm chậm quá trình lão hóa, thúc đẩy hình thành và tái tạo tế bào xương, tăng cường khả năng chịu đựng của cơ thể, tăng cường hoạt động của tim, làm giãn mạch vành…

Từ những nghiên cứu trên có thể thấy Sâm cau là thảo dược hiếm hoi trên thế giới vừa bồi bổ sức khỏe toàn diện, vừa tăng cường chức năng sinh lý một cách mạnh mẽ và bền vững, là thảo dược cần thiết cho đấng mày râu.

Các loại sâm cau tự nhiên

Sâm cau có làm 2 loại: Sâm cau đỏ và sâm cau đen. Một số người bán giải thích, sâm cau đỏ có màu hồng gần giống màu khoai lang tím.

Theo họ, sâm cau đen có hình dáng gần giống cây cau, có màu đen. Nhiều thương lái cũng cho biết, sâm cau đỏ tốt hơn nhiều và được dùng phổ biến hơn hẳn so với sâm cau đen.

Tuy nhiên, những người trong ngành Đông y cho biết, sâm cau chỉ có một loại duy nhất. Đó là sâm cau đen. Sâm cau đỏ thực chất là rễ bồng bồng mà các gian thương tự đặt nhằm qua mắt người chưa từng biết hình ảnh sâm cau. Do đó, người tiêu dùng cần hết sức cảnh giác.

Trong khi sâm cau đen có nhiều tác dụng khác nhau như tăng cường sinh lý, tốt cho xương, chữa cao huyết áp… Còn sâm cau đỏ (rễ bồng bồng) chỉ có công dụng lợi tiểu. Thậm chí, sâm cau đỏ còn có tác hại nếu không làm sạch vỏ.

Bên cạnh đó, loài cây này rất quý và hiếm, trong khi lượng cầu trên thị trường lại rất cao. Vì vậy, có rất nhiều địa phương trồng sâm cau để bán. Tiên mao nhân tạo cũng tốt cho sức khoẻ, nhưng hàm lượng dược chất không thể cao như tiên mao rừng.

Sâm cau đen có hình dáng thấp hơn, củ màu đen có công dụng hiệu quả trong điều trị phong tấp, tăng cường chức năng sinh lý nam, điều trị liệt dương, suy nhược thầm kinh…

Sâm cau đỏ cũng có hiệu quả chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, hỗ trợ điều trị bệnh xương khớp, xuất tinh sớm, liệt dương…

Hiện nay, cây sâm cau thường được trồng khá nhiều. Sâm cau mang lại giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, sâm cau trồng sẽ không tích luỹ nhiều dinh dưỡng như sâu cau trong rừng. Một số khác biệt giữa hai loại sâm cau này:

Sâm cau trồng có tán lá rộng hơn, màu không xanh bằng;

Củ sâm cau trồng to hơn so với sâm cau rừng;

Kích thước các củ sâm cau trồng thường rất đều nhau.

Kích thước các củ sâm cau rừng không đồng đều;

Trong 2 loại trên thì sâm cau đỏ là loại được nhiều anh em tin dùng bởi: Hiệu quả của sâm cau đỏ với sinh lý nam rất cao, vị rượu sâm cau đỏ lại thơm ngon khiến anh em rất thích. Nguồn sâm cau hiện nay được thu hái từ thiên nhiên nên rất sạch và an toàn tuyệt đối khi sử dụng.

Tuy nhiên, sâm cau không nên dùng với liều lượng lớn vì chúng có tác dụng cường dương mạnh sẽ khiến hao tổn tinh lực. Một số đối tượng như âm hư hỏa vượng, cơ thể gầy yếu, sốt nhẹ về chiều, táo bón, nước tiểu vàng đỏ… không nên dùng loại dược liệu này.

Có thể nói, 2 loại sâm trên đều là những vị thuốc có công dụng tăng cường sinh lý và điều trị chứng xuất tinh sớm rất tốt, mỗi loại đều có những ưu và nhược điểm riêng.

Nếu bạn thích loại sâm vừa tốt cho sức khỏe, uống lại thơm ngon thì sâm cau đỏ là lựa chọn tốt nhất. Nếu bạn không coi trọng mùi vị mà quan trong là tác dụng thì lựa chọn sâm cau đen cũng là một lựa chọn không tồi..

Cách phân biệt Sâm cau với rễ cây bồng bồng

Tuy nhiên, chính bởi những tác dụng tuyệt vời từ Sâm cau, dược liệu này được không ít người săn lùng. Đáp ứng nhu cầu, thị trường xuất hiện nhiều nguồn cung cấp dược liệu quý này.

Rễ cây Bồng bồng có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt, giải độc, hoàn toàn không có tác dụng sinh lý. Việc sử dụng nhầm dược liệu vừa không có tác dụng cải thiện sinh lý nam mà còn có thể gặp nhiều tác hại vì toàn cây bồng bồng bỏ rễ có độc, dùng phải thận trọng.

Với những công dụng tuyệt vời như vậy nên hiện nay Sâm cau được nhiều quý ông săn đón, tìm mua về sử dụng, nhất là Sâm cau ở Tây Bắc Việt Nam. Bởi Sâm cau vùng này có nồng độ Curculosid trong dịch chiết cao gấp 4 lần Sâm cau khác trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, không nhiều người biết rõ hình thái của Sâm cau để mua được đúng dược liệu. Trong khi đó, loại Sâm cau đang bán phổ biến trên mạng (các website,fanpage,…) hay ở các khu du lịch, các chợ dược liệu lại là rễ của một số loài cây thuộc họ Huyết giác (Dracaenaceae), phổ biến nhất là rễ loài Bồng bồng.

Sâm cau lá hẹp có tên khoa học là Curculigo orchioides Gaertn, là cây thảo, cao 20 – 30cm, lá mọc tụ họp thành túm từ thân rễ, xếp nếp như lá cau, hình mũi mác hẹp. Phần thân rễ chính dạng củ, cắm sâu xuống đất.

Sâm cau đã được chứng minh tác dụng vượt trội trên sinh lý nam giới từ các tài liệu cổ cho đến chứng minh của y học hiện đại.

Trong khi đó, cây bồng bồng có tên khoa học Dracaena angustifolia Roxb, là cây nhỏ, cao 1 – 2m. Rễ củ phân nhánh nhiều, màu hồng.

Rễ bồng bồng giúp nhuận tràng, lợi tiểu, chữa lỵ, bạch đới chứ hoàn toàn không có tác dụng trên sinh lý. Ngoài ra, các nghiên cứu ở Ấn Độ đã chỉ ra rằng: toàn cây bồng bồng bỏ rễ có độc, dùng phải thận trọng.

Để phân biệt cây bồng bồng với sâm cau, theo chúng tôi Phạm Hưng Củng, Sâm cau lá hẹp có tên khoa học là Curculigo orchioides Gaertn, là cây thảo, cao 20 – 30cm, lá mọc tụ họp thành túm từ thân rễ, xếp nếp như lá cau, hình mũi mác hẹp.

Phần thân rễ chính dạng củ, cắm sâu xuống đất. Ở rạng nguyên củ, sâm cau thường chia đốt rõ ràng, vỏ màu nâu đen, thân chỉ có 1 rễ chính, không phân nhánh, có các dễ con to bán quanh thân dễ chính.

Sâm cau chỉ có một loại duy nhất là sâm cau đen. Sâm cau đỏ thực chất là rễ bồng bồng, chỉ có tác dụng lợi tiểu, không giúp tăng cường sinh lý. Thậm chí, vỏ sâm cau đỏ còn có độc tố. Nếu sâm cau đỏ không được làm sạch vỏ có thể gây ngộ độc.

Màu sắc: Sâm cau có màu nâu đen. Sâu cau đỏ (bồng bồng) có màu hồng, đỏ cam.

Kích thước: Sâm cau dài từ 15 – 20. Bồng bồng dài 20 – 30cm.

Hình dạng: Bề mặt sâm cau có nhiều dễ li ti. Bề mặt bồng bồng mịn như khoai lang.

Sâm cau có nhiều đốt, khoảng 10 – 20cm mỗi đốt. Sâm cau đỏ không có đốt.

Ngoài ra, cây bồng bồng có nhiều lá, mọc chia thành nhiều nhánh.

Cây sâm cau không có cành, lá mọc sát với đất.

Lá cây bồng bồng có màu tím, lá cây sâm cau có màu vàng.

Sâm cau với những công dụng tuyệt vời cho sức khỏe và sinh lý nam. Tuy vậy, cần tỉnh táo lựa chọn để dùng được đúng loại Sâm cau. Tốt nhất nên tìm mua Sâm cau tại những đơn vị uy tín, có kiểm định rõ ràng.

Tuyệt đối không nên mua dược liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc từ những thông tin không chính thống trên mạng, tránh gặp phải tình trạng “tiền mất tật mang” với nhiều hệ lụy cho sức khỏe.

Trong khi đó, cây Bồng bồng có tên khoa học là Dracaena angustifolia, thuộc họ Huyết giác (Dracaenaceae), là cây nhỏ, cao 1 – 2m. Rễ củ phân nhánh nhiều, màu hồng.

Ở dạng nguyên củ, sâm cau thường chia đốt rõ ràng, vỏ màu nâu đen, thân chỉ có 1 rễ chính, không phân nhánh, có các rễ con bám quanh thân rễ chính.

Ý kiến chuyên gia về cây sâm cau

– PGS. TS. Nguyễn Thượng Dong – Nguyên viện trưởng viện dược liệu Trung ương

“Sâm cau là một trong những dược liệu vàng hỗ trợ việc tăng cường sức mạnh sinh lý nam.Trong thân và rễ Sâm Cau có nhóm chất cycloartan triterpen saponin có tác dụng làm tăng khả năng sản xuất nội tiết tố nam testosterone, chống co thắt, làm thư giãn cơ và giảm ức chế thần kinh.

Ngoài ra, Sâm cau còn chứa chất curculosid có tác dụng chống ngưng tập beta-amyloid, qua đó bảo vệ tế bào thần kinh, làm dịu căng thẳng. Curculigosaponin C và F kích thích sản sinh tế bào lympho lách, làm tăng khả năng miễn dịch.”

– ThS. Ngô Đức Phương – Chuyên gia thẩm định dược liệu

“Sâm cau vùng Tây Bắc là dược liệu quý hiếm được các quý ông săn đón, tìm mua với công dụng chữa liệt dương, yếu sinh lý, làm mạnh gân xương… Tuy nhiên không nhiều người biết rõ hình thái Sâm cau để mua đúng dược liệu.

Trong khi đó, loại ” Sâm cau” đang bán phổ biến trên mạng hay các khu du lịch, chợ dược liệu lại là rễ của một số loài Huyết giác (Dracaenaceae), phổ biến nhất là rễ loài Bồng bồng (Dracaena angustifolia).

Rễ cây này thực chất không hề có tác dụng tăng cường sinh lý, thậm chí còn có thể gây tác hại vì toàn cây Bồng bồng bỏ rễ có độc.

Chính bởi vậy, để sử dụng Sâm cau đạt hiệu quả như mong muốn, các quý nên tìm những đơn vị uy tín, có xuất xứ nguồn gốc nguyên liệu rõ ràng để đảm bảo dùng đúng dược liệu.

Sâm cau đỏ chữa bệnh gì, công dụng ra sao

Sâm cau đỏ chữa bệnh gì theo y học cổ truyền? Theo Đông y, sâm cau đỏ là vị thuốc có vị cay, tính ấm. Đây cũng là một trong những dược liệu trong thành phần có chứa độc tố nhẹ. Vì vậy người dùng không nên tùy tiện sử dụng sâm cau đỏ chữa bệnh.

– Sâm cau đỏ chữa vô sinh, giúp bổ thận, tráng dương

Vô sinh, yếu sinh lý, không có ham muốn tình dục… là một trong những chứng bệnh phổ biến và đáng sợ ở nam giới hiện nay.

Những căn bệnh này làm mất đi bản lĩnh đàn ông, khiến hạnh phúc của nhiều gia đình tan vỡ. Vậy sâm cau đỏ chữa bệnh gì và có tác dụng chữa yếu sinh lý, vô sinh hay không?

Theo y học cổ truyền, sâm cau đỏ tác dụng tới kinh thận, can. Khi thận yếu sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, đặc biệt là sinh lý, giảm khả năng tình dục. Vì vậy, sử dụng sâm cau đỏ có tác dụng bổ thận, hỗ trợ điều trị nhiều căn bệnh do thận hư gây ra.

– Tác dụng chữa vô sinh của sâm cau rừng

Một thí nghiệm về sâm cau rừng được thực hiện trên con chuột cống đã chứng minh tác dụng tăng cường sinh lý của loại dược liệu này.

Thí nghiệm được tiến hành như sau:

Chiết suất sâm cau rừng thu được cồn thuốc.

Cắt 2 tinh hoàn của con chuột cống.

Tiêm cồn thuốc với liều lượng 10g/kg lên con chuột cống.

Kết quả: Trọng lượng túi tinh của con chuột cống đã tăng lên rõ ràng.

Theo nghiên cứu, bệnh vô sinh nam giới chủ yếu do thận suy, tinh lạnh, tinh trùng trong tinh dịch ít. Vì vậy, sử dụng sâm cau đỏ sẽ có tác dụng tăng số lượng tinh trùng trong tinh dịch.

Đặc biệt các dược chất trong sâm cau còn giúp chống lại những bất thường ở tinh trùng nam giới như tinh trùng kém chuyển động, tinh trùng yếu… Từ đó, uống sâm cau hỗ trợ điều trị vô sinh, hiếm muộn.

– Sâm cau có tác dụng tăng cường sinh lý, bổ thận

Sâm cau đỏ chữa bệnh gì có tốt cho người yếu sinh lý không? Theo PGS. TS. Nguyễn Thượng Dong (Nguyên viện trưởng viện dược liệu Trung ương), sâm cau là một trong những dược liệu có tác dụng trong tăng cường sinh lý nam. Rễ và thân sâm cau chứa nhóm chất Cycloartan Triterpen Saponin. Chúng có tác dụng:

Làm thư giãn cơ, chống co thắt, tăng cường hoạt động tế bào Leydig thuộc tinh hoàn.

Làm tăng nồng độ Testosterone nam giới.

Chất Curculigin A có trong sâm cau có tác dụng kích thích ham muốn tình dục ở nam giới, từ đó tăng thời gian, tần suất quan hệ.

Vì vậy, sử dụng sâm cau ngâm rượu giúp nam giới có được cuộc sống vợ chồng viên mãn và sung sức hơn. Uống rượu sâm cau chính là một trong những bí quyết phòng the giúp kéo dài thời gian mà nhiều cặp đôi áp dụng.

– Sâm cau giảm ức chế, căng thẳng thần kinh

Cũng theo PGS. TS Nguyễn Thượng Dong, trong sâm cau chứa chất curculosid, chúng có tác dụng:

Giảm ức chế thần kinh, làm dịu căng thẳng.

Chống ngưng tập Beta-amyloid, từ đó tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh.

Ngoài ra, chất Curculigosaponin C và F có khả năng kích thích cơ thể sản sinh ra tế bào Lympho lách, từ đó tăng khả năng miễn dịch.

– Chữa tiểu tiện không kiểm soát với sâm cau đỏ

Sâm cau đỏ chữa bệnh gì là vấn đề nhiều người cao tuổi quan tâm. Bởi họ thường mắc chứng tiểu tiện không kiểm soát hoặc bí tiểu.

Nguyên nhân là do cơ chế ức chế của não khiến phản xạ ở bàng quang suy giảm. Tuyến tiền liệt xuất hiện phì đại với các u lành.

Điều này khiến người cao tuổi không kiểm soát được hành vi tiểu tiện. Chứng tiểu tiện không tự chủ gây ra nhiều phiền toái trong cuộc sống người cao tuổi.

Người cao tuổi nên sử dụng sâm cau đỏ để điều trị bởi chúng có tác dụng kiểm soát phản xạ bàng quang, lợi tiểu, chữa tiểu són, tiểu đêm không tự chủ.

– Sâm cau rừng chữa trị bệnh ngoài da

Cây sâm cau đỏ mọc nhiều ở vùng Ấn Độ, Thái Lan… và khu vực miền Bắc Việt Nam. Ở Ấn Độ coi sâm cau như một vị thuốc bổ và dùng sâm cau điều trị một số căn bệnh ngoài da như vàng da, ung nhot, ghẻ lở.

Người dân Ấn Độ chỉ cần giã nát sâm cau đã được sơ chế, sau đó đắp lên vết lở loét là sẽ khỏi.

– Sâm cau đỏ chữa các bệnh khác

Bên cạnh tác dụng chữa các bệnh kể trên, sâm cau được dùng trong nhiều bài thuốc Đông y khác nhau để điều trị:

Bệnh tiêu chảy;

Bệnh hen suyễn;

Bệnh cao huyết áp;

Chứng tê thấp, đau nhức toàn thân..

Tác dụng phụ của sâm cau đỏ

Sâm cau đỏ chữa bệnh gì? Bên cạnh tác dụng chữa bệnh thì sâm cau rừng có tác dụng phụ không? Đây là một loại dược liệu có độc nhẹ nên chắc chắn sẽ gây tác dụng phụ nếu sử dụng sai cách.

Một số thí nghiệm trong Đông y cũng đã chỉ ra tác dụng phụ của loại dược liệu này. Thí nghiệm trên con chuột nhắt với 15g/kg rượu sâm cau rừng. Con chuột nhắt uống liên tục trong 7 ngày thì chết.

Do đó, khi sử dụng quá nhiều sâm cau sẽ dẫn đến ngộ độc với các triệu chứng như:

Lưỡi sưng lớn, có cảm giác đau đớn.

Bị táo bón liên tục, lâu dài không khỏi.

Bí tiểu tiện.

Cách làm giảm độc tố của sâm cau đỏ

Để làm giảm độc tố có trong củ sâm cau và phát huy được các dược chất tốt thì trước khi dùng sâm cau chữa bệnh, người dùng cần phải:

– Ngâm cả củ sâm cau đỏ với nước sạch hoặc nước vo gạo. Ngâm liên tục trong nhiều giờ, mỗi giờ thay nước 2 -3 lần. Công đoạn này sẽ giúp lấy bớt nhựa của sâm cau.

– Khi thấy nước ngâm sâm cau đã trong thì vớt sâm cau ra để ráo. Lúc này có thể sấy hoặc phơi khô sâm cau để bảo quản và sử dụng lâu dài.

– Một cách khử độc của sâm cau trong dân gian chính là “cửu chưng cửu sái”. Nghĩa là hấp và phơi sâm cau 9 lần để khử chất độc. Sau khi thực hiện thì vùi vào trong đường cát để bảo quản.

Sâm cau đen (tiên mao) vị thuốc nam điều trị liệt dương nổi tiếng được dân gian ca ngợi, sử dụng cách đây hàng trăm năm. Các cuốn sách cổ đều có ghi chép về công dụng của tiên mao.

Tuy nhiên rất ít người biết và sử dụng. Ở bài viết này xin giới thiệu tới quý vị và các bạn về công dụng, cách dùng sâm cau đen.

✅ Bất Ngờ Với Những Lợi Ích Khi Uống Trà Thảo Mộc Mỗi Ngày ? +5 Mẹo Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền

Uống trà mỗi ngày không những giúp bạn nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tăng cường sinh lực mà còn phòng chống bệnh tật.

PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, Đại học Bách khoa Hà Nội, khẳng định trong các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên chỉ có trà là thức uống tự nhiên và tốt nhất. Con người biết đến cây chè không phải là đồ uống như ngày nay mà là một loại dược liệu quý.

Chuyên gia nghiên cứu về trà nhiều năm cho hay: “Người Trung Hoa cổ đại là một trong số dân tộc đầu tiên biết đến cây chè với tư cách là dược liệu. Họ hái lá chè, dùng ở trạng thái tươi, còn thừa, phơi khô dùng dần, hàng ngày nấu nước uống, thậm chí nấu nước để tắm, cảm thấy khỏe mạnh, da trơn nhẵn, không còn mụn nhọt. Từ đó, mọi người làm theo và truyền nhau từ đời này sang đời khác, dần dần lá chè trở thành đồ uống”.

PGS Thịnh khuyên người dân nên uống trà hàng ngày, nhất là vào buổi sáng sẽ rất có lợi cho sức khỏe.

Theo PGS Thịnh, ngày nay, các nhà khoa học đã vào cuộc và đã làm sáng tỏ nhiều điều kỳ diệu của lá chè cũng như việc uống trà.

Lá chè tươi có rất nhiều vitamin, đặc biệt nhiều vitamin C, có khả năng chống viêm nhiễm rất tốt. Polyphenol là chất gây ra vị chát đặc trưng của trà có tác dụng chống oxy hóa, kháng khuẩn rất hiệu quả mà không gây độc hại. Đặc biệt người ta tìm thấy trong lá chè có nhiều Epi Gallo Catechin Galat (viết tắt là EGCG) là chất có khả năng chống oxy hóa rất mạnh.

Như vậy uống nước trà thường xuyên giúp cơ thể loại bỏ các gốc tự do. Đây là nguyên nhân khiến con người mắc bệnh và nhanh già.

“Lá chè còn có 2 chất là teobromin và teophylin, giúp cơ thể bài tiết nhanh các chất độc hại trong đó có caffein. Những người bị say nắng nên uống vài cốc nước trà loãng, pha một chút đường và muối để nhanh tỉnh táo”, PGS Thịnh chia sẻ thêm.

Tuy nhiên, lợi ích của trà chỉ có tác dụng nếu cây chè được trồng, chăm sóc và thu hoạch đúng chuẩn từ khâu dùng hóa chất diệt sâu bệnh, thu hái, bón phân. Do đó, các mô hình trồng chè cần đảm bảo tiêu chí vệ sinh, an toàn, chất lượng, để cung cấp nguồn thực phẩm sạch cho người tiêu dùng.

Khi chúng ta ăn, cơ thể phải chuyển đổi thức ăn thành năng lượng. Kết quả là quá trình này sản sinh ra các phụ phẩm gọi là gốc tự do. Những chất hóa học này khá độc hại và có thể gây tổn thương cho cơ thể thông qua quá trình gọi là oxy hóa. Về mặt lí thuyết, các gốc tự do này chính là tác nhân gây lão hóa.

Nhưng đừng lo, chúng ta có thể chống lại các gốc tự do này bằng cách hấp thụ các chất chống oxy hóa và có một cách đơn giản đó là uống trà mỗi ngày.

Trong những thí nghiệm lâm sàng được công bố bởi Hiệp hội dinh dưỡng Mỹ, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng việc uống trà mỗi ngày có thể mang đến những tác dụng tích cực cho sức khỏe. Những giả thuyết đó đến từ việc trà xanh chứa hàm lượng cao các chất flavonoid, chất chống oxy hóa có khả năng dọn dẹp bọn gốc tự do tai hại kia.

Trà được chứng minh là kích hoạt enzym giải độc bên trong cơ thể ngăn ngừa sự phát triển của khối u, và có sự liên hệ giữa việc phòng chống ung thư với việc uống trà.

Theo một nghiên cứu đang được thực hiện trên phụ nữ bị ung thư vú đã cho thấy hoạt chất polyphenol trong trà xanh có thể làm giảm các loại protein gây sự tăng trưởng tế bào khối u.

Nghiên cứu sử dụng những tình nguyện viên nam khỏe mạnh, đưa cho họ một loại thức uống có chiết xuất trà và nhận thấy không những kết nối giữa các bộ phận trong não được tăng lên mà còn cải thiện hiệu suất khi làm các bài kiểm tra trí nhớ.

Tôi có một người bạn dùng thường xuyên l-theanine, một loại amino axit hầu như chỉ tìm thấy trong trà. Anh ta mắc chứng lo âu mãn tính nhẹ dẫn đến nhiều tình huống nổi nóng. Tôi thì không muốn thử những tình huống chút đó chút nào. Tôi chỉ muốn nói rằng trà xanh có l-theanine và l-theanine có thể giúp bạn thư giãn và giảm lo âu.

Một nghiên cứu được công bố trong tạp chí “Xu hướng về Khoa học và Công nghệ thực phẩm” bởi nhóm của tiến sĩ Juneja đã chỉ ra l-theanine hoạt động như một chất dẫn truyền thần kinh làm tăng sóng alpha trong não. Sóng alpha được xem như một dấu hiệu của sự thư giãn. Những tình nguyện viên được bổ sung 50-200mg l-theanine và nhận thấy sóng alpha tăng lên mà không gây buồn ngủ.

Trà tốt cho tim mạch Tôi không phải là bác sĩ nhưng có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trà xanh có thể giúp giảm nguy cơ bị bệnh tim.

Theo Havard Heart Letter, người Nhật Bản uống năm cốc trà mỗi ngày có tỉ lệ đau tim thấp hơn 26%.

“Trà có tính sinh nhiệt và thúc đẩy quá trình oxy hóa do có chứa cafein”. Đó là điều tiến sĩ Abdul G. Dulloo, tác giả của một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Dinh Dưỡng Lâm Sàn Hoa Kì nói với WebMD.

Sinh nhiệt là hiện tượng đốt cháy năng lượng trong cơ thể khi đang ăn uống, chắc bạn có thấy những lúc có người ăn xong toát hết cả mồ hôi.

Cà phê giúp đốt cháy chất béo và tăng sự trao đổi chất nhưng tác dụng đó của trà xanh còn nhiều hơn.

Một phần khác trong tạp chí “Tiến Bộ Trong Dinh Dưỡng” đề cập một số nghiên cứu đã chứng minh trà xanh có thể cải thiện việc đốt cháy chất béo như thế nào.

Chúng ta đã biết trà có nhiều chất chống oxy hóa, nó tốt cho cả tim mạch, não bộ và chống ung thư, giờ nó còn giúp đốt chất béo dư thừa thì sao chúng ta lại không tích cực uống cơ chứ?

Khi bạn bị bệnh, bác sĩ cho bạn uống kháng sinh. Tất cả chúng ta đều như vậy, nhưng uống kháng sinh được kê đó có phải là phương pháp tốt? Một phương thuốc tự nhiên thì sao? Tôi không nói trà xanh sẽ chữa khỏi khi bạn nhiễm bệnh (có thể là không), nhưng chắc nó cũng chẳng tốn gì mà không thử.

Trà xanh chứa các chất chống oxy hóa khác gọi là catechin. Theo một nghiên cứu được công bố trên tập san “Công Nghệ Thực Phẩm”, các catechin này, đặc biệt là epigallocatechin gallate (EGCG) and epicatechin gallate (ECG), có thể ngăn cản sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn. Những catechin này gắn kết với nhau thành lớp màng bao quanh vi khuẩn. Bằng cách chui vào lớp ngoài của vi khuẩn, EGCG và ECG ngăn vi khuẩn phát huy tác hại gây bệnh.

Tình trạng cholesterol cao khá phổ biến, 73.5 triệu người lớn có nồng độ LDL cholesterol cao điều mà tôi đã đề cập ở bài viết về dầu dừa. Rõ ràng là mọi người đang tìm các giải pháp để giảm lượng cholesterol “xấu”. Trà xanh giúp chúng ta kiểm soát được điều đó.

Đây là một bản tóm tắt nhanh các tác dụng của trà xanh được liệt kê bởi trang besthealthmag.ca:

Hôi miệng – vi khuẩn và vi sinh vật làm hơi thở của chúng ta có mùi, đặc tính chống vi khuẩn của trà xanh sẽ giúp hơi thở của bạn trở lại tự nhiên.

Ung thư miệng – trà xanh không chỉ giúp ngừa ung thư vú và tuyến tiền liệt như đã đề cập ở trên, nó cũng giúp làm chậm sự tiến triển của ung thư miệng.

Mòn răng – một nghiên cứu trên một tạp chí về nha chu học chỉ ra rằng trà xanh có thể giảm đáng kể việc mất men răng.

Nướu – những chất chống oxy hóa của trà xanh có tác dụng chống viêm. Vậy nên chúng có thể giúp trong việc kiểm soát các bệnh về nướu.

Sâu răng – trà xanh ngừa khuẩn như đã đề cập bên trên. Nó giúp giảm lượng vi khuẩn và axit trong miệng.Trà xanh hỗ trợ sức khỏe dạ dày

Theo Medscape đăng vào năm 2012 rằng có 20% người bị viêm loét đại tràng và viêm đường ruột. Và theo bệnh viện Florida, có hơn 40% người Mỹ ợ chua ít nhất 1 lần/1 tháng.

Như đã đề cập, trong Trà chứa nhiều chất chống oxy hóa, trong khi tác nhân chính gây ra lão hóa là sự oxy hóa bởi các gốc tự do. Theo San Francisco Gate, một nghiên cứu từ Đại học Campbell đã phát hiện rằng những người Nhật biết trà đạo có tuổi thọ cao hơn.

Không chỉ vậy, tác dụng chống viêm và đốt chất béo thừa đã đề cập phía trên giúp sức khỏe tốt hơn đồng thời nâng cao tuổi thọ.

Các gốc tự do cũng ảnh hưởng lên làn da của chúng ta, và các chất chống oxy hóa trong trà xanh giúp ức chế các gốc tự do phá vỡ collagen, loại protein trong da giúp chúng ta trông tươi trẻ.

Polyphenol EGCG trong trà có hiệu quả ngăn chặn sự lây lan của virus HIV trong cơ thể người.

Các nhà khoa học Anh và Mỹ đã công bố báo cáo nghiên cứu trên tạp chí “Miễn dịch học Dị ứng và Lâm sàng” chỉ ra rằng polyphenol EGCG trong trà có hiệu quả ngăn chặn sự lây lan của virus trong cơ thể người, khi tiêm chủng mang lại hiệu quả phòng chống nhiễm HIV.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Singapore đã theo dõi trong 12 năm đối với 63.257 người Trung Quốc tại Singapore ở độ tuổi từ 45 đến 75. Nghiên cứu phát hiện tỉ lệ phát triển bệnh Parkinson ở những người trung niên và người già thường xuyên uống trà thấp hơn 71% so với những người không có thói quen uống trà.

Bằng cách nào đó, uống trà giúp cho tâm trạng sảng khoái hơn, các axit amin trong trà có thể thúc đẩy bài tiết dopamine, và dopamine là chất chi phối cảm xúc, niềm vui, ham muốn tình dục, và có tính chất gây nghiện. Tâm trạng phấn chấn sau khi uống trà là nằm ngoài chủ ý và kiểm soát của người uống.

Các tổ chức như Trung tâm Ung thư Quốc gia Nhật Bản, Đại học Case Western Reserve Mỹ, Đại học Curtin Úc đã công bố nghiên cứu “Trà xanh và bệnh ung thư tuyến tiền liệt” cho thấy rằng tỷ lệ bị bệnh của nam giới có thói quen uống trà xanh thấp hơn 60% người không uống trà xanh.

Nếu bạn trằn trọc suốt đêm, thì hãy thử thư giãn với một tách trà trước khi đi ngủ.

Nếu bạn trằn trọc suốt đêm, thì hãy thử thư giãn với một tách trà trước khi đi ngủ. Trà thuốc Đông Á có thể cải thiện chứng mất ngủ. Theo một nghiên cứu trong nghiên cứu y học tích hợp, uống trà có thể giúp cải thiện giấc ngủ và chất lượng cuộc sống ở những người bị mất ngủ nhẹ đến trung bình.

Chất caffein trong trà có thể cải thiện sự chú ý và tỉnh táo. Theanine là một axit amin gần như duy nhất chỉ có trong trà (ngoài nấm Bay bolete). Bạn cũng có thể cải thiện sự chú ý bằng cách thư giãn bộ não, nhưng kích thích nó khi đến lúc tập trung. Nếu bạn cảm thấy khó tập trung hoặc chú ý, hãy thử uống một tách trà ấm ngay trước giờ làm việc hoặc xem xét những lý do khác có thể khiến bạn mất tập trung.

Bạn có sẵn sàng tăng tốc độ chuyển hóa trong khi ngồi tại bàn ăn? Caffein trong trà giúp cải thiện sự nhạy bén cũng như tăng quá trình trao đổi chất và đốt cháy chất béo (lên tới 100 calo mỗi ngày). Chỉ cần chắc chắn rằng bạn không tiêu thụ quá nhiều caffeine. Một tách trà xanh chứa khoảng 40 miligam caffein, và các bác sĩ khuyên nên hạn chế lượng caffeine hàng ngày ở mức không quá 300 đến 400mg.

Uống nhiều trà mỗi ngày có thể khiến bạn có nguy cơ bị chảy máu do vết trầy xước nhỏ hoặc vết sưng. Nó khiến bạn dễ bị bầm tím hơn. Do đó các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân ngừng uống trà từ hai đến ba tuần trước khi phẫu thuật.

Các nghiên cứu rất khác nhau về số tách trà uống mỗi ngày. Bạn muốn nhận được nhiều lợi ích nhất mà không lạm dụng caffeine. Để có được lợi ích sức khỏe tối đa từ trà xanh, hiệu quả nhất là uống từ ba đến năm tách trà xanh mỗi ngày.

Khi chọn một loại trà, hãy chắc chắn rằng nó không có đường. Ngay cả khi một số loại trà hương vị không chứa calo, chúng vẫn có thể có đường nhân tạo và chất bảo quản. Hãy tự pha trà thay vì mua loại trà pha sẵn. Lá trà càng được chế biến kỹ thì catechin càng kém hiệu quả. Trà Thuốc Hay được chế biến ít nhất và có lợi ích sức khỏe lớn nhất trong các loại trà có sẵn.

Trà Thuốc Hay là sản phẩm có nguồn gốc hoàn toàn từ thiên nhiên được tuyển chọn từ những thành phần dược liệu tốt cho cơ thể. Trà Thuốc Hay có tính mát, vị ngọt, hơi đắng và mùi thơm thoang thoảng dễ chịu của Hoa Tam Thất.

Thuốc Hay chúng tôi hiện đang bán Trà Thuốc Hay có nguồn gốc rõ ràng. Chất lượng với giá thành hợp lí nhất thị trường. Chúng tôi cũng cam kết đổi trả hàng hóa kém chất lượng.

Theo Khoa Học.TV

Bệnh Viên Y Học Cổ Truyền Tỉnh Quảng Bình

Một bạn đọc từ địa chỉ thư điện tử tunguyetphung…@yahoo.com có gửi cho tôi một câu hỏi: “Tôi nghe nói hạt đu đủ tía có chất độc A . Xin cho biết công dụng trị bệnh của hạt đu đủ tía. Xin thành thật cám ơn!”.

Hạt đu đủ tía không thấy tên trong quy chế độc bảng A cũng như B của y học cổ truyền.

Tuy nhiên, nói hạt đu đủ tía có một chất độc là điều hoàn toàn đúng. Chất độc đó là ricin – một protein độc có trong hạt đu đủ tía.

Cây đu đủ tía, còn gọi là Thầu dầu, tên chữ Hán là 蓖 麻 ( theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu  đọc là Bế ma hoặc Bề ma, trong khi sách thuốc của cố GS Đỗ Tất Lợi phiên âm là Tỳ ma, TS Võ Văn Chi phiên âm là Bí ma). Tên khoa học là Ricinus communis L., thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiaceae. Cây Thầu dầu cho ta các vị thuốc sau đây:

1. Dầu Thầu dầu – Bế ma du là dầu ép từ hạt cây Thầu dầu, là một chất lỏng sền sệt, trong, không màu hay hơi vàng, mùi vị nhạt và gây buồn nôn.

Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam của TS Võ Văn Chi, dầu Thầu dầu có tác dụng nhuận trường thông tiện, được chỉ định dùng trong bệnh táo bón của trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh nhân mổ và sản phụ. Liều dùng cho người lớn 1-2 thìa, trẻ em ½ thìa. Để tránh buồn nôn có thể hòa lẫn cà-phê (bia hay dịch trái cây) để uống.

Theo tài liệu của GS Đỗ Tất Lợi thì dầu Thầu dầu có tác dụng tẩy nhẹ và chắc chắn. Uống lúc đói với liều 10-30g. Sau khi uống 3-4 giờ sẽ gây đi ngoài nhiều, mà không đau bụng. Với liều 30-50g, đi ngoài sẽ kéo dài 5-6 giờ. Dầu này không gây hiện tượng xót trong ruột, chỉ làm ruột non và ruột già co bóp nhiều hơn mà không ảnh hưởng đến xương chậu nhỏ, do đó rất tốt cho phụ nữ có thai mà bị táo bón.

2. Hạt Thầu dầu – Bế ma tử là hạt phơi khô của cây Thầu dầu. Trong hạt Thầu dầu có một protein rất độc tên là ricin, chiếm tỉ lệ 3-5% trong hạt. Khi ép dầu, thì chất độc này nằm lại trong khô dầu làm cho khô dầu có chất độc không dùng làm thức ăn được. GS, TS Đỗ Tất Lợi đã viết rất chi tiết về chất độc này trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam như sau:

Chất ricin là một chất độc. Với liều 0,002mg đối với 1kg thể trọng đã làm chết một con thỏ. Tác dụng độc của nó giống như vi trùng. Nó có thể gây miễn dịch: cho súc vật ăn với liều nhỏ, nhiều lần, thì sau đó súc vật có thể ăn với liều khá cao mà không chết.

Ricin bị nhiệt độ cao phá hủy, cho nên có nơi có thể cho lợn ăn khô Thầu dầu đã hấp nóng ở 115oC trong một giờ rưỡi. Và có thể do đó một vài nơi ở ta ăn hạt thầu dầu xào nấu mà không thấy hiện tượng ngộ độc.

Nếu không bị phá hủy, độ độc của nó rất cao: 3g khô dầu đủ giết chết một con bò non nặng 100kg; chỉ cần tiêm 0,03mg cho một 1kg thể trọng chó là đủ giết chết chó. Liều độc đối với một con chuột bạch nặng 500g là 6 phần triệu gam, tức là đối với chuột bạch, ricin độc gấp 7 lần chất aconitin là chất độc vào loại độc nhất có trong Ô đầu (Aconitum).

Liều độc với người là 3mg tiêm dưới da, 180mg uống; 1 hạt đủ gây nôn mửa, 3-4 hạt đủ làm trẻ con chết, 14-15 hạt làm chết người lớn. Tiêm chất ricin đã đun lâu có thể gây miễn độc. Thanh huyết miễn độc, antiricin để lâu có thể giảm bớt hiệu lực.

Cơ chế tác dụng của ricin là làm vón hồng cầu và bạch cầu.

Do có độc như vậy nên trong Đông y không dùng hạt Thầu dầu làm thuốc uống trong, mà chỉ làm thuốc đắp ngoài. Xin giới thiệu một số đơn thuốc dân gian có ghi trong Từ điển cây thuốc Việt Nam của TS Võ Văn Chi:

1- Sa tử cung và trực tràng: Dùng hạt Thầu dầu giã ra đắp lên đầu.

2- Đẻ khó, sót nhau: Dùng hạt Thầu dầu (độ 14 hạt) giã nát đắp vào lòng bàn chân, khi đẻ xong hay nhau đã ra thì bỏ thuốc ngay và rửa sạch.

3- Liệt thần kinh mặt: Giã hạt Thầu dầu và đắp vào phía đối diện.

Ngoài hạt, sách đã dẫn còn biết lá Thầu dầu còn được dùng trị viêm mủ da, eczema, mẩn ngứa, ung nhọt, viêm tuyến vú, viêm đau khớp, diệt giòi, giết bọ gậy và rễ Thầu dầu dùng chữa phong thấp đau nhức khớp, đòn ngã sưng đau, sài uốn ván, động kinh, tinh thần phân liệt. Lá và rễ thường dùng với liều 30-60g. Dùng ngoài lấy lá giã đắp.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bất Ngờ Với Công Dụng Chữa Bệnh Của Quả La Hán Trong Y Học Cổ Truyền trên website Comforttinhdauthom.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!